Ngôn ngữ cử chỉ trong tiểu thuyết Anh em nhà Caramozov của Dostoevski - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

SA THỊ HẰNG NGA NGÔN NGỮ CỬ CHỈ
TRONG TIỂU THUYẾT ANH EM NHÀ CARAMAZOV
CỦA DOSTOEVSKI

NGÔN NGỮ CỬ CHỈ
TRONG TIỂU THUYẾT ANH EM NHÀ CARAMAZOV
CỦA DOSTOEVSKI Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài
Mã số: 60220245

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ Hà Nội-2012 3

LỜI CAM ĐOAN


cứu.
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ quý báu đó.

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2012

Người viết luận văn
Sa Thị Hằng Nga

5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 12
5. Cấu trúc luận văn 12
Chương 1: NGÔN NGỮ CỬ CHỈ VÀ CÁC TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP 13
1.1. Đối thoại trực tiếp – trường hợp Ivan và Xmerdiacov 14
1.2. Giao tiếp đặc biệt 20

F.M.Dostoevski (1821-1881) là nhà văn Nga vĩ đại sinh ra và lớn lên
trong bối cảnh xã hội rối ren, phức tạp của thời kì chế độ phong kiến nông nô
suy yếu, giai cấp tư sản phát triển như vũ bão, thời đại chuyển giao ý thức hệ
và mâu thuẫn nảy lửa giữa những luồng tư tưởng của xã hội Nga thế kỉ XIX.
Dostoevski không những sống trong sự vật lộn với những khốn khó vật chất
mà còn luôn trăn trở với vấn đề tư tưởng, con người. Sự trăn trở đó đã được
phản ánh trong những trang viết của ông từ những tác phẩm đầu tay mang
màu sắc lãng mạn cho đến những kiệt tác đạt đến âm hưởng hiện thực sâu sắc
mà ông gọi là “hiện thực theo nghĩa cao cả nhất” vì nó “lột tả mọi bề sâu của
tâm hồn con người”. Tác phẩm của ông ngoài những tiểu thuyết đồ sộ như
Tội ác và trừng phạt (1866), Gã khờ (1868), Lũ người quỷ ám (1871), Vị
thành niên (1874), Anh em nhà Caramazov (1878– 1880) còn có những
truyện ngắn, truyện vừa Những người cơ cực (1846), Những đêm trắng
(1848), Những kẻ tủi nhục (1861), Bút kí dưới hầm (1864), phóng sự Ghi
chép mùa đông về những cảm tưởng mùa hè (1863)…
Anh em nhà Caramazov là tác phẩm cuối cùng của đại thi hào
Dostoevski và cũng là kiệt tác của nền văn học thế giới. Tác phẩm này chứa
đựng rất nhiều vấn đề đã được các nhà phê bình “mổ xẻ” kể từ khi nó chào
đời đến nay. Thế giới nhân vật trong Anh em nhà Caramazov là một thế giới
2

giằng xé và đấu tranh gay gắt giữa đầy rẫy những đối cực, mâu thuẫn, xung
đột tự trong bản thân mỗi cá nhân và giữa các cá nhân. Những tư tưởng,
những khổ đau, sự tự ý thức nhọc nhằn của nhân vật (chân dung tinh thần)
nhiều khi làm mờ đi chân dung bên ngoài của nhân vật trong tác phẩm của
ông, nhưng dù thế nào, nó vẫn tồn tại trong cấu trúc văn bản như một thành tố
thi pháp bình đẳng. Nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ của nhân vật cũng chính là đi
tìm cái chân dung bên ngoài đó trong sự tương quan sâu sắc với chân dung
tinh thần của nhân vật và qua đó thấy được tài năng sáng tạo thiên tài của
Dostoevski đối với nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình.

