Khoá luận tốt nghiệp văn hóa gia đình trong tiểu thuyết mùa lá rụng trong vườn của ma văn kháng - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN
------------ -------------------------

Lưu THỊ THANH NGA

VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG HẺU THUYÉT

MÙA LẢ RỤNG TRONG VƯỜN
CỦA MA VĂN KHÁNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC






C h u y ên n g à n h : V ăn h ọc V iệ t N am

HÀ NỘI - 2015




TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN
------ -------------------------

L ư u THỊ THANH NGA



Hà Nội, tháng 5 nẫm 2015
Tác giả khóa ỉuận

Lưu Thị Thanh Nga


LỜI CAM ĐOAN

Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS
Nguyễn Thị Tuyết Minh. Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của
nhũng tác giả khác. Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
- Mọi tư liệu trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn trung thực.
Neu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, thảng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận

Lưu Thị Thanh Nga


MỤC LỤC
M Ở Đ Ầ U .......................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đ ề .......................................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứ u .............................................................................................. 5
4. Đối tương và phạm vi nghiên cún......................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 6
6. Đóng góp của khóa luận..........................................................................................6


M Ở ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp thống nhất đất nước
đã hoàn thành, lịch sử dân tộc bước sang một trang mới. Cả nước tiến hành đi
lên chủ nghĩa xã hội và kiến thiết, đổi mới đất nước. Sự chuyển đổi của đất
nước từ thời chiến sang thời bình, đặc biệt là sự chuyến đổi từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều mặt tích cực, đời
sống nhân dân được nâng lên một tầm cao mới. Tuy nhiên nền kinh tế thị
trường cũng bộc lộ mặt trái của nó. Đồng tiền chứng tỏ sức mạnh vạn năng,
nhiều cá nhân đã bị cuốn vào vòng xoáy của đồng tiền khiến cho những chuẩn
mực và đạo lí đi xuống. Gia đình là tổ ấm của mỗi cá nhân, là chiếc nôi nuôi
dưỡng tâm hồn con người, là tế bào của xã hội. Sự phát triển vững chắc của
gia đình sẽ là nền tảng vũng chắc cho sự phồn vinh, phát triển của xã hội. Đã
có một thời, gia đình được coi là chuẩn mực. Nhưng xã hội thay đổi thì con
người sẽ có những đổi thay, thời thế góp phần tạo ra suy nghĩ con người,
nhiều cá nhân đã thay đổi ý thức và quan niệm sống, họ ích kỷ, hám danh,
hám lợi, chạy theo giá trị vật chất... khiến những mối quan hệ tốt đẹp trong
gia đình bị phá vỡ. Văn hóa gia đình đang có nguy cơ bị xói mòn.
1.2 Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là nền văn học cách mạng,
mang cảm hứng sử thi, hướng về những cái lớn lao, cao cả của dân tộc. Sau
1975, xã hội có nhiều thay đổi phức tạp, cảm hứng “sử thi” trong văn học
trước đây được thay bằng cảm hứng “thế sự”. Các nhà văn không né tránh,
ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất, phần chìm của hiện thực
cuộc sống. Vấn đề văn hóa gia đình một thời bền vững ổn định nay bị lung
lay, xói mòn. Gia đình trước đây là khuôn mẫu, chuẩn mực của xã hội thì nay
có sự biến đổi. Các cá nhân muốn khẳng định cá tính bản thân, chạy theo xã
hội thị trường thời mở cửa đã bắt đầu phá vỡ những khuôn thước, đạo lí của

