TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
VŨ THỊ KIM CHI
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT BƯỚM TRẮNG
CỦA NHẤT LINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới các thầy cô trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là TS.GVC Thành Đức Bảo
Thắng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, tận tình, chu đáo và động
viên giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian học tập và thực hiện khoá luận tốt
nghiệp.
Em cũng xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã giúp
đỡ em về mọi mặt để tôi hoàn thành khoá luận này.
Do điều kiện và khả năng có hạn nên nội dung của đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các
thầy cô để rút kinh nghiệm và bổ sung kiến thức cho bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 7
1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ................................................................. 7
1.1.1 Khái niệm ................................................................................................ 7
1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật .............................................................. 7
1.2. Nhất Linh và tiểu thuyết Bướm trắng ...................................................... 10
1.2.1 Cuộc đời ................................................................................................. 10
1.2.2 Sự nghiệp văn chương............................................................................ 11
CHƢƠNG 2. NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI
VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM ........................................................................ 14
2.1. Ngôn ngữ trần thuật hướng tới khai thác tâm lí ....................................... 14
2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật với điểm nhìn linh hoạt ........................................ 14
2.1.2. Ngôn ngữ trần thuật đan xen giữa kể và tả ........................................... 15
2.2. Ngôn ngữ đối thoại.................................................................................. 21
2.2.1. Đối thoại ám chỉ .................................................................................... 22
2.2.2. Đối thoại hàm ẩn……………………………………………………... 28
2.3. Độc thoại nội tâm………………………………………………………. 30
KẾT LUẬN .................................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ “là yếu tố thứ nhất của văn học” (M.Gorơki), là một trong
những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của
nhà văn. Từ ngôn ngữ nghệ thuật đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn là
con đường tiếp nhận văn học phù hợp với bản chất của nghệ thuật ngôn từ.
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Tự lực văn đoàn là tổ
chức văn học đã thể hiện ý thức cách tân sâu sắc trong các sáng tác của mình.
trắng.
- Luận văn hướng tới tìm hiểu và phân tích ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu
thuyết Bướm trắng của Nhất Linh để thấy được giá trị, phong cách, tài năng của
nhà văn.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là ngôn ngữ nghệ thuật trong
tiểu thuyết Bướm trắng của Nhất Linh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi dừng lại ở cuốn tiểu thuyết tiêu biểu
của Nhất Linh là Bướm trắng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
-Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp
5. Lịch sử vấn đề
Sự xuất hiện của Nhất Linh gắn liền với sự ra đời của một tổ chức văn
học có tên Tự lực văn đoàn – tổ chức văn học có vai trò quan trọng trong sự
2
thay đổi diện mạo văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Bởi vậy số lượng bài
viết và các công trình nghiên cứu về tác giả này khá phong phú, đề cập đến
nhiều phương diện về con người và văn nghiệp. Trong khuôn khổ vấn đề
nghiên cứu, chúng tôi tập trung khảo sát các ý kiến trực tiếp liên quan đến
ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nhất Linh nói chung và tiểu thuyết
Bướm trắng nói riêng, sắp xếp các ý theo trình tự thời gian nhằm tái hiện một
cách khách quan của vấn đề.
văn đoàn đã khẳng định tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh “thành công và
chiếm được cảm tình của giới trẻ đương thời vì đã thể hiện được những luận
đề phù hợp với chân lí đời sống , đem lại những khám phá chân thực về nhân
vật, về tâm lí”. Phan Cự Đệ thì nhận xét: “Ngòi bút của Nhất Linh rất có tài
miêu tả những mối tình đầu trong sáng, đượm chút ngập ngừng, e thẹn, kín
đáo và ý nhị”.
Khi khẳng định một thế giới mới trong sáng tác của Nhất Linh qua
Bướm trắng - thế giới nội tâm bên trong, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên (tập 3) cũng khẳng định: “Qua Bướm trắng Nhất
Linh cũng đã đưa ngòi bút phân tích tâm lí vào địa hạt nhân bản muôn thuở
với trường hợp bi đát con người bị giằng co giữa tình yêu và cái chết”
[22;160].
Những ý kiến đánh giá trên có thể coi là bước mở đường cho các nhà
nghiên cứu nhìn nhận và xem xét về tiểu thuyết Bướm trắng giai đoạn sau
này. Phan Cự Đệ, trong Lời giới thiệu cuốn Đoạn tuyệt (NXB Đại học và
Giáo dục chuyên nghiệp, tái bản năm 1991), đã có ý kiến nhận định khái quát
về nghệ thuật trong Bướm trắng: “Xét về một phương diện nào đó thì nghệ
thuật của Đôi bạn và Bướm trắng già dặn hơn những nhận xét về tâm lí nhân
vật sâu sắc và tinh vi hơn” [9;317]. Trong lời giới thiệu nhân tái bản cuốn
Bướm trắng năm 1989 Trần Hữu Tá đã chỉ ra những khám phá mới cũng như
những hạn chế như sau: “Đến Bướm trắng Nhất Linh đã thể hiện một phẩm
4
chất nghệ thuật mới: Tuy có chỗ còn gượng gạo thiếu tự nhiên nhưng tác giả
đã khai thác tinh tế những tầng lớp, những ngóc ngách tâm lí éo le, khuất
khúc của con người”.
