Khoá luận tốt nghiệp ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết bướm trắng của nhất linh - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN

VŨ THỊ KIM CHI

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT BƯỚM TRẮNG
CỦA NHẤT LINH

KHOÁ LUẬN TỔT NGHIỆP ĐẠI HỌC








C h u y ên n gàn h : V ă n h ọc V iệt N am

N gười hướng dẫn khoa học

TS THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

Đe hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới các thầy cồ trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là TS.GVC Thành Đức Bảo


M ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
M Ở ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài.........................................................................................................1
2.Mục đích nghiên cứu................................................................................................2
3.ĐỐÌ tượng, phạm vi nghiên c ú n .............................................................................2
4.Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 2
5.Lịch

sử vấn đ ề ...................................................................................................... 2

ó.cấu trú c ......................................................................................................................6
7.Đóng góp đề tà i.........................................................................................................6
NỘI DƯNG
CHƯƠNG 1. NHỮNG VÁN ĐÈ CH U N G .......................................................... 7
1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật.........................................................................7
1.1.1 Khái niệm ...........................................................................................................7
1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật..................................................................... 7
1.2. Nhất Linh và tiểu thuyết Bướm trắng............................................................. 10
1.2.1 Cuộc đ ờ i............................................................................................................ 10
1.2.2 Sự nghiệp văn chương......................................................................................11
CHƯƠNG 2. NGỒN NGŨ TRẦN THUẬT, NGÔN NGŨ ĐÓI THOẠI
VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂ M .................................................................................14
2.1. Ngôn ngữ trần thuật hướng tới khai thác tâm lí............................................ 14
2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật với điểm nhìn linh hoạt............................................. 14
2.1.2. Ngôn ngữ trần thuật đan xen giữa kể và t ả .................................................15
2.2. Ngôn ngữ đối thoại........................................................................................... 21

(Nguyễn Văn Trung, Tạp chí Văn số 14, 15.7.1964); nhưng sau nhiều năm
trôi qua, việc nghiên

CÚ01

ngôn ngữ nghệ thuật Nhất Linh vẫn chưa có sự tiến

triển đáng kể.
Là sinh viên năm cuối, thực hiện đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong
quá trình giảng day và nghiên cứu khoa học sau này.

1


Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Ngôn ngữ nghệ th u ậ t
trong tiếu thuyết Bướm trắng của Nhất L inh” nhằm đi sâu nghiên cứu
ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh trong phạm vi tác phẩm và thấy được
nhũng đóng góp của nhà văn đối với quá trình hiện đại hoá ngôn ngữ văn học
dân tộc.
2. Mục đích nghiên cún
- Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nhất Linh
thông qua việc phân tích và làm rõ yếu tố ngôn ngữ trong tiểu thuyết Bướm
trắng.
- Luận văn hướng tới tìm hiểu và phân tích ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu
thuyết Bướm trắng của Nhất Linh để thấy được giá trị, phong cách, tài năng của
nhà văn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cún trong đề tài này là ngôn ngữ nghệ thuật trong
tiểu thuyết Bướm trắng của Nhất Linh.

đẹp của thời thanh xuân lành mạnh. Bướm Trắng, biếu tượng chập chờn của
nội tâm con người bất trắc. Bướm Trắng, biếu tưọng giản dị của tình yêu êm
đềm không phức tạp. Ta vân không thê quả quyết giải thích nào gần nhất cho
nhan đề Bướm Trang của Nhất Lỉnh.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng nêu lên những nhận định khái
quát về nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh như sau: “Neu đọc Nhất Linh từ
Nho phong cho đến những tiểu thuyết gần đây nhất của ông, người ta thấy tiếu
thuyết của ông biến đổi rất mau. Ông viết từ tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết
tình cảm, qua tiểu thuyết luận đề, đến tiểu thuyết tâm lí; sự tiến hoá ấy chứng
tỏ rằng mỗi ngày ông càng muốn đi sâu vào tâm hồn con người ta”.
Hay công trình nghiên cún của nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử
văn học Việt Nam tập 3 - từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1945, 1957) nhận xét

