TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ LIÊN
TỔ CHỨC TRẦN THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT THOẠTKỲTHỦY CỦA NGUYỄN
BÌNH PHƯƠNG
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHỪNG GIA THÉ
HÀ NỘI – 2015
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS. Phùng Gia
Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này.
LỜI CẢM ƠN
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong
tổ L í l u ậ n v ẫ n h ọ c và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
khóa luận.
Khóa luận được viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu, người viết đã có nhiều cố
gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Nguyễn Thị Liên
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trần thuật là một phương diện cơ bản của phương thức tự sự, gắn liền với toàn
bộ quá trình tổ chức nghệ thuật của tác phẩm. Trần thuật liên quan tới mọi cấp
độ trong tác phẩm, chi phối mạnh mẽ đến mạch vận động của tác phẩm, cùng
bố cục kết cấu, cho ta nhìn thấy diễn biến cốt truyện, tâm lý, hành động nhân
vật, giọng điệu trần thuật, điểm nhìn trần thuật nhất định trong tác phẩm... Tìm
hiểu một tác phẩm từ góc độ trần thuật là một biện pháp tối ưu để khám phá
hình thức tổ chức sinh động và phức tạp của nó đế từ đó tiếp cận phong cách
nghệ thuật của nhà văn.
1.2. Nằm trong dòng chảy đối mới văn học từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam
đã có những bước chuyên mình mạnh mẽ, minh chứng cho sức sông mãnh liệt
của thế loại. Người cầm bút phải đối diện với những yêu cầu bức thiết của thời
đại - “thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp): “Mỗi nhà tiếu thuyết, mỗi
cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng. Không tôn trọng những
hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật
vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” ( A l a i n R o b b e
G r i l l e t ) . Cũng từ đây, tiểu thuyết đã trở thành nhân vật quan trọng bậc nhất
trên sân khấu văn học Việt Nam hiện đại.
Từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố
của chủ nghĩa hậu hiện đại: sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái huyền bí siêu nhiên với
đời thường; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời sống; những kiểu cấu trúc mới:
mảnh vỡ tự sự, liên văn bản, gián cách, không gian, thời gian huyền ảo,... Các yếu tố này
đã được các nhà tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp nhận và sáng tạo, góp phần không
nhỏ trong việc tạo dựng một diện mạo mới cho nền văn học nước nhà.
Cũng như các cây bút văn xuôi khác trên văn đàn đương đại Việt Nam như: Hồ
Anh Thái, Tạ Duy Anh, Dương Thu Hương, Nguyễn Việt Hà, Bảo Ninh,... Nguyễn Bình
Phương đã có những nỗ lực tìm hướng đi mới cho tiếu thuyết. Với quan niệm “ N g h ệ
thuật tiếu thuyết, ở một chừng mực nào đó, là nghệ thuật của một
Những
đứa
trẻ
chết
già
(1994),
Người
đi
vắng
(1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004), Ngồi (2006).
Đó đều là những tác phẩm thể hiện một lối viết rất mới lạ, mở ra một hướng tiếp cận mới
cho bạn đọc.
T h o ạ t k ỳ t h ủ y là một trong những cuốn tiểu thuyết tiêu biểu đã góp phần tạo
nên vị trí và những đánh giá cao của giới nghiên cứu, của bạn đọc dành cho Nguyễn Bình
6
Phương. Đây là một tiểu thuyết có dung lượng ngắn nhưng đằng sau số lượng câu chữ
không nhiều ấy chất chứa bao bí ẩn, huyễn hoặc, thậm chí khó hiểu đối với bạn đọc. Nhà
phê bình Thụy Khuê trong bài viết: “T h o ạ t k ỳ t h ủ y t r o n g v ù n g đ ấ t
Các bài báo viết về Nguyễn Bình Phương khá nhiều từ báo mạng đến báo viết,
chẳng hạn được giới thiệu qua các báo: Pháp luật, Văn hóa, Văn nghệ trẻ,...; trên các trang
Webside: http://www.evan.com.vn ; http://www.tien ve.org ;bên cạnh đó còn có các bài báo
cáo khoa học, luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn cao học Ngữ văn...
