Luận văn tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Thương mại quốc tế luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với một
nền kinh tế và sự thông thương giao lưu buôn bán giữa các nước đã có từ rất lâu
đời. Và ngày nay khi mà thế giới chúng ta đang sống được gọi là “ Thế giới phẳng”
(Theo học thuyết của nhà kinh tế học hiện đại Friedman), Việt Nam đã là thành viên
thứ 150 của WTO thì đây không còn là một vấn đề mới đối với mọi người. Nhất là
ở giai đoạn của Việt Nam hiện nay, giai đoạn hậu WTO. Là thời đại mà quá trình
sản xuất trong nước phải gắn chặt với những diễn biến của nền kinh tế thế giới
thông qua hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá. Và như chúng ta đã biết, muốn cho
quá trình thông thương hàng hoá phát triển và diễn ra một cách trôi chảy thì phải
cần một điều kiện cần thiết đó là dịch vụ vận chuyển. Có thể nói “Không có thương
mại nếu không có vận chuyển”. Có nhiều phương tiện vận chuyển hàng hoá xuất
nhập khẩu hàng hoá(XNKHH) bằng đường biển, đường sắt, đường bộ, đường hàng
không Trong đó, vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90% tổng khối lượng
hàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới. Nhiều nước ở vị trí không tiếp giáp với biển
cũng phải thông qua cảng các nước khác để vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
như Cộng Hoà Séc, Hungari, Lào…Bởi vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều
ưu điểm. Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường biển luôn tiềm ẩn rất nhiêu rủi ro các
rủi ro này có thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kĩ thuật hoặc yếu tố xã hội, con
người. Trong lịch sử loài người đã có nhiều biện pháp chống lại những tác động xấu
trên, nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểm cho hàng hoá xuất
nhập khẩu. Mặt khác, ngày nay trong nền kinh tế mở, ngành bảo hiểm ra đời không
những đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho những chủ hàng, mà còn góp phần
thúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại và có ảnh
hưởng sâu sắc tới vấn dề kinh tế - xã hội cho cả hai nước xuất nhập. Vì vậy
BHHHXNK vận chuyển bằng đường biển là sự cần thiết khách quan, đến nay đã trở
thành tập quán thương mại quốc tế.
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 2
Ý thức được tầm quan trọng của bảo hiểm trong lĩnh vực này và qua quá
càng có mẫu mã đẹp, phong phú, đa dạng; chất lượng ngày một nâng cao.
- Qua hoạt động trao đổi các ngành sẽ tiến hành hợp tác hoá, chuyên môn hoá để
giảm chi phí sản xuất, từ đó tạo điều kiện để giảm giá thành sản phẩm giúp các
doanh nghiệp tăng lợi nhuận, góp phần tăng GDP.
1.2. Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá
Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồng
giữa người mua và người bán với nội dung về số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy
cách đóng gói, giả cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bảo hiểm,
thủ tục và đồng tiền thanh toán…
- Có sự chuyển giao quyền sở hữu lô hàng XNK từ người bán sang
người mua.
- Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải chịu
sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch…tuỳ theo quy định của mỗi nước. Đồng thời
để được vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảo hiểm theo tập quán
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 4
thương mại quốc tế. Người tham gia bảo hiểm có thể là người bán hàng ( người xuất
khẩu) hoặc người mua hàng (người nhập khẩu). Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) thể
hiện quan hệ giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối với hàng hoá được
bảo hiểm. Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho người
mua hàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể đòi công ty bảo hiểm
bồi thường.
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiện
khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển, hàng
không, đường bộ… Người vận chuyển hàng đồng thời cũng là người giao hàng cho
người mua.
Quá trình XNKHH có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên chủ yếu
là: người bán, người mua, người vận chuyển và người bảo hiểm. Vì vậy phải phân
định rõ ràng trách nhiệm các bên liên quan.
II. BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG
- Nước biển sông hồ xâm nhập vào hầm hàng;
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi đang
xếp hàng lên hay dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan;
- Hàng hoá được bảo hiểm bị mất do tàu hoặc phương tiện chở hàng bị mất tích.