3


rằng với tiểu thuyết Tự lực văn đoàn “cả một thế giới tâm tình trước kia hé
mở một cách rụt 1'è, e lệ, bây giờ được mổ xẻ phơi bày tinh vi”. “Nhất Linh
thành công ở cách bố trí truyện, cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi
bật tâm lí nhân vật”.
Một số ý kiến khác như của Dương Thị Hương trong công trình nghiên
cứu của mình về Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong tiếu thuyết Tự lực
văn đoàn đã khẳng định tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh “thành công và
chiếm được cảm tình của giới trẻ đương thời vì đã thể hiện được những luận
đề phù hợp với chân lí đời sống , đem lại những khám phá chân thực về nhân
vật, về tâm lí”. Phan Cự Đệ thì nhận xét: “Ngòi bút của Nhất Linh rất có tài
miêu tả những mối tình đầu trong sáng, đượm chút ngập ngừng, e thẹn, kín
đáo và ý nhị”.
Khi khẳng định một thế giới mới trong sáng tác của Nhất Linh qua
Bướm trắng - thế giới nội tâm bên trong, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn

gọt, trau truốt câu văn của mình như Khải Hưng nhưng tự 1ĨÓ có nhịp điệu, tự
nó đã du dương bởi ý bao hàm ở trong là một ỷ thơ.
Vu Gia cũng có nhận xét về ngôn ngữ của Nhất Linh trong tiểu thuyết
“ Bướm trắng”: Ông vẫn duy trì được lối viết trong sáng, giàu chất thơ, chất
hoạ vốn đã quen thuộc trong nhiều tác phẩm trước, nhưng đến Bưóm trắng
đã thế hiện một phắm chất nghệ thuật mới, tuy đôi chô còn gượng gạo, thiếu
tự nhiên, nhưng tác giả đã khai thác tỉnh tế nhữỉĩg tầng, những lớp, những
ngóc ngách tâm lí éo le, khuất khúc của con người.
Bạch Năng Thi trong bài “Nhất Linh - tác giả tiêu biểu” đã đưa ra
những lời đánh giá về ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh: ... lời văn ngắn
gọn, chặt chẽ, chính xác, vừa giản dị, vừa chọn lọc (...) Văn Nhất Linh vừa
rành mạch, trong sáng, vừa có nhạc điệu, có hình ảnh. Nó diên tả được
những cảm giác tinh vi. Nó sử dụng các so sánh cụ thế, có khả năng tạo hình
và gợi cảm.

5


Trong công trình nghiên cún “ Những cách tân trong văn xuôi Tự lực
văn đ o àn ”, Trịnh Hồ Khoa cũng nêu ra ý kiến xác đáng: Văn Nhất Linh ngắn
gọn, chặt chẽ, chính xác, giản dị nhưng không thiếu chất thơ. Giống con
người Nhất Linh, vãn ỏng tê nhị, có chừng mực, trang nhã, tả rất đạt những
tâm tình thanh sạch...
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Mai Hương - DHSP Thái Nguyên 2008, có đề cập đến một số thủ pháp xây dựng nhân vật, trong đó có nhắc đến
đặc điểm về ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nhất Linh qua hai tác phẩm Đôi
bạn và Bướm trang.
Nhìn chung các nhà nghiên cún mới đã đưa ra những nhận xét khái
quát về ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh hoặc đề cập đến một số đặc điểm
về ngôn ngữ trong một vài tác phẩm nói chung và trong tiểu thuyết Bướm
trắng nói riêng. Nhũng nhận xét của người đi trước cũng đã gợi ý cho chúng

là phương tiện biểu hiện của các sáng tác văn học - loại hình nghệ thuật ngôn
từ. Vì thế khái niệm “ngôn ngữ nghệ thuật” cần được khu biệt rõ hơn.
Theo chúng tôi “Ngôn ngữ ngệ thuật” là ngôn ngữ được sử dụng một
cách nghệ thuật trong các tác phẩm văn học, đó là ngôn ngữ mang tính hình
tượng, tính biểu cảm và thế hiện rõ cá tính sáng tạo của nhà văn. Trong thực
tế, thuật ngữ này thường được dùng tương đương với các thuật ngữ: Ngôn từ
nghệ thuật, Ngôn ngữ văn học, Lời văn nghệ thuật.
Bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ mang tính toàn vẹn, cụ
thể, sinh động, có tính thẩm mĩ trong các tác phẩm văn học, chứ không phải là
ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp khác của ngôn ngữ với tư cách đối
tượng chuyên biệt của ngôn ngữ học.
1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật
-