động của nhà văn đang khao khát thể hiện tất cả những ý tưởng thiêng liêng
thầm kín nhất.
Một cuốn tiểu thuyết rộng lớn, nhiều bình diện viết về những tính cách
Caramadop không thuần nhất trong bộ phận và trong tổng thể” [19, tr. 672].
Một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về Dostoevski ở góc độ
thi pháp là cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoevski của M. Bakhtin. Ông
đánh giá Dostoevski là:
“Một trong những nhà cách tân vĩ đại nhất trong lĩnh vực hình thức
nghệ thuật. Ông đã sáng tạo ra, theo chúng tôi, một kiểu tư duy nghệ thuật
hoàn toàn mới mà chúng tôi gọi theo một cách ước lệ là tư duy đa thanh (…)
động chạm tới nguyên tắc cơ bản của mĩ học châu Âu” [1, tr. 11].
Để minh chứng cho khám phá của mình, M. Bakhtin đã đi vào phân tích
những vấn đề về nhân vật, tư tưởng, thể loại – kết cấu, và lời văn của
Dostoevski. Nghiên cứu của M. Bakhtin đề cập đến ngọn nguồn của tiểu
thuyết đa thanh trong vấn đề cácnavan và cácnavan hóa văn học. Đặc điểm
cấu trúc của hình tượng cácnavan là những đối cực, những phản đề đối chiếu
lẫn nhau. Nó thể hiện trong tác phẩm Anh em nhà Caramazov ở: tình yêu
tiếp giáp với lòng căm thù giữa Caterina Ivanopna với Dmit’ri Caramazov,
4

Ivan Caramazov với Caterina Ivanopna, Dmit’ri Caramazov với Grusenca; tín
ngưỡng tiếp giáp với tư tưởng vô thần; sự cao cả, tốt lành tiếp giáp với sự suy
đồi, hèn mạc ở Dmit’ri Caramazov; sự thanh sạch hiểu rõ cái xấu xa và ham
mê sắc dục ở Aliosa Caramazov.
Như vậy, ở hai công trình trên, những vấn đề về sự không thuần nhất của
nhân vật, tính đa thanh liên quan đến những đối cực trong tâm hồn nhân vật
được hai nhà phê bình đi sâu khám phá, bởi vậy chân dung tinh thần của nhân
vật được phác họa khá đậm nét.
Trong bài viết Dostoevski và di sản văn học của ông in trong cuốn Cá
tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, M.B.Khrapchenkô tiếp

Bên cạnh đó, St.Zweig chú ý đến những biểu hiện thể xác gắn liền với
chân dung tinh thần nhân vật trong tác phẩm của Dostoevski. Ông cho rằng
Dostoevski đã để cho các nhân vật “biểu hiện thể xác nhờ vào tâm hồn”.
Trong cuốn Thi pháp văn xuôi, Tz.Todorov đã chú ý đến những cử chỉ
ôm hôn của nhân vật trước kẻ tội đồ. Khi nói về khoảnh khắc Lisa, nhân vật
nữ trong Bút kí dưới hầm “đột nhiên giang tay ra để ôm ghì kẻ nguyền rủa
mình”, tác giả viết tiếp:
“(…) bắt đầu từ cuốn sách này giải pháp ấy ngày càng in đậm trong tác
phẩm của Dostoevski, ngay cả khi nó chỉ giữ lại như một dấu vết của một giới
hạn hơn là như một đề tài trung tâm của câu chuyện (…). Cử chỉ ấy, biến đổi
và lặp lại trong suốt tác phẩm của Dostoievski, có giá trị một cách rõ rệt. Ôm
riết không nói, cái hôn lặng lẽ: đó là sự vượt qua ngôn ngữ nhưng không phải
là chối bỏ ý nghĩa (…). Cái miệng kia không nói nữa mà hôn, dẫn nhập cho
cử chỉ và cơ thể; nó ngắt lời nói nhưng thiết lập một luồng biểu tượng, mãnh
liệt hơn” [32, tr. 211-212].
Ở đây, Todorov đã nâng tầm giá trị của cử chỉ nhân vật lên thành biểu
tượng, điều mà các nhà nghiên cứu khác không thực sự quan tâm bởi sự cuốn
6

