TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ VÀ KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TÊ
ĐỐI
NGOẠI
KHOA
LUÂN TÓT
NGHIỆP
THỰC TRẠNG
GIÁM
ĐỊNH VÀ
BỔI
THƯỜNG
TON THẤT
TRONG
BẢO HIỂM
HÀNG
HOA VẬN CHUYỂN BẰNG
ĐƯỜNG
BIỂN
TẠI
TONG
CÔNG
Hương
HÀ
NỘI-8/2008
mạc
Lạc
LỜI
NÓI
ĐẨU Ì
CHƯƠNG
Ì:
3
Cơ
SỞ LÝ LUẬN VỀ
GIÁM
ĐỊNH VÀ
Bổi
THƯỜNG TON THẤT
TRONG
BẢO HIỂM
HÀNG
HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG
BIỂN
3
ì.
TỔN THẤT
TRONG
BẢO HIỂM
HÀNG
HÓA 3
Ì.
9
3.4.
Bao
kiện bị
móc
rách
lo
3.5.
0
nhiễm mùi hoặc bị lấm bẩn
lũ
3.6. Mốc, mục, thối, hỏng
lo
3.7.Gỉ
li
3.8.
Cháy
li
3.9.
An
tì và nội tỳ
12
4.
Một
số
biện
pháp phòng
nga
và
hạn
3.3. Xác định
mức độ
tn thất về
mẫu
mã
và bao bì
21
HI. BỒI
THƯỜNG TỔN THẤT 21
Ì. Khái
niệm
và nguyên
tắc
tính toán
tiền
bồi
thường
tổn
thất
21
2.
Cách
tính toán
bồi
thường
tổn
thất
23
CHƯƠNG
2
phát
triển
Tổng
Công
ty
Bảo
Minh
25
2.
Cơ
cấu tổ
chức
cạa
Tổng
Công
ty
Bảo
Minh
29
3.
Chức
năng,
nhiệm
vụ
cạa
Tổng
công
ty cổ
phần
Bảo
công
ty
Bảo
Minh
36
li.
THỰC
TIỄN
GIÁM
ĐỊNH VÀ
Bồi
THƯỜNG TON THẤT
TRONG
BẢO
HIỂM
HÀNG
HÓA VẬN
CHUYÊN
BẰNG
ĐƯỜNG
BIÊN
TẠI
TỔNG
CÔNG
TY BẢO MINH 37
1.
Tổn
thất
đối với
từng
bao
kiện
41
1.8.
Hàng
rời
41
2.
Quy
trình
giám
định
tổn
thất
hàng hóa
vận
chuyển
bằng
đường
biển
42
3.
Thực
trạng
giám
định
tổn
thất
tại
BẰNG ĐƯỜNG
BIÊN
CỦA
BẢO
MINH
52
1.
Thuận
lợi
52
1.1.
Môi
trường
vĩ
mô
52
1.2.
Môi
trường
vi
mô
53
2.
Khó khăn
54
2.1.
Ngoài
hệ
thống
54
ĐỊNH
VÀ
Bồi
THƯỜNG
TỔN THỦT
57
li.
MỘT
SỐ
GIẢI
PHÁP
CỤ THỂ
61
Ì.
Giải
pháp
thúc
đẩy
công
tấc
giám
định
61
2. Giải
pháp
thúc
đẩy
công
tác bồi
thường
gần
đây,
thương mại
quốc
tế
luôn đóng
vai
trò
hết
sức
quan
trọng trong chiến
lược phát
triển
kinh tế
của
mỗi
quốc
gia
trên
thế
giới.
Đặc
biệt
trong
những
năm đầu
thế kỉ,
xu hướng liên
kết
sự phát
triển
đựng bộ của
nhiều
ngành liên
quan
như:
ngoại
giao, kinh tế
quản lý,
vận
tải,
tài chính, bảo
hiểm
trong
đó, có
thể
nói một
trong
những
ngành
giữ
vị trí
quan
trọng nhất, then chốt
nhất
chính là ngành bảo
hiểm.
Trong
kinh tế hiện đại,
xuất kinh
doanh.
Do đó, có
thể
thấy
ngành bảo
hiểm
có tác động
không nhỏ
tới
các ngành khác
trong
nền
kinh tế
quốc
dân.
Trong
hoạt
động bảo
hiểm,
công tác giám định và
bựi
thường
tổn
thất
mang ý
nghĩa
quyết
định.