Với nhà vãn :

Ngôn ngữ chính là công cụ, là chất liệu đế nhà văn xây dựng hình
tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật, qua đó gửi gắm ý đồ nghệ thuật của
mình. Ngôn ngữ nghệ thuật có “cội nguồn từ ngôn ngữ nhân dân”, nhưng

7


được chon lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của nhà văn, trở thành
phương tiện biểu hiện nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Phan Cư Đệ nhận thấy:
“Ngôn ngữ khoa học không mấy khi có nhiệm vụ tái hiện lại mối quan hệ tình
cảm giữa người nói với đối tượng được nói đến. Còn ngôn ngữ nghệ thuật thì
bao giờ cũng tìm cách truyền các quan điểm của nghệ sĩ vào đối tượng được
miêu tả, truyền vào đấy các lối nhìn sự vật, cách nhận thức và cảm quan về
thế giói của anh ta, nói tóm lại là ngôn ngữ đó mang dấu ấn cá tính và phong

thấu tâm hồn tác giả. Còn thể loại tự sự tái hiện đời sống thông qua việc miêu
tả sự kiện. Ở loại này tác giả có thể đứng ngoài kể, cũng có thể để cho nhân
vật tự kể. Vì thế ngôn ngữ của thế loại tự sự là ngôn ngữ mang tính khách
quan: “lời tự sự là lời miêu tả, trần thuật theo lối kể, phân tích, chỉ ra các
thuộc tính một cách khách quan”.
Giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ tiểu thuyết, còn nhận thấy sự khác biệt:
“Neu như trong thơ, ngôn ngữ trước hết cần phải đẹp, cao cả và trang trọng
thì trong tiểu thuyết, ngôn ngữ trước hết cần phải chính xác, có khả năng tái
tạo lại các đối tượng trong hình thái cá thể, không lắp lại của nó”.
Không chỉ có sự khác nhau trong ngôn ngữ giữa các thể loại, mà ngay
trong cùng một thể loại ở mỗi thời đại khác nhau lại có cách sử dụng ngôn
ngữ khác nhau. Ngôn ngữ tự sự trung đại khác với ngôn ngữ tự sự hiện đại.
Thậm chí trong cùng một thể loại, ở cùng một hoàn cảnh lịch sử, nhung ở
những phương pháp sáng tác khác nhau thì ngôn ngữ nghệ thuật có những
điểm khác nhau. Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện thực cũng khác với ngôn ngữ tiểu
thuyết lãng mạn. Ngôn ngữ của tiểu thuyết hiện thực giản dị, chân thật, “mỗi
từ đều phải dễ hiểu đối với người đánh xe ngựa chở các cuốn sách từ nhà in
đi” (Tônxtôi); đồng thời phải mang tính điển hình nghĩa là phản ánh đúng tính
cách, gắn liền với tâm lí xã hội và hoàn cảnh sinh sống của nhân vật, phản ánh
đúng các điển hình trong cuộc sống.

9


Còn “trong tiếu thuyết lãng mạn, dấu ấn chủ quan của nghệ sĩ bộc lộ rất
rõ trong màu sắc ngôn ngữ, trong lối nói cường điệu và phóng đại, lối nói
trang trọng gây hưng phấn, lối dùng các biện pháp tu từ, lối dùng một thứ văn
giàu nhạc đ iệu ...” .
- Với hoạt động tiếp nhận văn học:
Trong hoạt động tiếp nhận văn học, ngôn ngữ nghệ thuật cũng có vai