1.1.2.Rủi ro loại trừ
Các rủi ro loại trừ thường bao gồm:
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí được quy cho hành vi xấu cố ý của Người được
bảo hiểm;
- Rò rỉ thông thường hoặc hao hụt trọng lượng hoặc giảm thể tích thông thường,
hoặc biến chất ở đối tượng được bảo hiểm;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí gây ra bởi khuyết tật hoặc tính chất của đối tượng
được bảo hiểm;
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 6
- Mất mát, hư hại hay chi phí phát sinh do tàu bè không đủ khả năng đi biển; tàu
bè, phương tiện vận chuyển, container hay toa hàng không thích hợp cho việc
chuyên chở an toàn đối tượng bảo hiểm.
Nếu người được bảo hiểm hoặc những người làm công cho họ biết được riêng trạng
thái không đủ khả năng đi biển hoặc trạng thái không thích hợp đó vào thời gian đối
tượng bảo hiểm được xếp vào đối tượng như vậy;
- Người bảo hiểm miễn bãi mọi vi phạm về những đoan kết ngầm định về tàu đủ
khả năng đi biển và thích hợp cho việc chuyên chở đối tượng được bảo hiểm tới
điểm đến, trừ khi Người được bảo hiểm hay người làm công cho họ được biết riêng
về tình trạng không đủ khả năng đi biển hay tình trạng không thích hợp đó;
- Mất mát, hư hại gây ra bởi chậm trễ ngay cả khi chậm trễ xảy ra do một rủi ro
được bảo hiểm;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ tình trạng không trả được nợ hoặc
thiếu vốn về tài chính ở người chủ, người quản lý, người thuê tàu;
- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ việc sử dụng bất cứ một loại vũ khí
chiến tranh gì dùng tới phản ứng hạt nhân hoặc đốt nóng hạt nhân hoặc nguyên tử
o Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích.
Ví dụ: Một tàu chở cà phê xuất khẩu từ Hải Phòng sang Nhật Bản. Trên hành
trình tàu gặp bão lớn. Cà phê bị ướt và vón cục. Nếu tiếp tục chở đến Nhật Bản thì
cà phê sẽ bị hỏng toàn bộ (không còn giá trị thương mại). Trong trường hợp này,
khi hàng đến Nhật Bản thì TTTB là không thể tránh khỏi.
+ TTTB ước tính là trượng hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mất
mát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTB thực tế; hoặc
nếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơn
GTBH.
Ví dụ: Một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bão. Nếu tiến
hành trục vớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của lô
hàng.
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 8
Nếu phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thất
riêng (TTR) và tổn thất chung (TTC)
- TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi của
các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu. Như vậy TTR chỉ liên quan đến từng
quyền lợi riêng biệt. Trong TTR, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phí
liên quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất
chi phí riêng
Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt hư hại
hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay thế
bao bì…ở bến khởi hành và dọc đường. Có tổn thất chi phí riêng sẽ làm hạn chế và
giảm bớt TTR.
TTR có thể là TTBP hoặc là TTTB .
- TTC là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý
và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy
hiểm chung, thực sụ đối với chúng.
Theo quy tắc York Antwerp 1994, có hành động TTC khi và chỉ khi có sự
trên biển. Đặc biệt TTR có thuộc trách nhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm hay
không là tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm trong khi với mọi điều kiện bảo hiểm ,
công ty bảo hiểm đều chịu trách nhiệm bồi thường về mức đóng góp TTC của chủ
hàng.
1.4 Trách nhiệm của các bên có liên quan trong BHHHXNKVCBĐB
Hoạt động XNKHH thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
Hợp đồng mua bán;
Hợp đồng vận chuyển;
HĐBH;
Ba loại hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên có
liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện thương mại quốc tế
“INCOTERMS 2000” ( International Commercial terms) có 13 loại điều kiện giao
hàng, được phân chia thành 4 nhóm E, F, C, D như sau:
Nhóm E: EXW (ex – work) giao hàng tại cơ sở của người bán
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 10
Nhóm F (Free carrier) cước vận chuyển chưa trả gồm:
+ FCA (Free carrier) giao hàng cho người vận tải;
+ FOB (Free on board) giao hàng lên tàu;
+FAS (Free alongside ship) giao hàng dọc mạn tàu;
Nhóm C: Cước vận chuyển đã trả bao gồm:
+CFR (Cost and freight) tiền hàng và cước phí;
+CIF ( Cost insurance freight) tiền hàng, phí bảo hiểm, cước phí;
CPT (Carriage paid to…) cước trả tới;
+CIP (Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới.
Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua, bao gồm
+ DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới;
+ DES (Delivered ex - ship) giao hàng tại tàu;
+ DEQ ( Delivered ex – quay) giao hàng tại cầu cảng;
+ DDU (Delivered duty unpaid) giao hàng tại đích, chưa nộp thuế;
hợp đồng vận chuyển thì người mua căn cứ vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên
mà khiếu nại người vận chuyển.
Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc
nhận từ người bán chuyển nhượng lại.
Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêu cầu
kĩ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp
đồng vận chuyển. Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàng cũng phải được
bảo hiểm. Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng.
Vận đơn (Bill of lading) là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vận
chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận
chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng. Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đây
cần quan tâm đến vận đơn hoàn hảo ( clean B/L) và vận đơn không hoàn hảo(unclean B/L).
Người bảo hiểm: có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm. Chẳng hạn, kiểm
tra chứng từ về hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thân phương tiện vận
chuyển…
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 12
Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm , người bảo hiểm có
trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họ
gây ra tổn thất này.
1.5. Điều kiện bảo hiểm
Điều kiện bảo hiểm là những quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo
hiểm đối với tổn thất của hàng hoá. Hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm
nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường.
Ngày 01/01/1963 ILU (Institute of London Underwriters) – Viện những
người bảo hiểm Luân Đôn đã xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA, WA
và AR. Các điều kiện bảo hiểm này được áp dụng rộng rãi trong hoạt động thương
mại quốc tế.
1.5.1 Nội dung cơ bản của ICC 01/01/1963
a) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng (FPA – Free from Particular
tranh, đình công và các rủi ro phụ do con người gây ra.
- Không cộng các chi phí để đạt mức miễn thường, chỉ tính tổn thất thực tế.
- Được tính các tổn thất liên tiếp xảy ra để đạt được mức miễn thường.
- Mỗi sà lan được coi là một con tàu để tính mức miễn thường.
- Người được bảo hiểm có quyền chọn cách tính mức miễn thường có lợi
nhất cho mình để được bồi thường nhiều hơn.
Như vậy, so với điều kiện bảo hiểm FPA thì điều kiện bảo hiểm WA có
phạm vi bảo hiểm rộng hơn và có áp dụng mức miễn thường.
c) Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (AR – All risks)
Phạm vi bảo hiểm của điều kiện bảo hiểm AR ngoài các rủi ro tổn thất và
chi phí của điệu kiện bảo hiểm WA thì còn mở rộng thêm các rủi ro phụ.
Người bảo hiểm không áp dụng mức miễn thường.
Như vậy, trong ba điều kiện bảo hiểm theo ICC 1963, chủ hàng đều có trách
nhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi ro được bảo hiểm. Nhưng điều kiện bảo
hiểm AR có phạm vi bảo hiểm rộng nhất, vì vậy người mua bảo hiểm không cần
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 14
tham gia bảo hiểm các rủi ro phụ; điều kiện bảo hiểm AR không phân biệt TTTB và
TTBP như hai điều kiện bảo hiểm FPA và WA. Chỉ điều kiện bảo hiểm WA có áp
dụng mức miễn thường.
1.5.2.Nội dung cơ bản của ICC 1/1/1982
a) Điều kiện bảo hiểm C (ICC C)
- Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện C bao gồm:
+ Tổn thất hay tổn hại của hàng hoá được bảo hiểm có nguyên nhân hợp lý
do cháy hoặc nổ; tàu bị mắc cạn, chìm đắm, bị lật; đâm va; dỡ hàng tại cảng lánh
nạn.
+ TTC
+ Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản hai
tàu đâm va nhau đều có lỗi.
- Các rủi ro loài trừ bao gồm:
c) Điều kiện bảo hiểm A (ICC A)
Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bảo hiểm tất cả những hư
hỏng, mất mát của hàng hoá, kể cả rủi ro cướp biển, chỉ trừ những rủi ro loại trù
theo quy định và không áp dụng mức miễn thường.
Trong điều kiện bảo hiểm A, rủi ro cướp biển là phạm vi bảo hiểm rộng hơn
điều kiện bảo hiểm AR (ICC 1963).
Như vậy, ba điều kiện bảo hiểm C, B, A theo ICC 1982 đều không biệt
TTTB và TTBP, chủ hàng đều có trách nhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi ro
được bảo hiểm. Nhưng điều kiện bảo hiểm A có phạm vi bảo hiểm rộng nhất và chỉ
điều kiện bảo hiểm B có áp dụng mức miễn thường.