1

Trần Cương (1985), “Mùa lả rụng trong vưòn - Một đóng góp mới của

Ma Văn Khảng ”, Báo Nhân dân chủ nhật
2


- Lã Duy Lan (1985), “Mùa lả rụng trong vườn - M ột đóng góp mới của
Ma Vãn Khảng ”, Báo Nhân dân chủ nhật
- Trần Đăng Suyền (1985), “Ma Văn Khảng với Mùa ỉả rụng trong
vườn ”, Báo Văn nghệ, (40)
- Hoàng Sơn (1985), “Trò chuyên với tác giả Mùa lá rụng trong vườn ”,
Báo Tiền phong, (46)
- Nguyễn Văn Lưu (1986), “Bàn thêm về tiếu thuyết Mùa lả rụng trong
vườn ", Báo Văn nghệ
- Vân Thanh (1986), “M ột mảnh đời trong cuộc sổng hôm nay qua Mùa
lả rụng trong vườn ”, Tạp chí Văn học, (3)
- Hà Ân (1988), “Đọc Mùa lả rụng trong vườn ”, Báo Người Hà Nội
- Nguyễn Công Thanh (2006) Bỉ kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa ỉả
rụng trong vườn của Ma Văn Khảng, Tạp chí Đại học Vinh, (4b)
Có thể thấy, Mùa lả rụng trong vưòn là sáng tác thuộc đề tài gia đình
trong đời sống đô thị hiện đại - một vấn đề thời sự lúc bấy giờ nên nhận được
sự quan tâm lớn của dư luận và công chúng.
Năm 1985, ngay sau khi cuốn Mùa lả rụng trong vườn ra đời, Báo
Người Hà Nội đã tổ chức thảo luận rất sôi nổi khiến tác phẩm trở thành
“Cuốn tiếu thuyết bán chạy nhất của Nhà xuất bản Phụ nữ từ xưa đến nay và
đã có hàng chục ý kiến thảo luận, phê bình, khen ngợi, động viên rồi mà vẫn
vẫn có dấu hiệu tiếp tục” [tr 2]. Nhà nghiên cún Trần Cương đánh giá cao giá
trị nội dung tư tưởng của tác phẩm: “Cuốn tiểu thuyết Mùa ỉả rụng trong
vườn xoay quanh vấn đề gia đình - một chủ đề liên quan mật thiết tới những
chuyện hàng ngày, những chuyện tưởng như tầm thường, tẻ nhạt nhưng thực

Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay và khẳng định: Mùa lả
rụng trong vườn của Ma Văn Kháng có công khơi lại mạch viết về đề tài gia
đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỉ trong văn học Việt Nam. Tác giả nhận
xét: “Truyền thống văn hóa dân tộc và truyền thống văn hóa gia đình Việt
Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong thời đại mới là những vấn đề
4


cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Khăng khăng giữ lại tất cả nhũng gì
của ngày xưa không phải là chuyện họp thời, nhưng thoát ly truyền thống, phá
vỡ mọi nề nếp nhất định sẽ dẫn tới bi kịch”. Mùa ỉả rụng trong vườn còn đề
cập tới một vấn đề đáng báo động nữa trong buổi giao thời là không ít người
chạy theo vật chất, bị cuốn vào vòng xoáy đồng tiền, thoát ly truyền thống,
phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội. Đây là tác phẩm để lại nhiều dư âm
trong lòng người đọc.
Như vậy, đã có khá nhiều công trình quan tâm nghiên cún tác phẩm Mùa
lả rụng trong vườn nhưng đi sâu vào vấn đề văn hóa gia đình thì đến nay, vẫn
chưa có công trình nào tìm hiểu. Tiếp thu gợi ý của các nhà nghiên cứu đi
trước, khóa luận của chúng tôi tập trung tìm hiểu Văn hóa gia đình trong tiểu
thuyết Mùa ỉả rụng trong vườn của Ma Văn Khảng nhằm tiếp tục khắng định
tài năng và đóng góp của Ma Văn Kháng trên văn đàn Việt Nam đương đại.
Đồng thời cũng muốn nhìn nhận và khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề
gia đình trong đời sống xã hội người Việt Nam ngày nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của khóa luận là nghiên cún vấn đề Văn hóa gia đình
trong tiêu thuyết Mùa lá rụng trong vườỉĩ của Ma Vãn Kháng. Qua đó, thấy
được đóng góp của Ma Văn Kháng đối với văn học Việt Nam đương đại ở đề
tài gia đình trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Đồng thời, cũng
nhằm phát hiện những dự báo về vấn đề gia đình trong xã hội ngày nay.
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu

lá rụng trong vườn

6


NỘI DƯNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THƯYÉT CHƯNG
1.1. Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam
Gia đình là một hình thức tổ chức cộng đồng của con người, một thiết
chế xã hội đặc thù được hình thành, tồn tại và phát triển trên quan hệ hôn
nhân, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên.
Gia đình của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm và trải qua một
quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử, dựa trên sự kế thừa những nét đẹp
của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại.
Trong tâm hồn mỗi người Việt, gia đình là tổ ấm mang lại giá trị hạnh phúc,
sự hài hòa cho đời sống. Được xây dựng trên cơ sở bình đẳng thương yêu và
có trách nhiệm cùng chia sẻ của các thành viên, gia đình thực sự là một tế bào
quan trọng của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi
trường quan trọng trong giáo dục nhân cách và nếp sống. Dân gian có câu
“chim có tổ, người có tông/ như cây có cội, như sông có nguồn” để chỉ về cội
nguồn gia đình của mỗi con người. Con người sống với nhau dựa vào luân lí,
lễ giáo và tình thương của gia đình. Gia đình chính là điều tự hào nhất khi
mỗi con người kể về bản thân mình và bất kể đi đâu, làm gì cũng luôn nhớ về
gốc rễ, nguồn cội.
Nét đẹp lớn nhất mà ai cũng có thể nhận thấy, bắt nguồn từ thuở cha ông
chảy mãi đến tận ngày nay, đó là mối quan hệ nghĩa tình trong gia đình. Gia
đình - một tổ chức dựa trên quan hệ nghĩa tình. Đây là nét đặc trung, một nét
đẹp văn hoá mà có lẽ chỉ có ở một dân tộc hình thành từ nền nông nghiệp lúa
nước, lại phải trường kỳ chịu cảnh thiếu thốn khó khăn, phải chống chọi với

nhau. Cùng một đám ruộng ở một cánh đồng, từ khâu gieo vãi, chăm sóc, thu
hoạch, các gia đình đều phải liên kết với nhau. Cùng nhau làm kênh mương


dẫn nước, rồi lấy nước từ ruộng nhà này sang nhà khác mà không sợ ai thiệt ai
hơn, rồi đắp đê ngăn lũ lụt, xây dựng các hồ đập chống hạn mùa khô, thậm
chí những khi cần lao động để sản xuất cho kịp thời vụ, các gia đình còn đổi
công cho nhau. Cùng họp tác với nhau trong sản xuất, trong việc chống chọi
thiên tai, thú dữ, nên người Việt Nam sớm sinh sống theo lối quần cư. Làng từ
đó mà hình thành rồi sau này, làng trở thành các đơn vị hành chính.
Ngày nay, kinh tế thị trường đang gây một sức ép lớn lên mọi người,
thời gian trở nên eo hẹp, tâm lí trở nên nặng nề, nhiều người đã đặt cái tôi
hưởng thụ và thực dụng của mình lên trên hết, bỏ quên gia đình, người thân,
xóm giềng, coi nhẹ các giá trị nhân văn truyền thống, thậm chí còn ngược đãi
với cha mẹ, anh em. Đó là điều mà chúng ta phải cùng nhau lên án. Hãy quay
về với gia đình, coi gia đình là điếm tựa bền vũng, hãy sống tốt với nhũng
người thân trong gia đình, những người xung quanh. Nhận thức đúng giá trị
văn hoá và bằng tình yêu thương chân thành đối với gia đình, suy đến cùng đó
chính là lòng yêu Tổ quốc.
1.2.