Gia đình Nguyễn Tường Tam sống ở cẩm Giàng, một huyện nhỏ. Cha
ông mất sớm, cả nhà lâm vào cảnh khó khăn. Từ bé, anh em Nguyễn Tường
Tam đã tiếp xúc với những người nông dân nghèo khổ, điều đó ảnh hưởng
đến văn học của Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam sau này.
Thuở nhỏ, Nguyễn Tường Tam theo học tiểu học ở cẩm Giàng, học
trung học tại trường Bưởi ở Hà Nội . Năm 16 tuổi, Nguyễn Tường Tam làm
thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, và năm 18 tuổi ông có bài "Bình Luận Văn
Chương về Truyện Kiều" trên Nam Phong tạp chí.
Cuối năm 1923 ông đậu bằng Cao tiểu. Nhưng vì chưa đến tuổi vào
trường cao đắng, nên ông làm thư ký ở sở tài chính Hà Nội. Ông làm quen với
Tú Mỡ và viết cho tờ Nho Phong.
Năm 1924, ông tiếp tục học ngành Y và Mỹ Thuật nhưng chỉ một năm
rồi bỏ.
N ăm l926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ
Đình Di định cùng làm báo. Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh nên
hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Cao Miên, sống
bằng nghề vẽ và tìm đường đi du học.
Năm 1927, Nguyễn Tường Tam sang Pháp du học. Ở nơi ấy, ông vừa
học khoa học, vừa nghiên cún về nghề báo và nghề xuất bản. Năm 1930, ông
đậu bằng Cừ nhân Khoa học Giáo khoa (Lý, Hoá) và trở về nước trong năm
đó.
1.2.2 Sự nghiệp văn chương
1.2.2.1. Hoạt động văn chương
Trở về nước, Nhất Linh cùng hai em là Hoàng Đạo và Thạch Lam xin ra
tờ báo trào phúng Tiếng cười, nhung thiếu tiền chưa ra được báo thì giấy phép
quá hạn, bị rút. Trong hai năm tù’ 1930 đến 1932, ông dạy học tại trường Thăng
Long và Gia Long, ở đó ông quen biết với Trần Khánh Giư, tức Khái Hưng.

11


12


rút về, Nhất Linh chạy theo chúng sang Trung Quốc. Năm 1951, Nhất Linh về
Hà Nội. Năm 1954, ông di cư vào Nam, sinh sống ở Đà Lạt, chơi hoa lan và
viết sách. Năm 1958, Nhất Linh trở về Sài Gòn lập nhà xuất bản Phượng
Giang và nguyệt san Văn hoả ngày nay nhằm tạo dựng lại uy tín của Tự ỉực
văn đoàn. Năm 1961, thành lập trung tâm văn bút. Nhất Linh mang tư tưởng
chống Cộng triệt để và cũng không đồng tình với chế độ gia đình trị của Ngô
Đình Diệm. Vì nghi có liên quan đến vụ chính biến ngày 11-11-1960 do
tướng Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, Nhất Linh bị theo dõi và chuẩn bị đưa ra
toà án Đặc biệt xử. Ông hoàn toàn bế tắc cả về hoạt động chính trị lẫn sáng
tác, mười hai giờ đêm ngày mùng 7 tháng 7 năm 1963 Nhất Linh uống thuốc
độc tự tử tại nhà riêng ở Sài Gòn, một ngày trước khi ra toà.
Nhất Linh là người say mê hoạt động chính trị và văn học nghệ thuật.
Trong phần giới thiệu này, chúng tôi chỉ điểm qua những hoạt động của ông
trong lĩnh vực báo và văn học trước cách mạng tháng Tám.
1.2.2.2. Tác phẩm
- Tiếu thuyết:Gánh hàng hoa (cùng Khái Hung, 1934); Đời mưa gió
(cùng Khái Hưng, 1934); Nắng thu (\934);Đoạn tuyệt (1934-1935); Lạnh
lùng (1935-1936); Đôi bạn (1936-1937); Bướm trắng (1938-1939); Xóm cầu
mới (1949-1957). Trường thiên, viết dở dang là “Dòng sông Thanh
Thủy” (1960-1961). Trường thiên, tác phẩm cuối cùng, gồm ba tập:
Ba người bộ hành
Chi bộ hai người
Vọng quốc
- Tập truyện:Mzơ phong (1924); Người quay tơ ( 1926); Anh phải
sống {cùng Khái Hưng, 1932 - 1933); Đi Tây ( 1935); Hai buổi chiều
vàng (1934-1937); Thế rồi một buổi chiều (1934-1937); Thương chằng (1961)
- Tiếu luận: Viết và đọc tiếu thuyết (1952-1961)

chỉ là lời kể về các tình tiết, xâu chuỗi các sự kiện để tạo nên sự vận động của
cốt truyện. Có lúc tác giả dùng lời kể khách quan ghi lại diễn biến câu
chuyện, có lúc nhập vào tâm trạng của Trương để miêu tả. Tuy trần thuật
nhưng thực ra Nhất Linh chỉ đứng ngoài, nhìn nhận, miêu tả tâm trạng nhân