hút với chân dung tinh thần của các nhân vật trong tác phẩm của Dostoevski
là quá lớn.
Ở Việt Nam, một trong những người say mê và viết về Dostoevski sớm
nhất là Nguyễn Tuân. Trong Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập 3), dựa trên cảm
quan nghệ thuật của mình và một số bài phê bình về Dostoevski mà ông đọc
được, Nguyễn Tuân cho rằng con người của những thái cực kiệt cùng ở
Dostoevski đã viết nên “tiếng kêu xé lòng về tình yêu, về hạnh phúc, về công
lý và về chân lý” bằng cách: “đưa ra những cái tương phản nhau. Bên cạnh
những cái rất bay bổng, rất thiêng liêng, Đốt kèm vào những cái rất phàm
tục, thô bạo” [34, tr. 388].
Một trong những nhà nghiên cứu Việt Nam có những trang viết hay nhất

tác phẩm của Dostoevski. Đây cũng là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi
nắm được những cái nhìn nhiều chiều về tác phẩm của Dostoevski.
Tóm lại, qua lịch sử vấn đề đã nghiên cứu ở trên, chúng tôi rút ra được:
Anh em nhà Caramazov thực sự là tác phẩm gây tiếng vang lớn và được
nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao trên nhiều phương diện. Tác phẩm
được đặc biệt chú ý đến ở giá trị nổi trội nhất của nó là bức chân dung tinh
thần của nhân vật. Đâu đó trong phần phân tích và đánh giá của mình, các nhà
nghiên cứu để đi tới những nhận định về chân dung tinh thần của nhân vật đã
đề cập tới chân dung bên ngoài của họ, tuy nhiên việc đề cập này chưa thực
sự sâu sắc. Do vậy, nghiên cứu riêng về ngôn ngữ cử chỉ - đơn vị nòng cốt
của chân dung bên ngoài của nhân vật (khía cạnh luôn luôn song hành không
thể tách rời với bức chân dung tinh thần kia) vẫn chưa thực sự được quan tâm
đúng mực. Những nhận xét của Todorov về cử chỉ mang tính biểu tượng
(những cái hôn của nhân vật trước kẻ tội đồ) khơi gợi cho chúng tôi tìm đến
đề tài về ngôn ngữ cử chỉ trong tác phẩm này. Đồng thời, những nghiên cứu
về chân dung tinh thần của nhân vật một cách sâu sắc đã có ý nghĩa rất lớn
8

đối với chúng tôi khi tiếp cận kiệt tác cuối cùng của Dostoevski ở phương
diện đề tài nghiên cứu này.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ trong tác phẩm Anh em nhà Caramazov
nhằm mục đích:
- Nhận diện ngôn ngữ cử chỉ của nhân vật trong những hoàn cảnh đặc
thù trong tác phẩm.
- Nhận diện nhân cách tuyến nhân vật chính thông qua ngôn ngữ cử chỉ,
diện mạo, âm thanh lời nói của nhân vật.
- Nghiên cứu tìm ra biểu tượng và ý nghĩa của nó gắn với những cử chỉ
đặc biệt của nhân vật.