Trong số các bài báo viết về Nguyễn Bình Phương, đáng chú ý ta có thế kể đến
như: M ộ t
so
đặc
điếm
noi
bật
trong
sáng
tác
của
Nguyễn
Bình
những phát hiện có tính chất gợi mở cho những người nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương.
Một số bài viết đã đưa ra nhận định chung hoặc tìm hiểu những nét độc đáo ở các
phương diện khác nhau như: hiện thực, vô thức, ý thức, bản năng, tâm linh, giấc mơ,...
trong từng tiếu thuyết cụ thế của Nguyễn Bình Phương như:
Tác giả Nguyễn Chí Hoan có bài: “Những hành trình qua trống rỗng” đã quan tâm đến
vấn đề kĩ thuật trong tiểu thuyết Ngồi ở lối kết cấu lập thế, kết cấu thời gian đồng nhận, lối hành văn
với sự giản yếu của các câu văn. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng với bài: “Người đi vẳng, ai đọc
Nguyễn Bình Phương? Hay noi cô đơn của tiếu thuyết cuối thế kỷ” đã có phát hiện “nhân vật
của Nguyễn Bình Phương giấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó”. Tác giả Phùng Gia Thế
cũng có sự quan tâm đáng kế đến tiểu thuyết của Nguyễ Bình Phương với các bài tiêu biểu như:
“Cảm nhận tiêu thuyêt Nguyên Bình Phương”, “Cảm quan đời sông và những cách tân
nghệ thuật trong tiêu thuyêt Nguyên Bình Phương”, “Những dâu hiệu hậu hiện đại trong
tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”. Ngoài ra có thể kể đến tác giả Hoàng Nguyên Vũ với bài:
“Một loi đi riêng của Nguyễn Bình Phương”', Đoàn cầm Thi với “Người đàn bà nằm: từ
“Thiếu nữ ngủ ngày”, đọc “Người đi vẳng” của Nguyên Bình Phương”’, “Nghệ thuật tự
sự trong tiêu thuyêt của Nguyên Bình Phương” của Hoàng Thùy Linh; “Tiếu thuyết hiện đại
- Sự hội ngộ các tư duy tiếu thuyết hiện đại trong tiếu thuyết của Nguyễn Bình Phương”
của Nguyễn Phước Bảo Nhân;...
Là một cây bút trẻ trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại nhưng Nguyễn Bình
Phương đã sớm tạo ra một sức hút đối với các sinh viên chuyên ngành, những bạn đọc
chuyên nghiệp, những nhà nghiên cứu,... Có thê kê đên luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Bích
Ngọc với đề tài “ N g u y ê n B ì n h P h ư ơ n g v ớ i v i ệ c k h a i t h á c t i ề m n ă n g t h ế
l o ạ i đ ể h i ệ n đ ạ i h ó a t i ế u t h u y ế t ” , trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2008.
Hay các luận văn như: “ K h u y n h h ư ớ n g h i ệ n t h ự c h u y ê n ả o t r o n g t i ê u
t h u y ê t N g u y ê n B ì n h P h ư ơ n g ” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền khoa Văn học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; “ N h ữ n g c á c h t â n n g h ệ t h u ậ t
t r o n g t i ế u t h u y ê t c ủ a N g u y ễ n B ì n h P h ư ơ n g ” của Vũ Thị Phương; Nguyễn Thị
9
thương, đấy huyên hoặc, viêt về hành trình của một cộng đông, dù đã nửa phấn điên loạn,
vân không biêt mình đang đi dân đên toàn phấn điên loạn”. Vê hình thức nghệ thuật: “Thoạt
1
0
kỳ thủy là cuôn tiêu thuyêt khác thường, khỏ đọc bởi lôi hành vãn và cấu trúc truyện rât
lạ... Đây không phải là trang viết truyền thống vì vậy cẩn cách đọc không truyền thông.