14


vật, nhà văn đã trần thuật theo giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm và ý thức của
nhân vật.
2.1.2. Ngôn ngữ'trần thuật đan xen giữa k ế và tả
Ngôn ngữ kể trong tiểu thuyết Bướm trắng đi sâu hơn vào nội tâm của
nhân vật, dường như nhập hẳn vào dòng suy nghĩ, cảm giác của Trương, đưa
người đọc vào miền miên man khó lắm bắt của tiềm thức, của vô thức, thấy
được cả những vùng mờ tối của tâm thức con người. Ngay từ nhũng dòng đầu
tiên của truyện, tác giả đã đưa người đọc đến với thế giới tâm hồn Trương với
biết bao bất ngờ, ẩn chứa bao mâu thuẫn. Chàng “vô cớ” thấy lòng vui đột
ngột, khác thường, nhìn cuộc sống khốn khó của con người trong một ngày
mùa đông lại thấy thú vị, “tự nhiên” thấy vui thích khi nhìn bà cụ già bán
hàng cho một câu bé; nhìn cơn gió thổi bay “mấychiếc lá khô”, bất chợt cảm
thấy nỗi buồn hiu quạnh của cuộc đời cô độc; “thốt nhớ đến Liên”, người yêu
của mình, “đã chết vì bệnh lao ba năm trước” ; nghĩ đến tâm trạng mình khi
mắc bệnh lao, Trương hi vọng là sẽ khỏi bệnh nên “thấy mình náo nức muốn
sống, yêu đời và vui vẻ ”, nhung lại một ý nghĩ khác chợt len đến : “thế ngộ
nhỡ mình không khỏi bệnh ”...
Chỉ bằng một đoạn văn ngắn mà thế giới tâm hồn con người đã được
bộc lộ một cách đầy đủ với biết bao những sắc thái mà chúng ta khó tìm thấy
lời giải đáp từ thế giới bên ngoài. Đoạn văn trên như muốn dự báo về sự bùng
nổ dữ dội của tâm hồn nhân vật trước biến cố của số phận con người.
Trương là nhân vật được xây dựng mang trong mình sẵn nỗi cô đơn,

ngày chủ nhật đã xa xôi lại hiện ra trước mắt.
Còn đây là sự thú nhận của nhân vật sau những cuộc hành lạc thâu
đêm qua ngôn ngữ người kể chuyện: Trương nhận thấy mình là một người
hấp hối cần suy nghĩ bao quát cả đời sống của mình trước khi nhắm mắt.
Ngay lúc đỏ, thực tình chàng còn mệt mỏi chán song hơn cả thân thế chàng.
Chàng đã đạt tới mục đích: là không sợ cái chết nữa. Giá đời mình không có
Thu! Gía thu không yêu chàng hoặc hơn thế nữa, chàng ghét được Thu thì
thực là hoàn toàn thoát nợ, thoát khỏi ngục đời... [14; 151].

16


Lời kế của người trần thuật ở đây thể hiện ở cách gọi nhân vật bằng
ngôi thứ ba, còn phần vị ngữ thì giống lời trục tiếp của nhân vật. Nếu ta thay
“Trương” và “chàng” bằng “tôi” hoặc “mình” thì câu văn sẽ không có gì thay
đổi về ý nhung hình thức sẽ là độc thoại nội tâm.
Rồi tói khi biết bệnh tình, Trương miên man theo dòng suy nghĩ, chàng
đi dưới mưa như vô thức rồi nảy ý muốn gặp Thu. Đen nhà chỉ thấy Mỹ ra
tiếp nhưng có vẻ Mỹ đang bận, chàng vẫn cố ý ngồi đợi để được gặp Thu dù
biết mình rất phiền. Có tiếng còi ô tô, Mỹ chạy ra và chàng theo sau rồi sung
sướng như người thoát nợ, Nhất Linh miêu tả:
Tiếng Thu nói ở ngoài hàng rào, Trương đứng dừng lại, lòng thấy bông
nhẹ như bông tơ, đảm mây mù u uất trong hồn chàng cũng vừa tan đi vì một
nôi vui xuất hiện đến sảng như một quãng trời xanh ấm nắng...
Tránh được ý định muốn về nhà lúc này, Trương cùng gia đình Thu về
quê, mọi người cùng chào đón chàng và chàng thấy: Vừa nhìn thấy những
ngón tay thon đẹp của Thu loay hoay buộc cái gói, chàng vừa tự hỏi không
muốn hiếu vì cớ gì M ỹ lại trở nên ân cẩn đối với chàng như thế. Trương thấy
ấm áp trong lòng và từ nay về sau ở gia đình Thu chắc chắn chàng sẽ không
còn cái cảm tưởng mình là một người xa lạ nữa.