Nó xác định rõ
phần
thúc đẩy
hoạt
động
kinh
doanh
bảo
hiểm.
Hoạt
động
kinh
doanh
bảo
hiểm
hàng hoa ở
Việt
Nam
hiện
nay
tuy
đã
có
những
bước
tiến
nhất
định,
song
vẫn chưa
thực
hỏi
phải
có
những
đầu tư mang tính
chiến
lược dài
hạn,
đựng bộ để
hoạt
động
Ì
kinh
doanh
này
không
những
hiệu
quả
mà còn góp
phần
thúc dẩy
sự
phát
triển
các ngành
kinh tế
khác.
Trước
tình hình
Ngoài
lời
nói
đầu, kết luận,
mục
lục,
danh
mục
tài
liệu
tham
khảo,
khoa
luận
được
chia
thành ba
phần
chính:
Chương
1:
Cơ
sấ lý
luận
về giám định
và
bồi
thường
tổn
thất
Chương
3:
Giải
pháp thúc
đẩy
công
tác
giám định
và
bồi
thường
tổn
thất
trong
bảo
hiểm
hàng hoa vận
chuyển
bằng
đường
biển
tại
Bảo
Minh.
Mục đích của khóa
luận
là nghiên cứu
thực
tiễn
hoạt
đường
biển.
Mặc
dù có
nhiều
cố
gắng
nhưng
do
thời
gian
và
kiến
thức
có
hạn
nên
khoa
luận
vẫn không tránh
khỏi
thiếu
sót.
Tác
giả rất
mong
nhận
được
sự
đóng
cảm ơn
tất
cả các
thầy
cô
giáo
đã
cung
cấp
những
kiến
thức
cơ
sấ
cũng
như
chuyên ngành
đế
tác
giả
có
thể
hoàn thành
được
khóa
luận
tốt
nghiệp
này.
2
đối
tượng
bảo
hiểm
do
rủi
ro
gây
ra.
Nếu
rủi
ro là
mối
đe
dọa,
là
nguyên nhân gây
ra tổn
thất
thì
tổn thất
là cái
đã
xảy
ra
rồi
và
là
hậu quả
của
bị
hư
hỏng,
mất
mát,
thiệt
hại.
Tổn
thất
bộ
phận
có
thể thể
hiện
về
khối
lượng,
trọng
lượng,
phẩm
chất,
giá
trị;
ví
dụ:
lô
hàng
lo
tấn
đường
hại.
Tổn
thất
toàn
bộ có
hai
loại:
- Tổn
thất toàn
bộ
thực
sự
là
toàn bộ
đối
tượng
bảo
hiểm
theo
hợp
dồng
bảo hiểm
bị
hư
hỏng,
mất
mát,
thiệt
hại
hoặc
cháy
hoặc
nổ;
hay hàng
hóa
bị
hư
hỏng
nghiêm
trọng
như
gạo hay
ngô
bị
thối
do
3
ngấm nước
hoặc
người
được bảo
hiểm bị
tước
hẳn
quyền sở
hữu
đối với
hàng
hóa như hàng
bị
bộ
ước
tính
là
thiệt
hại,
mất mát
của
đối
tượng bảo
hiểm
có
thể
chưa
tới
mức độ
tổn
thất
toàn bộ nhưng
đối
tượng bảo
hiểm
bị
từ
bỏ
một
cách hợp
lý, bởi
vì
tổn
phí.
Tổn
thất
toàn bộ ước
tính
gồm 2
dạng:
+ Dạng
thứ
nhất
là chắc chắn
tổn
thất
toàn bộ
thạc
sạ sẽ xảy
ra,
ví
dụ ví
dụ
một
lô
ngô được
chở
từ
nước ngoài về
Việt
Nam, dọc đường ngô
bị
ngấm
ví dụ vận
chuyển
sắt
thép
từ
nước ngoài về
Việt
Nam, dọc đường tàu
hỏng
máy
buộc
phải
vào Hồng Kông để
sửa chữa.
Để
chữa
tàu
phải
dỡ
sắt
lên
bờ,
trong
thời
gian
chữa
phải
lưu kho lưu bãi
sất
thép,
sất
thép.
Như
vậy,
muốn được
coi
là
tổn
thất
toàn bộ ước tính thì
phải
có hành
động
từ
bỏ
hàng.