Những yêu tố vừa kịch, vừa phi kịch, vừa thơ, vừa phỉ thơ là những mâu chôt câu trúc tiêu
thuyết”. Với Thoạt kỳ thủy, Thụy Khuê cho rằng cần tập trung khám phá sự giao thoa của các thể
loại kịch, thơ, tiểu thuyết trong tác phẩm này.
Đoàn Cầm Thi trong bài “Sảng tạo văn học: giữa mơ và điên (Đọc Thoạt kỳ thủy của
Nguyễn Bình Phương) ” đã đưa ra những bình luận sâu sắc về đời sống bản năng vô thức trong
tiếu thuyết của nhà văn. Bà cho rằng: “Vô thức chiếm vị trí trọng tâm trong Thoạt kỳ thủy,
được diên tả trong một văn phong chậm, ngăn, chính xác, phản ánh một tư duy đang khảo
sát, chiêm nghiệm. Đặc biệt, nó được xem xét trong môi quan hệ với điên và mộng, là hai
trạng thái trong đó vó thức hoạt động tích cực nhất, và lại khá gần nhau”.
Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Cấp độ hiện thực và sự hão huyền của ý thức trong
Thoạt kỳ thủy” đã khắng định “Nguyên Bình Phương là nhà vãn Việt Nam đã đấy cuộc thăm
dò vô thức đi xa nhât”. Trên tạp chí Nghiên cứu văn học, tác giả Đoàn Ảnh Dương có bài:
“Nguyên Bình Phương - Lục đấu giang tiêu thuyêt”, tác giả đã đánh giá cao Thoạt kỳ thủy và
xem tác phâm “xứng đáng được coi là đỉnh cao nhât, sự hội tụ trọn vẹn và sung mãn của
bút lực tiêu thuyêt Nguyên Bình Phương”. Bài viết có khen có chê và có những đánh giá khá
khách quan về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Tác giả Hoàng Đăng Khoa có bài “Cõi nhân sinh
nhàu nát trong Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương” đã nhận định: “Thoạt kỳ thủy là
thê giới của những con người vố trách nhiệm, u tôi bản năng với những dục vọng không
được kiềm chê, bung phát thành những hành động phi lí trí, phi nhân tính... Hay trong bài
tiếu luận “Thử khai mở kiến trúc hậu hiện đại trong tiếu thuyết Thoạt kỳ thủy của Nguyễn
Bình Phương”, Hoàng Đăng Khoa cũng đã đưa ra phát hiện: “Với Thoạt kì thủy, bằng loi viết
phẩm của Nguyễn Bình Phương từ phương diện trần thuật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến mục đích phát hiện ra nét đặc
sắc trong tổ chức trần thuật của tiểu thuyết T h o ạ t k ỳ t h ủ y , thấy được nghệ thuật kể
chuyện của tác phẩm. Đồng thời thấy được những tìm tòi, cách tân sáng tạo trong lối viết
của Nguyễn Bình Phương và khẳng định những đóng góp quan trọng của nhà văn trên con
đường cách tân tiểu thuyết Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
1
2
3.2.1.
Tìm hiểu những lí luận cơ bản về tổ chức trần thuật trong tác phẩm
tự sự nói chung và trong tiếu thuyết nói riêng.
3.2.2.
Chỉ ra những nét độc đáo trong nghệ thuật trần thuật và hiệu quả
nghệ thuật của những sáng tạo đó đối với việc biểu đạt nội dung của tác
phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết T h o ạ t k ỳ t h ủ y của Nguyễn Bình Phương.