Đe tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại

Gia đình có vị trí rất quan trọng trong tâm hồn người Việt. Văn học là tấm
gương phản ánh chân thực mọi mặt của cuộc sống con người. Vì thế, trong văn
học, gia đình cũng là đề tài được rất nhiều tác giả quan tâm khai thác. Do mỗi
giai đoạn có bối cảnh lịch sử khác nhau nên vấn đề gia đình được các tác giả
nhìn nhận và miêu tả ở những góc nhìn và mức độ khác nhau.
Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, văn học bắt đầu phát triển theo hướng hiện
đại hóa. Lúc đầu là những truyện ngắn của các nhà nho tân học, hoặc những

đó. Nhất Linh cũng còn tác phẩm Lạnh lùng lên án luật tam tòng không cho
người vợ góa chồng được tái giá mà phải thủ tiết nuôi con thơ. Đó là tác phẩm
gây nhiều tranh cãi và lên tiếng phá vỡ gia đình cũ. Đọc tiểu thuyết Gia đình
của Khái Hưng, bên cạnh việc miêu tả cái xấu xa, cũ kĩ của đại gia đình
phong kiến, tác giả cũng dựng lên một mô hình gia đình mới. Neu gia đình
Viết - Phụng, An - Nga đại diện cho mô hình cũ thì gia đình Hạc - Bảo là hình
10


mẫu lí tưởng cho kiểu gia đình mới. Tuy nhiên trong hoàn cảnh xã hội của
nước ta lúc bấy giờ, mô hình ấy vượt quá xa so với thực tế
Ngoài Tự lực văn đoàn còn phải kể đến một số tác phẩm như Giông tố của
Vũ Trọng Phụng cũng phản ánh mặt trái của gia đình tư sản giàu có: cha cướp
vợ của con, con thông dâm với vợ của bố, mẹ có nhiều con mà vẫn đi ngoại
tình, anh em ruột lấy nhau, anh em ghen ghét cốt hại bố để chiếm gia sản. Hay
trong lả ngọc cành vàng Nguyễn Công Hoan cũng thể hiện những bi kịch của
gia đình. Gia đình cổ hủ, lạc hậu, đi theo phép tắc của lễ giáo phong kiến, ép
duyên con cái, ngăn cấm tình yêu của giới trẻ, để gây ra những cảnh điên loạn,
chết chóc. Vấn đề về gia đình trong văn học giai đoạn này đã thể hiện được
những cái nhìn mới, luồng gió mới cho bước đầu phát triển.
Trong nửa đầu thế kỉ XX, các sáng tác hiện thực xã hội tuy không đi sâu
vào vấn đề gia đình nhưng tác phẩm nào cũng đề cập đến vấn đề này. Nam Cao
là nhà văn phê phán vì vậy ông cũng nhìn gia đình dưới góc độ hiện thực của
người nông dân và trí thức cùng gia đình của họ. Ông miêu tả từ những gia
đình thiếu thốn, đói khổ ở nông thôn như Lão hạc, Trẻ con không được ăn thịt
chó, Nghèo, M ột đảm cưới...Trong những gia đình này cái đói, cái nghèo đeo
bám làm cuộc sống khó khăn, mỗi con người phải vật lộn, thậm chí bóp méo
nhân cách người cha (Trẻ con không được ăn thịt chó), gia đình biến đổi, lục
đục, vợ chồng bất hòa, gia đình li tán. Bên cạnh đó, Nam Cao cũng rất chú ý
đến tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Họ bị gánh nặng áo cơm “ghì sát đất”. Hộ

giáo. Mị trong Vợ chồng A Phủ bị bắt về làm dâu trong nhà thống lí Pá Tra để
trò nợ, món nợ truyền kiếp từ cha mẹ Mị. Ngày ngày, Mị tưởng mình là con
trâu con ngựa chỉ biết ăn cỏ và làm việc mà thôi vì MỊ đã được cúng trình ma
nhà thống lí rồi, chết cũng phải làm con ma nhà thống lí. Cuộc sống của Mị
héo mòn dần trong căn phòng bé tí với một ô cửa mờ mờ trắng trắng không
biết là sương hay nắng, nếu không gặp A Phủ và bỏ trốn cùng A Phủ. Cuộc
sống của vợ chồng A Phủ ở Phiềng Sa là những tháng ngày đẹp, hai con