Từ bỏ hàng hóa
là
từ
bỏ mọi
quyền
lợi
liên
quan
đến hàng
hóa hay là sạ
tạ nguyện
của
người
được bảo
lý, từ
bỏ
rồi
thì
không được rút
lui.
Người
bảo
hiểm
có
4
thể
từ
chối
hay
chấp
nhận
từ
bỏ
hàng,
việc
từ
chối
này của
người
bảo
hiểm
không phương
hại
đến
người
được bảo
hiểm
phải
theo
dõi để
nắm một cách chính xác tình hình tình hình
tổn
thất
của
hàng
hóa,
tính toán
thiệt
hơn để
từ
bỏ
hàng một cách hợp
lý,
mằi được
chấp nhận.
2.2. Theo
tính chất
của
tổn
thất
a.
Tổn
thất chung
là
biển
thì
gặp
bão,
thuyền
trưởng và các
thuyền
viên trên tàu tìm mọi cách
chống
đỡ
vằi
cơn bão nhưng bão ngày
càng
to
và tàu có
nguy
cơ
bị
đắm,
thuyền
trưởng
quyết
định
vứt
bằt
một số
hàng để cho tàu nhẹ
bằt
và tàu đã qua cơn
bão.
phải
có hành động
tổn
thất
chung.
Có hành
động
tổn
thất
chung
khi
và
chỉ
khi
có
sự hy
sinh
hoặc
chi
phí
bất
thường được
tiến
hành một cách
cố
ý và hợp
lý vì
an toàn
chung
nhằm
một
số
nưằc
cũng
cho phép
những
chi
phí
phát
sinh
tuy
không
phải
là cần
thiết
để tránh
hiểm
họa cho tàu và hàng
nhưng
là hậu
quả
trực
tiếp
của
hành động
tổn
thất
chung thì cũng
được công
nhận
tự
nguyện,
hữu ý của
thuyền
trưởng
và
thuyền
viên trên
tàu;
-
Hy
sinh
hoặc
chi
phí
phải
là
đặc
biệt,
phi
thường;
- Hy
sinh,
hoặc
chi
phí
phải
hợp lý và
vì
an toàn
động
tổn thất
chung.
Tổn
thất
chung
bao gồm
hai
mặt cơ
bản
là
hy
sinh tổn thất
chung
và
chi
phí
tổn thất
chung:
-
Hy
sinh tổn thất
chung
là
những
thiệt
hại
hoặc
chi
phí
- Chi phí
tổn thất
chung
là
những
chi
phí
phải
trả
cho
người thứ
ba
trong việc
cứu
tàu,
hàng,
cước
phí
thoát
nạn hoặc
chi
phí
làm
cho tàu
tiếp
tốc
hành
trình.
Chi
phí
b.
Tổn
thất riêng
là những
thiệt
hại,
mất mát
của
đối
tượng
bảo
hiểm
do
một
rủi
ro bất ngờ, ngẫu
nhiên gây
ra;
ví
dố:
hàng hoa bị hư
hỏng
do
tàu
bị
đắm, mắc
cạn,
đâm va hay
bị
hư
khác
biệt
giữa tổn thất
riêng và
tổn thất
chung
là ở
chỗ: tổn thất
riêng xảy
ra
một cách
ngẫu
nhiên;
tổn thất
của
người
nào thì
người
đó
chịu
mà không có sự đóng góp
giữa
các bên;
tổn thất
riêng có
thể
xảy
ra
ở
bất
hơi
Hàng hóa đưỏc chuyên chở dài ngày trên
biển
nên hay bị hư
hỏng
do
nước
ướt
hoặc
bị ngưng
tụ
hơi
nước.
Trong
nhiều
trường
hỏp, kiện
hàng bị
ngấm nước nhưng
khi
giám định thì đã khô
đi,
đặc
biệt
là ngoài bao
bì.