4.2. Phạm vi nghiên cửu
Tiểu thuyết T h o ạ t k ỳ t h ủ y của Nguyễn Bình Phương do Nhà xuất bản Hội Nhà
biệt là tiểu thuyết. Trần thuật là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo ra tính hấp dẫn, tạo ra cái “ma lực” của tác phẩm ngôn từ vừa ở chiều sâu, vừa ở mặt cụ
thể cảm tính. Xét về mặt thuật ngữ, trần thuật là yếu tố được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và đưa ra những cách hiếu khác nhau. Có thể kể đến một số ý kiến tiêu biểu:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng
chủ biên): Trần thuật là “Phieơng diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái
quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của
một người trần thuật nhất định. Vai trò của trần thuật rất lớn ” [7, tr. 364].
GS. Trần Đình Sử trong cuốn giáo trình Lí uận văn học, tập 2 cũng đưa ra khái niệm trần
thuật: “Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kế, thuật, miêu tả sự kiện, nhân vật theo một thứ tự
nhất định ” [19, tr. 59].
Lại Nguyên Ân trong bài “Ve việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu
vãn học ở 'Việt Nam” cho răng: “Trân thuật (narration) chỉ phương thức nghệ thuật đặc
trưng trong các tác phẩm thuộc loại văn học tự sự (tương tự trầm tư/ meditation/ đặc
trưng cho văn học trữ tình, đoi thoại đặc trưng cho văn học kịch) (...) Thực chất hoạt động
trần thuật là kế, là thuật, là cải được kế, được thuật, trong tác phâìn văn học là chuyên”
[2, tr. 146 - 147].
Hay trong cuốn 150 thuật ngữ vãn học, tác giả Lại Nguyên Ân cũng đưa ra khái niệm trân
thuật: “Trấn thuật là phương thức chủ yếu đê câu tạo các tác phâm tự sự hay của người kê
chuyện, tức là toàn bộ văn bản tác phâm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của các nhân
vật” [1, tr. 325].
1
4
Cùng với quan điếm này là định nghĩa trong G i á o t r ì n h L í
l u ậ n v ă n học do GS. Phương Lựu chủ biên đã đưa ra cách
hiêu vê khái niệm trân thuật tương đôi
thống nhất với cách hiếu trên: “Trần thuật là kế, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện,
học luôn đồng hành với sự sáng tạo " k h ơ i n h ữ n g n g u ồ n c h ư a a i k h ơ i v à s ả n g
t ạ o n h ữ n g g ỉ c h ư a c ó ” (Nam Cao). Sự thành công về phương diện trần thuật là yếu
1
5
tố kết đọng tài nghệ của mỗi người cầm bút. Bởi vậy, tìm hiêu các phương diện trần thuật
sẽ giúp người đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương đích thực cũng như khắng
định được tài năng và những đóng góp của nhà văn vào tiến trình văn chương.
1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật
Bàn về các yếu tố cơ bản của tổ chức trần thuật, GS. Trần Đình Sử cho rằng trần
thuật gồm sáu yếu tố cơ bản: người kể chuyện, ngôi trần thuật và vai trần thuật; điểm nhìn
trần thuật; lược thuật; miêu tả chân dung và dựng cảnh; phân tích; bình luận; giọng điệu.
Theo chúng tôi, trần thuật, trước hết đòi hỏi phải có người kể. Chủ thể của hoạt
động kể phải xử lí tốt mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi các sự kiện và nhân vật.
Như vậy, có hai nhân tố quy định tới trần thuật là: người kế chuyện và chuỗi ngôn từ.Từ
người kể chuyện ta có ngôi trần thuật; điểm nhìn trần thuật. Từ chuỗi ngôn từ ta có ngôn
ngữ trần thuật; giọng điệu trần thuật; không gian, thời gian trần thuật... Sau đây, khóa luận
sẽ đi tìm hiểu một số yếu tố tiêu biểu thuộc nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm của
Nguyễ Bình Phương.
1.2.1.