Các điều kiện bảo hiểm C, B, A có hiệu lực từ ngày 1/4/1983 và hiện nay
được áp dụng rộng rãi trên thị trường bảo hiểm thế giới.
1.5.3.Điều kiện bảo hiểm đình công và chiến tranh.
a) Điều kiện bảo hiểm đình công.
Theo điều kiện bảo hiểm này chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏng của
hàng hoá được bảo hiểm do:
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 16
- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người tham gia
gây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy.
- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị;
- TTC và chi phí cứu nạn;
Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếp của
người đình công mà không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hậu quả của đình công.
b) Điều kiện bảo hiểm chiến tranh
Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm phải bồi thường những mất
mát, hư hỏng của hàng hoá do:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột
dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào.
- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ
điều lệ hay qui tắc bảo hiểm của Công ty bảo hiểm. Nội dung HĐBH chủ yếu bao
gồm:
- Ngày cấp đơn bảo hiểm
- Nơi ký kết HĐBH
- Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm
- Tên hàng được bảo hiểm
- Qui cách đóng gói, loại bao bì và ký mã hiệu của hàng
- Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển hàng
- Cách xếp hàng trên tàu
- Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối. Trong trường hợp nơi đến
cửa hàng ghi trong đơn bảo hiểm là một điểm nằm sâu trong nội địa, nghĩa là sau
khi đến cảng cuối, phải chuyển tiếp hàng bằng phương tiện khác đến điểm đã định
và đến đây mới hết trách nhiệm của Công ty bảo hiểm, thì phải tăng thêm phụ phí
bảo hiểm vì ngoài rủi ro trên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảo
hiểm.
- Ngày tàu khởi hành
- Giá trị bảo hiểm (GTBH) và số tiền bảo hiểm (STBH)
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 18
- Điều kiện bảo hiểm
- Phí bảo hiểm
- Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm
- Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường, do người được bảo hiểm chọn.
- Số bản đơn được phát hành.
• HĐBH bao (HĐBH mở)
HĐBH bao là HĐBH cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều
chuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc nhận
bảo hiểm cho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể đến thời gian).
Nội dung bao gồm: Nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, tên hàng được
bảo hiểm, việc đóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển, cách tính GTBH và
bao gồm: Giá hàng hóa, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan.
Ngoài ra để thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, đối với hàng
thương mại, người bảo hiểm có thể nhận được bảo hiểm thêm cả phần lãi dự tính,
tức mức chênh lệch giữa giá mua ở cảng đi và giá bán ở cảng đến (thực ra đây là lợi
nhuận thương mại, không hoàn toàn là giá trị của hàng được bảo hiểm)
Nếu GTBH không chỉ tính bằng giá CIF mà còn tính thêm phần lãi dự tính
(tối đa là 10% giá CIF), nghĩa là GTBH của hàng lớn nhất bằng 110% CIF.
Công thức xác định giá CIF:
R
FC
CIF
−
+
=
1
Trong đó:
C (Cost) - Giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi;
F (Freight) - Cước phí vận chuyển;
R (Rate) - Tỷ lệ phí bảo hiểm.
GTBH được xác định theo công thức:
R
FC
V
−
+
=
1
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
bảo hiểm để hàng hoá được bảo hiểm.
Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở GTBH hoặc STBH và tỷ lệ phí bảo
hiểm. Phí bảo hiểm (P) được xác định như sau:
P = Sb x (a + 1) x R
Trong đó: Sb - STBH
a - Số phần trăm lãi dự tính
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 21
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm
Trong thực tế, chủ hàng thường mua bảo hiểm ngang giá trị nên phí bảo hiểm được
xác định theo công thức:
P = CIF x R (nếu không bảo hiểm lãi dự tính)
Hoặc: P = CIF (a+1) x R (nếu bảo hiểm thêm lãi dự tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong HĐBH theo thoả thuận giữa người bảo hiểm
và người tham gia bảo hiểm.
Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Loại hàng hoá: Hàng dễ bị tổn thất như dễ vỡ, dễ bị mất cắp thì tỷ lệ phí bảo hiểm
sẽ cao hơn.