Tuy
nhiên nếu chú ý thì vẫn dễ
thấy
dấu
tàu
Sự ngưng đọng hơi nước
trong
tàu xảy ra là do chênh
lệch nhiệt
độ
giữa
các vị trí
trong
hầm tàu và đưỏc xếp
trong
một
khoảng
thời
gian
dài
do
hàng có
chứa
thủy
phần
và do sự vận
chuyển
không khí
từ
nơi này
với
nơi khác
trong
hầm tàu. Nếu không có sự chênh
là:
7
- Do mưa
bão,
đâm
va,
mắc
cạn
làm nước tràn vào kho
chứa
hàng
hoặc
bị
hấp hơi
nước
vì
phải
đóng thông gió để tránh mưa bão;
-
Do nước
rò chảy
vào hầm hàng
vì:
miệng tàu
không kín
nước,
hệ
thống
ống
nước
do hệ
thống
thông gió bị hư
hỏng,
do
chất
xếp hàng
sai
nguyên
tắc
nhất
là
với
những
hàng có hàm lượng nước
cao
như
rau,
quả,
chèn
lót
sai
quy cách
hoặc
thiếu
chèn
lót,
xếp
gần
buồng
các
thùng
phuy chứa
hàng
lỏng;
- Do
hoạt
động
sinh
trưởng và hô hấp
của
côn trùng
trong
một số
loại
hàng hoa
điển
hình như
ngũ cốc
làm nóng
hàng,
phần
hàng nóng
bốc
hơi lên
bề
mặt có
nhiệt
độ
thấp
dỡ,
chờ
đợi
xếp hàng
hoặc
trong
vận
chuyển
xà
lan
(người
bảo
hiểm
không
chịu
trách
nhiệm về
ướt
mưa
trước
khi
xếp
hàng
lên tàu
tại
cảng
khởi
hành).
c.
Ướt
hao hụt
Mất
mát, hao
hụt
hàng hóa là một
tổn
thất
rất
dễ gặp
trong
quá trình
chuyên chở hàng
hóa,
mà nguyên nhân
xuất
phát vì:
- Do mất cắp (ván hòm bị nậy
vỏ,
đóng đinh
lại,
khâu
lại,
mất cặp chì,
nhìn bên
trong
có
hiện
tưống
bất
thường,
không thích họp
(người gửi
hàng
chịu
trách
nhiệm);
do
chất
xếp lên tàu
sai
quy
cách
(người
chuyên chở
chịu
trách
nhiệm);
do va chạm
mạnh
khi
tàu bị
tai
nạn
bất
ngờ ngoài
biển
hoặc
do bốc dỡ
nặng tay
thường khó xác định
mất.
Đôi
khi
có trường hốp một lô hàng
lớn
đưốc
đóng
trong
một số
kiện
không phù hốp
với
phiếu
đóng gói và hàng
thiếu
ở
kiện
hàng này
lại
có
thể
tìm
thấy
ở
kiện
hàng khác;
- Do hao
hụt tự
nhiên đặc
biệt
bẹp chủ yếu do bị
chấn
động mạnh, va chạm mạnh, rơi
từ
trên
cao,
bị đè
nặng
hay bị chèn
ép.
Nguyên nhân có
thể do:
bao bì không
9
phù hợp;
tai
nạn
bất
ngờ ngoài
biển; chất
xếp bao bì
sai
quy cách; bốc dỡ
nặng
tay;
tính
chất
dễ vỡ
của
hàng hoa.
loại
gì, kiểm tra
nơi
chất xếp
hàng,
phương
tiện
chuyên
chở.
- Do hầm
chứa
hàng trên tàu lấm
bẩn,
hôi
thối:
vì ảnh
hưởng
của các
loại
hàng hoa xếp trên tàu của
chuyến
hàng
trước,
tàu không được cọ rửa
sạch
trước
khi
tiếp
nhận
chuyến
lẫn
hoa
chất,
chè,
thuốc
xếp
chung,
hàng
thiếu
chèn lót,
ngăn
cách,
thiếu
ván kê lóp
dưới
cùng;
- Do
khuyết
điểm
của bao
bì: vật
liệu
làm bao
bì,
chèn lót
trong
kiện
hàng như
gỗ,
phôi
phần
của chúng lên cao quá mức
tối thiểu
nào đó. Các
vi sinh vật
đó chủ yếu là
vi
trùng và nấm. Vi trùng và men chỉ
có
thể
phát
triển
trong
những
điều
kiện
thuận
lợi.