ngữ kể sinh động của mình.
Hôm Trương về quê dự đám cưới tiện thể bán luôn đất ở đó, trong khi
ngồi nhìn các cô phù dâu trang điểm cho nhau bỗng chàng nảy ra ý định trong
đầu hay là giết Thu, rồi tự cho đó là xấu. Miêu tả tâm trạng Trương vào chiều
hôm đó:
Chiều đến, Trương xuống cuối làng thăm mộ hai thân chàng. Trương
không muốn chết quê nhưng chàng mong khỉ chết rỏi người ta sẽ đem chàng
mai táng ở nghĩa địa nhà, chàng thấy nằm ở các nghĩa địa gần Hà Nội có vẻ
tạm thời không được vĩnh viên và ấm áp như ở đây, cạnh những người thân

18


thuộc. Chàng hơi buồn nghĩ đến chắng bao lâu nữa lại có những đứa trẻ như
chàng hổi còn bé, chạy nhảy trên mộ chàng, hoặc thả diều, hoặc bắt châu
chấu những buối chiểu hè lộng gió. Chàng sẽ không biết đau khố là gì nữa:
trên mặt đât, chô chàng nằm chỉ còn có mấy ngọn cỏ may hồng rung rung
trước gió thờ ơ và ở một thời nào đỏ Thu mà chàng không bao giờ quên vẫn
đi lại, cười nói, sổng tự nhiên trong ánh sáng của thế gian trên kia.
Trong đầu Trương lúc này, cái chết luôn hiện hình và lởn vởn quanh
đây. Hình ảnh nghĩa địa, nấm mộ, bên kia thế giới... Nhân vật sống ở thực tại
nhưng nhìn nhận tương lai đầy chết chóc và Nhất Linh dường như thâm nhập
vào suy nghĩ nhân vật rồi tái hiện lại một cách sinh động.
Ở chương cuối cùng, khi cố ý gửi cho Thu bức thư hẹn gặp nàng để
giết Thu rồi tự sát, sau khi gửi thư và biết Thu đồng ý, chàng bắt xe đi loanh
quanh Hà Nội, vào vườn bách thú thăm lại những con vật thân thuộc với
chàng từ năm nhất:
Trương đi vòng một lượt không bỏ sót một con nào và bắt đầu mỏi
chân. Khi đã tới đường nhựa, Trương thấy một đảm ma từ phía trên đi tới.
Chàng ngừng lại, đứng đợi, thấy hay hay vì chàng nghĩ đến lúc được nhìn

sâu phân tích lí giải tâm trạng nhân vật, tạo ra câu văn uyển chuyển, phù hợp
với tâm trạng con người.
Loan lại tìm đến phố Dũng ở. Vì hôm đó trời nang ráo, nên dãy nhà
trông bớt vẻ tồi tàn. Loan tò mò nhìn vào trong mẩy gian nhà toi tăm, lạnh
lẽo. Thấy từng gia đình lúc nhúc trong bóng tối, trong khi ở ngoài trời nắng
mới, ánh sáng rực rỡ phấp phới trên lá cây. Loan bùi ngùi liên tưởng, nghĩ
đến những người tự dấn thân vào cuộc đời ảm đạm, đi bên cạnh những sự vui
sướng trời đã dành riêng cho mà vô tình không biết. Rồi Loan nghĩ đến chính
mình: đời nàng xoay về ngả nào chỉ lát nữa nàng sẽ rõ; nàng đương ở một
ngã ba, hiện giờ còn lưỡng lự chưa biết bước theo con đường nào. Hai cảnh
đời vẽ ra trước mắt nàng, một cảnh đời nàng thấy lộng lây, nhưng chứa chất

20


Trích đoạn Độc thoại nội tâm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status