gọi tên đích danh và nghiên cứu khá tỉ mỉ về ngôn ngữ này, mục đích của nó
là giúp người đọc nhận biết những thông điệp và cảm xúc thể hiện qua ngôn
ngữ cử chỉ. Tại đây, tác giả chia hình thái giao tiếp của con người làm ba loại:
giao tiếp bằng lời (phải lựa lời, chú ý đến ý nghĩa của lời nói), giao tiếp bằng
âm thanh (chú ý đến ngữ điệu của lời nói) và giao tiếp phi lời (chú ý đến điệu
bộ, tư thế, các cử động và phản ứng của cơ thể từ đầu tới chân), và loại
giao tiếp thứ ba được hiểu là ngôn ngữ cử chỉ. Khi diễn giảng về ngôn ngữ cử
chỉ, tác giả luôn đi kèm với phân tích và đề cao vai trò của giao tiếp bằng âm
thanh. Tác giả cuốn sách cũng chỉ rõ rằng ngôn ngữ cử chỉ mặc dù có những
quy ước chung nhất định nhưng nó có sự thay đổi theo thời gian và không
gian, đặc biệt nó có liên quan nhiều đến văn hóa và lối sống của mỗi vùng đất
nên ngôn ngữ cử chỉ không đơn nghĩa, không đơn thuần chắc chắn như toán
học. Cuốn sách của hai tác giả người Mỹ này cũng nhấn mạnh ngôn ngữ cử
chỉ nói cho chúng ta nhiều điều về đối tượng giao tiếp, việc am hiểu và sử
dụng ngôn ngữ cử chỉ rất cần thiết trong cuộc sống.
10

Đối với những người khiếm thính thì ngôn ngữ cử chỉ được xem như là
công cụ duy nhất để họ giao tiếp, truyền tải thông tin và cảm xúc cho người
khác. Không thể nghe và nói được khi giao tiếp, họ sử dụng những chuyển
động, sự thay đổi tinh vi của một bộ phận nào đó trên cơ thể làm phương tiện
truyền tải suy nghĩ và cảm xúc của mình. Trong đời sống ngày nay, ngôn ngữ
cử chỉ không chỉ được xem như một công cụ giao tiếp giữa những người
khuyết tật kém may mắn mà nó ngày càng thể hiện sự hữu dụng của mình
trong giao tiếp xã hội. Tính thời sự ấy thể hiện rõ rệt nhất là trong giới kinh
doanh, giới chính trị gia và trong lĩnh vực điều tra tội phạm .v.v. Nó thuộc về
kỹ năng mềm trong giao tiếp thông thường.
Các bộ phận trên cơ thể tham gia thể hiện ngôn ngữ cử chỉ của con người
rất tinh vi. Có thể chia làm hai dạng để quan sát, một là phản ứng của các bộ
phận trên khuôn mặt và hai là phản ứng của đầu, thân và tứ chi. Phản ứng của

được sử dụng nhiều, song trên thực tế việc nghiên cứu nhân vật ở lĩnh vực
này đã được áp dụng như một trong những thao tác phân tích nhân vật cổ
điển: nghĩa là phân tích nhân vật bằng những gì bộc lộ ra qua diện mạo, cử
chỉ, hành động của nhân vật. Trong văn phân tích nhân vật từ bậc trung học
trở đi, việc phân tích này gần như đã trở thành khuôn mẫu bên cạnh những
tiếp cận lời nói, suy nghĩ của nhân vật.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bản dịch Anh em nhà Caramazov của dịch giả
Phạm Mạnh Hùng, NXB Lao động, 2007. Phạm vi ngôn ngữ cử chỉ được lựa
chọn để nghiên cứu trong luận văn là những cử chỉ, diện mạo, âm thanh lời
nói của tuyến nhân vật chính là các thành viên của gia đình Caramazov tại
những hoàn cảnh đặc thù của tác phẩm. Trong quá trình phân tích, luận văn
có liên hệ mở rộng đến một vài tác phẩm khác trong sáng tác của Dostoevski.

12

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành với các
tiếp cận thi pháp học, tâm lí học, văn hoá học, phân tâm học.
Phương pháp thi pháp học được chúng tôi sử dụng trong những phân
tách cử chỉ, diện mạo, âm thanh lời nói của nhân vật trong những hoàn cảnh
cụ thể của cốt truyện.
Cùng với phương pháp thi pháp học, chúng tôi sử dụng phương pháp
tâm lý học, văn hoá học, phân tâm học trong những phân tích, khám phá,
khẳng định nhân cách nhân vật và luận về những cử chỉ mang tính biểu tượng
trong tác phẩm Anh em nhà Caramazov của Dostoevski.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung luận văn gồm ba
chương:
Chương 1: Ngôn ngữ cử chỉ và các tình huống giao tiếp