Người kế chuyện và ngôi trần thuật
Trần thuật đòi hỏi phải có người kể hay nói đúng hơn người trần thuật là vấn đề
quan trọng, then chốt của tác phẩm tự sự vì không có tác phẩm tự sự nào lại không có
người kế chuyện. Nhà nghiên cứu T. z. Todozov đã khẳng định: “ N g ư ờ i k ê c h u y ệ n l à
yêu tô tích cực trong việc tạo ra thê giới tưởng tượng... không thê
c ó t r ầ n t h u ậ t m à t h i ế u n g ư ờ i k ê c h u y ê n Quan điểm này đã góp phần khẳng
làm bốn kiểu là người kế chuyện truyền thống, sử quan, người kể chuyện nhân chứng và
người kể chuyện toàn tri. Cách phân loại này cho ta thấy các nhà nghiên cứu đã đặt người
kể chuyện trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học từ cổ đại đến hiện đại và đặc biệt
chú ý đến cấp độ giao tiếp. Đáng chú ý hơn cả là các công trình nghiên cứu của G. Genette
đã phân biệt người kể chuyện thành ba kiểu cơ bản: người kể chuyện toàn tri, người kể
chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài. Ngoài ra, căn cứ vào vị trí của người kê
chuyện trong tác phâm, ta có: người kê chuyện ở ngôi thứ nhât, người kế chuyện ở ngôi
thứ hai và người kể chuyện ở ngôi thứ ba...
Hình tượng người kế chuyện gắn với ngôi kể đem lại cho tác phẩm cái nhìn, và sự
đánh giá bổ sung về mặt tư tưởng, lập trường, thái độ, tình cảm cho cái nhìn tác giả, làm
cho sự trình bày, tái tạo lại con người và cuộc sống trong tác phẩm thêm phong phú. Đúng
như M. Bakhtin đã nhận định: “ T a đ o á n đ ị n h â m s ắ c t á c g i ả q u a đ ô i t ư ợ n g
của câu chuyên kê, cũng như qua chỉnh câu chuyên và hình tượng
người kê bộc lộ trong quá trình kê”.
1.2.2.
Điếm nhìn trần thuật
Điểm nhìn (point of view) là một trong những vấn đề cơ bản, then chốt của trần
thuật. Điểm nhìn được hiểu là vị trí, chỗ đứng của người kể chuyện để xem xét, bình luận,
miêu tả các sự việc, hiện tượng trong tác phẩm. Có nhiều người đề xuất cách gọi điểm nhìn
là nhãn quan (vision), điểm quan sát (post of observation), tiêu cự trần thuật (focus of
narrative),... nhưng theo chúng tôi, dùng khái niệm điểm nhìn là là phù hợp hơn cả vì điếm
nhìn còn thế hiện lập trường tư tưởng của nhà văn. Điếm nhìn nghệ thuật được xem như
1
8
một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung của văn bản ngôn từ. Truyện bao giờ cũng
từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thẩp, từ bên trong hay bên ngoài” [13, tr. 12], bởi sự
trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng tiến hành từ một điếm nhìn nào đó. Nhà văn không
1
9
thể miêu tả nghệ thuật và tổ chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điêm nhìn, một chỗ đứng
nhất định. Việc chọn một chỗ đứng thích hợp đế người kê chuyện kế câu chuyện là một trong những
sự trăn trở đối với nhà văn khi sáng tạo tác phẩm. Bởi vậy, điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể
vào sự thành công của tác phẩm, qua đó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trên hành trình lao động
nhọc nhằn của mình.
Như vậy, có nhiều quan điểm về điểm nhìn trần thuật. Ta có thể thấy: Điểm nhìn
trần thuật là vị trí, khoảng cách, góc độ chủ thể trần thuật dùng để quan sát đối tượng trần
thuật. Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, có thế từ bên trong, có cái nhìn từ một
phía, có cái nhìn từ nhiều phía... Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà văn trước
hết thể hiện ở cách “ứng xử” với câu chuyện để tạo ra sự đa dạng của các điểm nhìn nghệ
thuật. Bởi vậy, điểm nhìn trần thuật không thể chỉ thuần túy liên quan đến phương diện
hình thức như là một góc nhìn, mà còn như là một quan điểm, một thái độ trần thuật.