Loại bao bì: Bao bì càng chắc chắn, tỷ lệ phí bảo hiểm càng hạ;
Phương tiện vận chuyển: Hàng được chở trên tàu trẻ có tỷ lệ phí bảo hiểm thấp hơn
hàng được chở bằng tàu già.
Hành trình: Tỷ lệ phí tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủi ro (theo thống
kê kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũ trang…
Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảo hiểm
càng thấp.
Trong một số trường hợp có nguy cơ gia tăng rủi ro (ví dụ: Hàng được vận
chuyển trên tàu già,…), tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm hai phần như sau:
R = Rgốc + Rphụ
Với Rgốc: Tỷ lệ phí gốc;
R phụ: Tỷ lệ phí phụ (phụ thuộc vào tuổi tàu, quốc tịch tàu, bảo hiểm
hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm cần nộp đủ những giấy tờ chứng minh:
- Bản chính “Giấy chứng nhận bảo hiểm”
- Bản chính hợp đồng vận chuyển, giấy vận chuyển hàng hoá do chủ phương tiện cấp.
- Hoá đơn bán hàng kèm theo bản kê chi tiết hàng hoá, phiếu ghi trọng lượng và số
lượng hàng hoá.
- Biên bản điều tra tai nạn cơ quan chức trách địa phương.
- Biên bản giám định hàng tổn thất ghi rõ mức độ tổn thất
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 23
- Văn bản khiếu nại, người chuyên chở hay người thứ ba khác về trách nhiệm đối
với tổn thất do họ gây ra.
- Thư đòi bổi thường
- Các chứng từ giao nhận hàng của cảng hoặc của cơ quan chức năng;
- HĐBH và giấy sửa đổi bổ sung (nếu có) bản chính;
- Phiếu đóng gói bản chính;
Trong trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại không làm rõ được tổn
thất có thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm hay không, người bảo hiểm yêu cầu
cung cấp thêm các chứng từ sau:
- Hợp đồng mua bán
- Thư tín dụng;
- Lược khai;
- Phiếu kiểm đến
- Biên bản giám định hàng XNK;
- Nhật ký hàng hải…
Sau khi kiểm tra lại tất cả các giấy tờ, chứng từ nhà bảo hiểm sẽ thanh toán
tiền bồi thường. Mọi khoản khiếu nại hoặc quyền quyền khiếu nại của chủ hàng đối
với người thứ ba đều phải chuyển cho nhà bảo hiểm. Khi bồi thường TTTB nhà
bảo hiểm có quyền thu hồi phần còn lại của hàng hoá đã được bồi thường. Đối với
TTTB ước tính nếu có chủ hàng phải thông báo từ bỏ lô hàng một cách nhanh
chóng bằng văn bản và nhà bảo hiểm sẽ xét bồi thường TTTB và quyền sở hữu lô
+ Đối với tổn thất bộ phận sẽ bồi thường như sau:
Bồi thường số kiện, số bao bị thiếu, bị mất hoặc trọng lượng hàng rời bị thiếu
hoặc mức giảm giá trị thương mại của hàng hoá;
Trong quá trình bồi thường TTR phải hết sức chú ý đến chế độ miễn thường.
Chế độ miễn thường áp dụng chỉ áp dụng đối với TTR không áp dụng đối với TTC
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu có thể áp dụng hai chế độ miễn thường có
khấu trừ hoặc không khấu trừ tuỳ theo sự thoả thuận của các bê
SV: Vũ Thị Huyền Lớp: Bảo hiểm 45B
Luận văn tốt nghiệp 25
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI
CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Tên Việt Nam: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam
Tên Tiếng Anh: Bank of Investing and Development Vietnam Insurance Company
Tên viết tắt: BIC
Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC), tiền thân là
công ty liên doanh Bảo Hiểm Việt – Úc (là công ty liên doanh bảo hiểm giữa Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và công ty Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc tập
đoàn Bảo hiểm QBE của Úc) được cấp giấy phép thành lập theo giấy phép đầu tư số
2126/GP của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư ngày 16 tháng 07 năm 1999.
- Theo Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC4/KDBH ngày 27 tháng 12 năm 2005
của Bộ trưởng Bộ tài chính, Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc đổi tên thành
công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dựa trên cơ sở Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mua lại toàn bộ phần vốn góp của Công ty Bảo
hiểm Quốc tế QBE thuộc tập đoàn bảo hiểm QBE trong Công ty Liên doanh Bảo
hiểm Việt – Úc.