thương tận thiện tận mĩ trong cái biến ảo khôn lường của cuộc đời. Dimit’ri
trong lúc khốn quẫn nhất vì ghen tuông và danh dự đã toan giết cha, dù không
thực hiện hành vi giết người nhưng chàng đã phải đứng trước vành móng
ngựa và lĩnh án tù khổ sai. Khủng hoảng niềm tin vào Chúa – hiện thân của
tính thiện, Ivan đã tiêm nhiễm tư tưởng “rắn nuốt rắn thế là đi đời cả hai”
cho Xmerdiacov. Xmerdiacov với mầm ác, thú tính hèn hạ ấp ủ từ lúc sinh
thời nay hút lấy phần cay độc trong tư tưởng của Ivan đã nhận lấy vai trò của
một kẻ hành quyết hiện thân của cái ác. Aliosa thánh thiện nhưng bất lực, cái
ác vẫn diễn ra trước mắt chàng như một điều không thể tránh khỏi.
Tình huống lớn của câu chuyện là một tình huống đầy bi kịch.
Mỗi nhân vật trong tác phẩm tham dự tình huống lớn ấy mang lấy cho
mình một hoàn cảnh riêng đầy bi kịch. Nhân vật của Dostoevski đã tự trải
nghiệm bi kịch của bản thân và lựa chọn cho mình những con đường “phục
sinh”. Dimit’ri “phục sinh” trong đoạ đày tù ngục. Ivan có dấu hiệu “phục
14

sinh” trong thức tỉnh sau những cơn điên loạn. Xmerdiacov có dấu hiệu “phục
sinh” mầm thiện quyết định tự vẫn. Aliosa “phục sinh” sau trải nghiệm đau
đớn vì bất lực trước tội ác và cái chết.
Trên đoạn đường đi từ bi kịch đến “phục sinh”, Dostoevski để cho tổ
hợp các nhân cách của mình cất lên những tiếng nói nội tâm sâu sắc. Trong
những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, những tiếng nói ấy tranh luận và đấu tranh
gay gắt với nhau. Và tiếng lòng với những giằng xé nghiệt ngã của bi kịch cá
nhân ấy nhiều khi không thể hiện hết được bằng lời, nó buột ra theo những
phản ứng của bộ phận nào đó trên cơ thể mỗi nhân vật trong giao tiếp mà ở
trên chúng ta đã gọi nó là ngôn ngữ cử chỉ. Biểu hiện và nắm bắt được ngôn
ngữ cử chỉ trong giao tiếp cần một sự chú ý tinh tế và việc thể hiện được điều
tinh tế đó bằng văn bản ngôn từ lại cần một đầu óc tinh vi hơn thế. Dostoevski
đã chú ý đến nó, biểu hiện nó và cho chúng ta thấy sức nặng của nó đối với
việc xây dựng nhân vật của mình.

- Ông già ngủ hay thức? – chàng hỏi khẽ, vẻ nhún nhường (…)
- ta có gì khiến ngươi ngạc nhiên? - Ivan Fiodorovitr nghiêm nghị hỏi
bằng giọng nhát ngừng (…)
- đồ quỷ, nói rõ hơn nữa đi, ngươi cần gì? Cuối cùng Ivan Fiodorovitr
giận giữ quát lên, đành chịu nhịn mà chuyển sang thái độ thô lỗ [8, tr. 415]
- Thế ngươi vào đây làm gì? Tại sao ngươi lại thông tin cho cậu
Dimit’ri Fiodorovitr? Ivan nói bằng giọng cáu kỉnh [8, tr. 416]
- A, đồ quỷ, - Ivan bỗng sừng sộ, mặt méo đi vì giận giữ [8, tr. 417]
Những đường nét trên mặt Ivan Fiodorovitr dường như méo đi và rung
động. Chàng bỗng đỏ mặt [8, tr. 422]
- Thế ta ở Tremasnia thì người ta không gọi sao… nếu có chuyện như thế
xảy ra” – Ivan Fiodorovitr bỗng gào lên, không rõ vì sao mình bỗng quát to
như vậy [8, tr. 424]
16