Theo lí thuyết tự sự học, có ba kiếu điếm nhìn gắn với ba kiếu người kể chuyện. Đó
là điểm nhìn từ đằng sau - Zero, điếm nhìn từ bên trong và điểm nhìn từ bên ngoài.
Người kể chuyện toàn tri ứng với điểm nhìn zero, nhìn từ đằng sau. Người kể
chuyện mang sức mạnh toàn năng, thông suốt, tường tận hết mọi chuyện không chỉ ở hiện
tại mà còn có khả năng tái hiện lại quá khứ và dự báo trước tương lai. Độ bao quát hiện
thực của người kể chuyện bao giờ cũng lớn hơn hết thảy mọi nhân vật. Con mắt của người
trần thuật có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, xoáy sâu vào từng chi tiết nhỏ của đời sống để kể lại
cho độc giả. Nhờ vậy mà mọi hiện thực đều được phơi bày một cách rõ nét. Điều này
dường như đang trở thành một hạn chế lớn của kiểu người kể chuyện toàn tri và điểm nhìn
zero. Ngày nay, dạng người kể chuyện này không được nhiều nhà văn sử dụng vì nó tạo ra
tâm lí nhàm chán cho độc giả. Con người hiện đại luôn được xem là một thực thể phức tạp
quan hơn về câu chuyện, cái nhìn của nhân vật này sẽ có vai trò lấp đầy, bổ sung cho cái
nhìn của nhân vật khác, tạo nên tính chỉnh thể cho cốt truyện.
Người kể chuyện bên ngoài thường gắn với điểm nhìn bên ngoài. Trong những văn
bản tự sự sử dụng kiêu người kê chuyện này, độc giả dường như không hề cảm nhận được
sự tồn tại của kiếu người kế chuyện. Bởi vì khi đó người kế chuyện giấu mình, đứng ngoài
câu chuyện đế miêu tả, trần thuật lại một cách khách quan và chân thực. Đặc biệt, nội tâm
của nhân vật không được đi sâu khám phá mà chỉ chủ yếu là ghi lại lời nói và hành động
của nhân vật. Vai trò của người kế chuyện cho phép truyện kể được đọc như một cái gì đó
2
1
đã biết hơn là một cái gì đó tưởng tượng ra, một cái gì đó tường thuật hơn là một cái gì đó
hư cấu.
Trong các tác phẩm tự sự, chọn cách xuất phát từ điểm nhìn nào để người kể
chuyện kể lại chuyện cũng thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Có những tác phẩm từ
đầu đến cuối đều nhất mực tuân thủ theo một kiểu người kể chuyện, một điểm nhìn duy
nhất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đó lại là sự phối ghép của nhiều điếm nhìn khác
nhau mà người ta gọi đó là lối kể chuyện phân mảnh. Ở lối kể chuyện này xuất hiện nhiều
kiểu người kể chuyện trong cùng một tự sự, kể lại sự việc bằng nhiều điểm nhìn khác nhau.
Có thể mở đầu, người kể chuyện giấu mình để kể, sau đó, chức năng trần thuật có thể được
chuyển cho một hay nhiều nhân vật trong truyện, từ điểm nhìn bên ngoài chuyến tiếp sang
điếm nhìn bên trong,... Với lối viết phân mảnh như vậy sẽ tạo lên cái nhìn đa diện, đa
chiều cho tác phẩm, và đặc biệt là nó không gây cảm giác nhàm chán cho độc giả mà luôn
luôn là sự hào hứng muốn khám phá tiếp câu chuyện.
1.2.3.
Ngôn ngữ trần thuật
thức khác về cùng một đối tượng miêu tả.
Ngoài hai loại ngôn ngữ trên, ngôn ngữ trần thuật còn bao gồm cả ngôn ngữ nước
đôi. Đó vừa là lời nói của tác giả, vừa là lời nói của nhân vật, bộc lộ cả thế giới bên trong
và thế giới bên ngoài nhân vật.