Nó không
thể sinh
trưởng
trừ
phi
có nước ở
dạng
lỏng
hoặc
tối thiểu
lớp
hữu cơ bên
kiện
bảo
quản
ẩm. Vì
những
lý do
đó, tổn
thất
do mốc có
những
tác
hại
về
kinh
tế lớn
hơn là do các
loại
vi
sinh
vụt
khác, đồng
thời
đòi
hỏi
việc
giám định
phải
giải
quyết
khẩn
quy cách; do
nhiệt
độ bảo
quản
không phù hợp (hàng
không được bảo
quản
theo
nhiệt
độ quy
định,
máy
lạnh
bị
hỏng
đột
ngột);
do
bản chất
hàng
hoa;
do côn trùng có
sẵn
trong
hàng hoa
hoặc
xâm
nhụp
từ
bên
biệt
là
nước
biển;
do
nhiễm
phải
hoa
chất
hoặc
hơi hoa
chất
nặng;
do
thiếu
sót của
bao
bì hàng
hoa;
do rách vỏ bao bì hàng
hoa;
do tính
chất
hàng hoa (nếu
không tìm
ra
nguyên nhân bên ngoài gây
hỏng).
3.8.
Cháy
cố ý gây cháy của
người
chuyên
chở,
bảo
quản).
Cần phân
biệt
tổn
thất
chung
và
tổn
thất
riêng
trong
tai
nạn cháy, nếu hàng
hỏng
do bị cháy thì
là
tổn
thất
riêng,
nếu
hỏng
do bị ướt nước và hoa
chất khi
cứu hoa thì được
coi
tỳ phải
qua
thời
gian
hoặc
qua sử
dụng
mới được phát
hiện.
Nội
tỳ là tỳ
vết
xảy ra do bản
chất
hàng hóa. Nội tỳ thường được sử
dụng
để mô
tả
nguyên nhân
tọn thất
do chính bản
chất
hàng hóa
đó.
Nguyên
nhân này có
thể
là do
sinh vật
sống,
có trách
nhiệm
về hàng hóa trên
tàu.
Do phạm
vi
của
khóa
luận
nên ở đây tác
giả chỉ
đưa
ra
những
nguyên
tắc
chung
nhất
để
phòng
ngừa,
hạn
chế
thiếu
hụt
và
tọn thất
trên tàu.
a. Công
tác
nhiệt
của
hàng.
Việc
kiểm
tra
các
thiết
bị này
phải
được
tiến
hành trước
khi
nhận
hàng để có sự
diều
chỉnh
thích
hợp.
Hầm hàng chở hàng khô
phải
sạch
sẽ,
khô ráo và không có mùi. Hầm hàng chở hàng
lỏng
cũng
phải
sạch
sẽ,
khỏe
ở
hai
bên mạn và
12
đáy hầm cố
định.
Phải
kiểm
tra
hệ
thống
này để phát
hiện
hư
hỏng
và
thay
thế
kịp
thời,
ngoài ra tùy
theo
cách
thức
bao gói và tính
chất
của hàng mà
phải
chuẩn
thuật
thì
việc
chèn lót, thông thoáng mới đớt
hiệu
quả
mong muốn.
c.
Chất
xếp
hàng đúng
kỹ
thuật
Trước
hết,
dựa vào thông
tin
về hàng
lập
được sơ dồ
chất
xếp hàng đảm
bảo
được yêu cầu về an toàn tàu và
hàng.
Trong
quá trình
chất
xếp hàng
phải
boong
khi
có sự đồng ý
bằng
văn bản
của
người
gửi
hàng.
Khi nhận
hàng
xuống
tàu, sĩ
quan
và
thủy
thủ
trực
ca
phải
kiểm
tra
tình
trớng
bao
bì,
số
lượng
hàng để phát
hiện
Nếu
thuế
kiểm
đến,
vẫn phải
thường xuyên
kiểm
tra,
hàng ngày
phải
đối
chiếu
các số
liệu
để kịp
thời
phát
hiện
những sai
biệt
nếu có và có
biện
pháp
khắc phục.
Giám sát
việc
chất
xếp hàng đảm bảo cho hàng không bị
lấy
cắp.
phòng
chống
cháy,
nổ,
độc
hới
và ô
nhiễm
thích hợp.
13
-
Kiểm
tra
thiết
bị
chằng buộc
hàng để tránh cho hàng bị
dịch chuyển
khi
gặp
thời
tiết
xấu,
nhất
là
chở
hàng trên
boong.
e.
Khi dỡ hàng
người
bảo
hiểm
uy
quyền
nhằm
xác định mức độ và nguyên nhân của
tổn thất
làm cơ sở cho
viợc bồi
thường.
Trong
buôn bán
quốc
tế,
hoạt
động giám định
tổn
thất
được
tiến
hành
khi
hàng hoa bị hư
hỏng,
đổ
vỡ,
thiếu hụt,
giảm
phẩm
giám định
được.