Đáp lại Ivan, Xmerdiacov lại hoàn toàn dè dặt, nhún nhường và trả lời
những câu hỏi của Ivan một cách úp mở:
- Tôi nói thế là vì thương cậu. Ở địa vị của cậu, lâm vào tình cảnh thế
này, tôi sẽ vứt bỏ ráo… tội gì dính vào một việc như thế…- Xmerdicov trả lời,
công nhiên nhìn vào cặp mắt long sòng sọc của Ivan Fiodorovitr. Cả hai đều
im lặng [8, tr. 422]
- Cậu đến Tremasnia thì…vẫn bị người ta quấy rầy, - Xmerdicov nói
lúng búng, gần như thì thầm, như thể luống cuống, nhưng vẫn hết sức chăm
chú nhìn thẳng vào mắt Ivan Fiodorovitr [8, tr. 423]
- Hoàn toàn đúng như vậy, - Xmerdicov nói lúng búng giọng đã nghẹn
lại, miệng mỉm nụ cười bỉ ổi và lại lật bật chuẩn bị để lùi cho kịp [8, tr. 424].
Tại đây, giao tiếp bằng lời của các nhân vật là những câu hỏi ngắn và
những câu trả lời cộc lốc không rõ ý, ý của họ ngụ trong ngôn ngữ cử chỉ. Cái
“công nhiên nhìn”, “nhìn thẳng” của Xmerdicov trước Ivan như ngấm ngầm
báo hiệu một sự thoả thuận bằng mắt. Và giây phút “cả hai đều im lặng”

nhau bằng cử chỉ. Tại đây, Xmerdiacov đọc Ivan nhiều hơn cả. Hắn đọc được
ý đồ thâm hiểm trong con người Ivan khi quyết định ra đi bỏ mặc tai họa gia
đình sắp ập đến. Đây cũng là lần cuối cùng hắn khẳng định được sự được
phép của tội ác mà hắn sắp sửa thi hành. Cũng tại đây, tác giả bày ra cho ta
một thực tế về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cử chỉ và suy nghĩ
bên trong của nhân vật. Ngôn ngữ nói của Ivan là những câu hỏi cặn kẽ, căn
cứ vào đó khẳng định được chàng đang quan tâm đến kế hoạch của
Xmerdiacov và đồng tình, ngôn ngữ cử chỉ của chàng bộc lộ sự tức giận
chứng tỏ có sự mâu thuẫn giữa câu nói và nội tâm. Tại đây đã có một sự
“vênh” giữa lời nói và suy nghĩ, và ta đọc được điều này từ cử chỉ của nhân
vật. Song, đây mới chỉ là cấp độ đầu tiên của vấn đề, cấp độ sâu hơn là cử chỉ
của nhân vật lại mâu thuẫn với suy nghĩ, khiến người ta không thể đọc được
18