12


người yêu tự do có sức mạnh vưọt qua cường quyền đã sớm giác ngộ và đi
theo cách mạng.
Khi miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa thì gia đình trong văn
học chủ yếu đề cập đến vấn đề mâu thuẫn bất hòa giữa lớp trẻ và thế hệ đi
trước trong việc hợp tác hóa và đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Các tác
phẩm tiêu biểu như Cải sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Bão Biển (Chu
Văn) đã phản ánh kịp thời vấn đề gia đình trong xây dụng xã hội mới.
Sau chiến thắng 30/4/1975, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất.
Lịch sử sang trang nhưng văn học vẫn trượt theo quán tính một thời gian nữa.
Đe tài chiến tranh cách mạng vẫn là đề tài ưa thích của văn nghệ sĩ. Cảm
hứng ca ngợi vẫn là cảm hứng chủ đạo của phần lớn tác phẩm ra đời trước
1980. Tuy nhiên người đọc không còn nhiều cảm hứng cho mảng đề tài này
như trước nữa. Đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần VI, các nhà văn luôn trăn trở
cho sự đổi mới văn học, cảm hứng “sử thi” trong cách mạng được thay bằng
cảm hứng “thế sự”, con người nói về những vấn đề tồn tại trong xã hội. Các
nhà văn không né tránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất,
phần chìm của hiện thực cuộc sống. Đe tài gia đình có phần bị chìm lấp sau
Cách mạng tháng Tám được khơi nguồn trở lại, tạo thành dòng chảy chính và
thu được những thành tựu đáng kế. Có thể nói chưa bao giờ đề tài gia đình lại

yêu. Nhung thật trớ trêu khi Châu - vợ anh không hề yêu anh mà chỉ muốn lấy
anh để hợp thức hóa cái thai trong bụng với người tình cũ. Bi kịch cứ theo
đuổi cuộc đời Sài. Nguyên nhân là do Sài thiếu bản lĩnh nhưng nguyên nhân
sâu xa chính là sự áp đặt của xã hội, công đồng lên cá nhân. Sài có phản
kháng nhưng bị gia đình, xã hội đè bẹp. Tác phẩm cho thấy một cái nhìn mới,
chân thực hơn về xã hội đương thời.
Không chỉ có những gia đình giàu có bị mặt trái của nền kinh tế thị
trường làm méo mó, biến dạng mà ngay cả trong nhũng gia đình vốn êm ấm
giản dị cũng bị đồng tiền làm cho điêu đứng, tan vỡ. Trong Tiễn biệt những
ngày buồn của Trung Trung Đỉnh, vợ chồng Xoay - Sương sống cuộc sống
14


êm đềm hạnh phúc với một sổ gạo, một suất lương. Nhung thời thế thay đổi
thì suy nghĩ con người cũng thay đổi. Sương tìm được công việc mới và đời
sống vật chất ngày một cải thiện. Song chính từ công việc mới này mà Sương
thay đổi từ cách ăn mặc, nói năng đến cử chỉ, hành động. Cuối cùng cô đã
lạnh lùng rời bỏ người chồng từng êm đềm yêu thương, hạnh phúc với mình
bởi giờ đây cô thấy anh là người chồng tốt, thừa tình yêu và thiếu tiền tài, của
cải để tìm cuộc sống mới.
Mùa lả rụng trong vườn của Ma Văn Kháng kể chuyện một gia đình trí
thức còn giữ nhiều nền nếp cổ truyền. Nhìn trên nét lớn, đây cũng là một gia
đình kiểu “tứ đại đồng đường” (dù không thật điển hình), bởi ở trong gia đình
lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (gia đình Đông - Lý, gia đình Luận Phượng và sau này có thêm vợ con Cừ). Be ngoài đây là một gia đình mô
phạm mẫu mực, có nề nếp gia phong. Vậy mà cuộc sống khó khăn, đầy biến
động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình “mẫu mực” ấy vào một
bước ngoặt với những dấu hiệu rạn nứt rõ ràng, không dễ khắc phục. Trong
Đám cưới không có giấy giả thủ Ma Văn Kháng đã khai thác rất thành công
đề tài gia đình. Tự là một thầy giáo hết lòng yêu nghề nhưng xã hội đổi thay
đã làm Tự cảm thấy lạc lõng, hụt hẫng. Xuyến, vợ anh chạy theo món lợi vật