Sau
khi
giám
định,
người
giám định sẽ cấp
chứng
thư giám
định.
Chứng
thư gồm
hai
loại:
Biên bản giám định và
giấy
chứng nhận
giám
định.
So
với
giấy
chứng nhận
giám
định,
biên bản giám định là một văn bản đầy đủ hơn,
gồm có
tiếng Viợt
và
Survey
Report)
[2].
Giấy
chứng nhận
giám định thường được dùng
khi người
bảo
hiểm
là
các công
ty
bảo
hiểm
của
Viợt
Nam.
14
Biên bản giám định là
chứng
từ
rất
quan
trọng trong việc
đòi bồi
thường,
vì vậy
khi
hàng
cập cảng đến, nếu
ủy
quyền.
Ở đây
cần
phân
biệt
sự
khác
nhau
giữa việc
giám
định
tổn
thất
của
công
ty
giám định và của công
ty
bảo
hiểm.
Thứ
nhất
là
tổn
thất
do công
ty
bảo
hiểm
thất
do công
ty
bảo hiểm
hay
đại
lý
giám
định
của họ
cấp.
Sau
đó,
công
ty
bảo hiểm sẽ
nhận
bảo lưu
quyền
đòi
bồi
thường
với
người
thứ
ba
từ
phía nguôi đưỞc bảo
hiểm.
Thứ
của
họ thông
qua chứng
thư giám
định
tổn
thất
xác định
rõ mức
độ,
nguyên nhân và
thời
điểm
xảy
ra tổn
thất
do một công
ty
giám
định
độc
lập,
có uy tín
cấp.
Như
vậy,
đối
tưỞng
phục
vụ của công
phục
vụ
của
công
ty
bảo
hiểm là chỉ
giám định hàng
hóa,
phương
tiện
vận
tải
bị
tổn
thất
đã mua bảo
hiểm
và do
những
rủi
ro
đưỞc bảo
hiểm
gây
nên.
Mục đích sử
dụng
của
chứng
bảo
hiểm cấp là
để làm cơ
sở
tự
xét
bồi
thường
thiệt
hại
cho người
mua bảo
hiểm,
và/hoặc
là chứng từ
để
khiếu nại
đòi
người thứ
ba
bồi
thường
[20].
15
2.
Phương pháp giám định
Trên cơ
sở
thông
tin
định
cho phù
hợp,
đảm bảo tính
trung thực,
khách
quan.
Trong
thực
tế,
người
ta
thường
sử dệng
3 phương pháp giám
định
chủ yếu sau
đây:
a.
Phương pháp giám định
cảm quan
Phương pháp giám định cảm
quan là
phương pháp giám định mức độ
tổn
thất
bằng
các giác
quan
của con
giá
trị
sử
dệng hoặc
giá
trị
thương
mại
của
hàng hóa.
b.
Phương pháp điều
tra
chọn
mẫu
Phương pháp
điều
tra
chọn
mẫu là phương pháp áp
dệng
toán xác
suất
thống kê. Người ta
lấy
bất
kì một số
ít
hàng hóa để xác định mức độ
tổn
Phương pháp
đo
lường tính toán
Phương pháp đo
lường
tính toán
là
phương pháp dùng máy
móc,
trang
thiết
bị
đo
lường
để
kiểm
tra khối
lượng
và
chất
lượng
của
hàng hóa
bị
hư
hỏng.
Phương pháp này đảm bảo được tính chính xác nhưng mất
nhiều
thời
gian,
mất.
Tuy nhiên
khi
hàng đến
trong
tình
trạng
bị
tổn thất
thì
việc
xác định mức độ hàng
tổn
thất
không
phải
là dễ
dàng.
Trong
trường
hợp như
vậy,
người
ta thoa thuận
về mức độ
tổn
thất,
thông thường thì
đó là sự khác
nhau
tỷ lệ
phần
trăm
tổn
thất.
Từ
"thoa
thuận"
giảm
giá thông thường được
hiểu
theo
nghĩa
thoa thuận
về
tỷ lệ
tổn thất
và nó đơn
thuần
được
chỉ ra theo
dạng
tỷ lệ
phần
trăm. Tỷ
lệ
này có
dược
sau
khi
thuế
nhập
khẩu.
Còn giá
thị
trường
hàng
tổn
thất
là giá ước tính hay
thu
nhập
được trên cùng một cơ sở như giá
thị
trường hàng lúc còn nguyên
vớn.