nhân vật bằng cử chỉ nữa. Cái cười của Ivan là một kiểu “vênh” giữa cử chỉ
và suy nghĩ của nhân vật. Trong thâm tâm, Ivan muốn cái chết kia, nhưng lý
trí không cho phép chàng nghĩ rằng mình lại có dã tâm giết cha, chàng muốn
vô can trước cái chết đó. Một thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn đã buột ra qua
cử chỉ của nhân vật.
Trước khi án mạng xảy ra, trong cuộc gặp gỡ giữa Ivan và Xmerdiacov,
người bị “soi” nhiều hơn là Ivan bởi chàng là con bài chủ đạo dẫn đường cho
Xmerdiacov thực thi tội lỗi; trái lại, sau khi án mạng xảy ra, kẻ nắm thế chủ
động trong đối thoại lại là Xmerdiacov. Không còn vẻ e dè như trước, y thản
nhiên, trắng trợn phơi bày tội lỗi của mình đồng thời y hạ bệ sự vô can của
Ivan đối với án mạng. Mỗi lần tiếp chuyện Xmerdiacov là một lần Ivan nhận
ra sâu sắc hơn thực chất của vấn đề, nhận ra rõ nét tội lỗi của mình.
Trong cuộc đối thoại đầu tiên, điều làm Ivan ngạc nhiên là sự điềm tĩnh
của Xmerdiacov trong giọng nói có phần ảnh hưởng của bệnh tật “gầy yếu,
nói chậm, dường như cử động lưỡi khó khăn” [8, tr. 918], điệu bộ “đôi mắt
trái nheo nheo” ngầm ám chỉ điều gì, và sự im lặng, thở dài nhiều lần. Lúc

quắp, tỳ xuống đầu gối” [8, tr. 934]. Đó là dáng điệu của sự đau khổ bất lực.
Lần thứ ba, Xmerdiacov đã bắt đầu nhận ra sự sợ hãi của Ivan trong
dáng điệu run rẩy, biểu hiện này làm hắn “sửng sốt”. Vẫn cái vẻ trâng tráo của
Xmerdiacov, vẫn sự tức giận muốn “lật bài” của Ivan, cuộc đối thoại trở nên
dài hơn khi sự thật được Xmerdiacov kể tỷ mỷ. Tác giả không cho biết
Xmerdiacov có ân hận hay không mặc dù “mồ hôi túa ra trên mặt hắn”, cũng
không lột trần hoàn toàn thế giới nội tâm của Ivan mặc dù chàng đã run rẩy
vừa sợ hãi vừa giận dữ. Ivan sợ hãi và giận dữ không phải chỉ với
Xmerdiacov trong cuộc đối thoại này. Phần cuối của cuốn tiểu thuyết cho ta
thấu suốt sự đau khổ và giận giữ thực sự của Ivan nằm ở việc đấu tranh với
những tư tưởng đang chế ngự đầu óc mình, tư tưởng của sự đau khổ, tư tưởng
về việc trả giá cho nỗi đau và tội ác bằng chính tội ác và chết chóc. Song tại
20

đây, thế giới nội tâm của hai nhân vật được mở ra đầy “khiêu khích”, ngôn
ngữ cử chỉ mà nhà văn phác họa không để cho nhân vật “bộc toạch” tất cả
những suy tư của mình, ông để một khoảng cách xác định giữa cử chỉ và suy
nghĩ của nhân vật để lôi cuốn chúng ta vào bức chân dung tinh thần ấy.
Có thể kết luận rằng những cuộc đối thoại giữa Xmerdiacov và Ivan là
những cuộc rượt đuổi, thâu tóm nhau. Ban đầu là Xmerdiacov rượt đuổi theo
những ý đồ chưa hoàn toàn định hình của Ivan về tội ác. Về sau là Ivan rượt đuổi
theo Xmerdiacov để đi tìm sự thật về án mạng, sự thật về “con quỷ” xui khiến nên
những ý đồ tội lỗi trong tâm trí chàng. Chỉ có ở cuộc đối thoại cuối cùng là họ “lật
bài” nhau, còn trong những cuộc đối thoại trước đó họ đều vừa thăm dò vừa lấp
liếm nhau qua ý tứ cử chỉ của đối tượng. Ngay cả trong cuộc “lật bài”, họ không
quên thu lấy từng biểu hiện nhỏ nhất của cử chỉ để nắm được thái độ và ý đồ của
đối tượng giao tiếp. Và người đọc, qua đó cũng đọc được bức tranh nội tâm của
nhân vật, một thế giới đầy sóng gió và có thể đẩy đến tận cùng nguy hiểm.
1.2. Giao tiếp đặc biệt
1.2.1. Chủ thể thực hiện cử chỉ tự quan sát và phán đoán mình – trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status