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01/12/1936. Quê
gốc ở ở phường Kim Liên - quận Đống Đa - Hà Nội, nay là Quận Ba Đình Hà Nội. Thuở xưa vùng này nằm ở cửa ngõ phía Nam kinh thành Thăng
Long, một vùng nông thôn lam lũ và nghèo khổ. Mọi người cần cù và chịu
khó làm ăn nhung cuộc sống vẫn không thay đổi. Cho đến khi cách mạng về
thì người dân được học hành, làng quê thay đổi da thịt. Cũng vì vậy, Ma Văn
Kháng sớm ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với đất nước với cuộc
đời. Ông là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam.
Vào năm 1950 Ma Văn Kháng học trường Thiếu sinh quân Việt Nam.
Từ năm 1952- 1954 ông tiếp tục học tại trường Sư phạm Khu học xá Nam
16


Ninh (Quảng Tây - Trung Quốc). Năm 1960, Ma Văn Kháng vào học tại
trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông xung phong lên dạy
học ở Lào Cai, là giáo viên dạy Văn, là hiệu trưởng trường trung học.

về sau

ông được Tỉnh ủy điều về làm thư kí cho đồng chí Bí thư tỉnh ủy Trường
Minh, rồi làm phóng viên, phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ Tỉnh. Bí danh
Ma Văn Kháng được dùng làm bút danh đế nói lên sự gắn bó sâu sắc và tình
yêu của tác giả đối với vùng đất mà ông từng hoạt động hơn 20 năm. Sau khi
đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến nay ông về công tác tại Hà Nội, từng
làm Tổng biên tập, phó giám đốc Nhà xuất bản Lao Động. Từ tháng 3/1995 là
ủ y viên ban chấp hành, ủ y viên Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam khóa V,
Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài.
Đinh Trọng Toàn khi mới ngoài hai mươi tuổi với lí tưởng thời đại và
lòng say mê văn học đã hăm hở đi lên vùng đất mới lạ và cũng rất vất vả, khó
khăn - Lào Cai. Tại đây ông đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình và bạn bè

Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết - 1992)
Ngày đẹp trời (truyện ngắn - 1986)
Vệ s ĩ của Quan Châu (truyện ngắn - 1988)
Giấy trắng (tiểu thuyết)
Trái chín mùa thu (truyện ngắn - 1988)
Heo may gió lộng (truyện ngắn - 1992)
Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn - 1994)
Ngoại thành (truyện ngắn - 1996)
Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyến tập - 1996)
Vòng quay cổ điển (truyện ngắn - 1997)
M ột chiều giỏ lộng (tiểu thuyết - 1998)
Ngược dòng nước lũ (tiếu thuyết -1999)
M ột mình một ngựa (Tiếu thuyết 2009)
Năm tháng nhọc nhằn, năm thảng nhớ thương (hồi ký 2011)

18


Sáng tác của Ma Văn Kháng được đánh giá cao ở cả thể loại truyện
ngắn và tiểu thuyết. Tính đến nay, nhà văn đã có trên 200 truyện ngắn và
15 tiểu thuyết.
Ồng được trao nhiều giải thưởng trong đó có giải thưởng loại B của Hội
Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho quyển tiểu thuyết Mùa lả rụng trong vườn\
Giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho tập
truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ; Giải thưởng Văn học ASEAN. Giải thưởng
Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về
Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, Mưa
mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tần.
Ồng đã từng bộc bạch “Thôi thúc tôi viết là cái đẹp thật xúc động, thật
cao cả, thật khiêm nhường và lớn lao trong nhũng hoàn cảnh đau buốc nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status