Ngôn ngữ trần thuật có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình tượng tác phẩm,
thể hiện tư tưởng nội dung của tác phẩm. Bởi vậy, trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn
luôn quan tâm lựa chọn ngôn ngữ trần thuật để tạo lập một phong cách ngôn ngữ riêng cho
các tác phẩm của mình.
1.2.4.
Giọng điệu trần thuật
Trong nghệ thuật kể chuyện, giọng điệu cũng là một yếu tố căn bản, đóng một vai
trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của người sáng tác. Phản ánh quan điếm, thị
hiếu thấm mĩ của nhà văn, giọng điệu có vai trò quan trọng trong việc thê hiện cá tính sáng
tạo của tác giả thông qua hình tượng người kê chuyện.
Nói một cách khác thì giọng điệu chính là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết ra nhà văn bởi
mỗi người sáng tác đều chọn lựa cho mình một kiểu giọng điệu phù hợp với cách nhìn nhận
và đánh giá cuộc sống. Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về giọng điệu trần
thuật trong văn chương.
2
3
Theo Từ điến thuật ngữ văn học , giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư
tưởng, đạo đức của nhà vãn đối với hiện tượng được miêu tả thế hiện trong lời văn quy
định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ,
thành kỉnh hay suông sã, ngợi ca hay châm biêm,... ” [7, tr. 134].
Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu trần thuật có vị trí quan trọng. M. B. Khrapchenko trong
kết chặt chẽ giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả.
Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu có vai trò rất lớn đối với trần thuật và sự hình
thành phong cách nhà văn. Giọng điệu chủ yếu tạo thành âm hưởng chung bao trùm lên
toàn bộ tác phẩm. Giọng điệu là phương tiện để người kế chuyện đi sâu phản ánh bức tranh
hiện thực đời sống của con người. Ngoài ra, giọng điệu còn mang đậm cá tính sáng tạo của
tác giả. Vì vậy, mỗi nhà văn luôn nói bằng giọng điệu riêng của mình. Tìm được giọng
điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hấp dẫn hơn, thế hiện sâu sắc hơn tư tưởng
của tác phẩm. Trong những trường hợp như vậy, giọng điệu trở thành “chìa khóa” để “mở”
cánh cửa của tác phẩm. Thông qua giọng điệu, độc giả nhận biết được những đặc trưng tính
cách của nhân vật cũng như thái độ, tình cảm của nhà văn đối với câu chuyện được kể.
Ngoài các yếu tố nói trên, khi xem xét tố chức trần thuật trong một tác phẩm tự sự,
ta còn có thể chú ý đến một số yếu tố khác như: không gian, thời gian trần thuật. Không
gian trần thuật là không gian mà người trần thuật kể lại câu chuyện của mình. Nhìn bề
ngoài, ta chỉ thấy giấy trắng, bàn viết, cửa sổ,... nhưng thực ra bên trong người kế đang
xuất hiện một thế giới với nhiều mối tương quan , tác động lẫn nhau - một không gian ảo
với nhiều mối quan hệ đan xen: mối quan hệ giữa người kể và thế giới của truyện (nhân
vật, sự kiện, quan hệ,..), mối quan hệ giữa người kể - ngôn ngữ nhân vật, mối quan hệ giữa
người kể - ngôn ngữ của chính mình. Nói đến không gian trần thuật là nói đến khoảng cách
giữa người kể và không gian được chiếm lĩnh.
Thời gian trần thuật là thời gian tác giả kể lại câu chuyện trong tác phẩm của mình.
Nói cách khác, thời gian trần thuật chính là thời gian của người kế, của sự kế.
Theo G. Genette, thời gian trần thuật gồm bốn hình thức: tỉnh lược, lược thuật, cảnh tượng
và dừng lại.
Trên đây là các yếu tố cơ bản của trần thuật. Chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
cùng hỗ trợ nhau trong việc tạo ra cho người đọc một căn
cứ đế qua đó người đọc hiểu về nhân vật, đề tài, chủ đề
của tác phẩm, thấy được tài nghệ của mỗi nhà văn. Dựa