Khi so sánh giá
thị
trường hàng
khi
còn
nguyên vớn và giá
thị
trường hàng
tổn
thất
trên cùng một cơ
sở,
tại
cùng một
Để thuận
lợi
hơn
trong việc
xác định chính xác
thời
điểm, nguyên nhân
gây nên
tổn
thất,
mức độ
tổn
thất,
đảm bảo giá
trị
pháp lý của
chứng
thư giám
định
tổn
thất,
hàng bị
tổn
thất
phải
được giám định
ngay
khi
phát
hiện
số
lượng
và
tình
trạng
hàng
bị tổn
thất.
Do tính
phức
tạp
và đòi
hỏi
giám định viên có
kinh
nghiệm,
am
hiểu
nghiệp
vụ,
kỹ
thuật
giám
định,
dịch
vụ giám định hàng hóa
tổn
thất
sẽ
khách
về
lượng;
-
Tổn
thất
về
chất;
-
Tổn
thất
về
mẫu mã và
bao bì.
3.1.
Xác
định
mức độ hàng
tổn
thất
về
lượng
Xác định mức độ hàng
tổn
thất
về
lượng
tức
là
xác
định
định khối lượng hàng
bị tổn
thất:
khối
lượng có
khối
lượng cả
bì,
khối
lượng
tịnh,
khối
lượng thương mại
Do đó
muốn
xác định được
khối
lượng
hàng
bị tổn
thất
được chính xác
phải
đáp
ứng
đủ
những
điểm
sau:
cân
khối
lượng
tịnh
ngay
một cách
dễ
dàng.
- Xác định
khối
lượng hàng bị
tổn
thất:
muốn
xác định được chính xác
khối
lượng hàng
bị
tổn
thất,
ta
phải
xác định được chính xác
khối
lượng hàng
nguyên
thủy
(tức
là
khối
số
lượng hàng
bị
tổn
thất:
-
Xác định
số
lượng
hàng nguyên
thủy:
+ Xác định số lượng hàng nguyên
thủy
của toàn lô căn cứ vào hóa
đơn;
+ Xác định số lượng hàng nguyên
thủy
của một hay một số
kiện
căn
cứ
vào
phiếu
đóng
gói, số
lượng
ghi
trên
kiện
hoặc
hiện
thực;
đặc
biệt
nếu
hàng được tính
theo
đơn
vị
là
mét, diện
tích,
thể
tích thì
phải
chú ý phương pháp đo và tính toán quy định
trong
hợp đồng
hoặc
giấy
tờ của
bên bán.
- Xác định số lượng hàng
thừa
thiếu:
số lượng hàng
thừa
thiếu
được
tính
hại so với
hàng nguyên
thủy là
bao nhiêu.
Tùy
theo
dạng
tổn
thất,
lượng hàng
tổn
thất
nhiều
hay
ít,
giá
trị
hàng
tổn thất
và tính
chất của
hàng mà
quyết
định
tỷ lệ
mở
kiểm,
phương pháp
kiểm
tra
khi
xác
định
cần
chú ý
những
điểm
sau
đây:
-
Trong
một
lô
hàng
bị ướt cần
tách
những
kiện
khô,
kiện
ướt
riêng đế
không
những
bảo vệ được hàng không
bị
thiệt
hại
thêm mà còn nâng cao
độ chính xác
tởt
để hạn chế
thiệt
hại
thêm;
-
Nếu chưa
biết
chính xác hàng
bị ướt bởi chất
gì
thì phải lấy
mẫu hàng
khô
về
phòng
thí
nghiệm
để
so
sánh,
xác
định;
-
Trong
một
lô
hàng nếu sở
lượng
thiệt
của khí
hậu thay đổi,
hút hơi ẩm
trong
không
khí,
hoặc
hàng xếp
trong
hầm tàu
thiết
bị
thông gió không
tởt
phát
sinh
ra
mồ hôi làm cho hàng
bị
ẩm,
hoặc
xếp
trong
hầm
tàu
trong
kho
chung
với
hàng có
Mức độ
tổn
thất
về
lượng
của
hàng
hóa do ẩm gây nên thường đều
nhau
vì vậy tỷ
lệ
mở
kiểm
tra
có
thể ít
hơn
so với
hàng
bị ướt.
c.
Tổn
thất
về
chất
do đổ
vỡ
20