Trong bài viết Đọc lại Bướm trắng của Nhất Linh, đăng trên Tạp chí
Văn học, số 10-1996, Đỗ Đức Hiển cũng viết: “Bướm trắng là tiểu thuyết
tâm tình thanh sạch…
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Mai Hương – DHSP Thái Nguyên –
2008, có đề cập đến một số thủ pháp xây dựng nhân vật, trong đó có nhắc đến
đặc điểm về ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nhất Linh qua hai tác phẩm Đôi
bạn và Bướm trắng.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu mới đã đưa ra những nhận xét khái
quát về ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh hoặc đề cập đến một số đặc điểm
về ngôn ngữ trong một vài tác phẩm nói chung và trong tiểu thuyết Bướm
trắng nói riêng. Những nhận xét của người đi trước cũng đã gợi ý cho chúng
tôi thực hiện đề tài này.
6. Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục và tư liệu tham khảo, luận
văn gồm có 2 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung
- Chương 2: Ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội
tâm
7. Đóng góp đề tài
Luận văn làm rõ ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Bướm trắng của
Nhất Linh.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu
khoa học của sinh viên
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm
bao giờ cũng tìm cách truyền các quan điểm của nghệ sĩ vào đối tượng được
miêu tả, truyền vào đấy các lối nhìn sự vật, cách nhận thức và cảm quan về
thế giới của anh ta, nói tóm lại là ngôn ngữ đó mang dấu ấn cá tính và phong
cách nghệ sĩ. Đặc điểm nói trên tạo nên sự rung cảm, thuyết phục và thu hút
đặc biệt của ngôn ngữ nghệ thuật”.
Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật đối với hoạt động sáng tạo của nhà văn
cũng được các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định: “Ngôn
ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo,
phong cách, tài năng của nhà văn” [10;215]. Thông qua ngôn ngữ nghệ thuật,
mỗi nhà văn có điều kiện bộc lộ tài năng và cá tính sáng tạo độc đáo của
mình.
- Với các thời kì, các trào lưu văn học:
Ngôn ngữ nghệ thuật chịu sự chi phối của môi trường văn hoá xã hội.
Kho ngôn ngữ là của toàn dân, được bồi đắp qua các thời kì lịch sử, nhưng
cách sử dụng như thế nào lại phụ thuộc vào nhãn quan ngôn ngữ của mỗi thời
đại, mỗi trào lưu văn học. Ngôn ngữ nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hoá của
thời đại , mỗi một trào lưu văn học, mỗi một thể loại văn học có những nét
riêng trong sử dụng ngôn ngữ. Trong những đặc điểm chung về thời đại, về
trào lưu sáng tác, mỗi nhà văn với cá tính, với vốn sống, trình độ văn hoá và
quan điểm thẩm mĩ của mình lại tạo ra phong cách ngôn ngữ riêng. Vì thế
ngôn ngữ nghệ thuật cũng góp phần tạo ra diện mạo phong phú, đa dạng của
một nền văn học.
8
- Với các thể loại văn học:
Mỗi thể loại có đặc điểm ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ của thể loại trữ
tình mang đậm dấu ấn cảm xúc chủ quan của nhà nghệ sĩ. Sự lựa chon từ ngữ,
phương thức tu từ trong tác phẩm trữ tình bao giờ cũng nhằm làm cho nội
giàu nhạc điệu…”.
- Với hoạt động tiếp nhận văn học:
Trong hoạt động tiếp nhận văn học, ngôn ngữ nghệ thuật cũng có vai
trò quan trọng. Đó là “yếu tố đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc đối với
tác phẩm”; là “hình thức vật chất duy nhất cho sự tồn tại nội dung tác phẩm”.
Và từ yếu tố trực tiếp, đầu tiên, duy nhất ấy mà người đọc có thể tìm hiểu,
khám phá tư tưởng nghệ thuật, thế giới hình tượng… đã được nhà văn gửi
gắm trong tác phẩm.
Tiếp nhận văn học dù với mục đích nào thì cũng đều phải bắt đầu từ
ngôn ngữ nghệ thuật. Bởi vì “cả hình tượng nhân vật, bức tranh phong cảnh,
cốt truyện, kết cấu, chủ đề, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật về thế giới và
con người… chỉ được nắm bắt nhờ những hình thức của ngôn từ”.
Ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng trong đó cả thế giới nghệ thuật mà nhà
văn đã sáng tạo, từ nhân vật đến không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, kết
cấu,… không một bình diện nào nằm ngoài ngôn ngữ nghệ thuật. Chính vì thế
muốn nắm bắt được thế giới nghệ thuật ấy của nhà văn, người đọc không thể
không đi sâu khám phá ngôn ngữ trong tác phẩm.
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của một tác giả hay một thể loại, một
trào lưu văn học là một phương diện quan trọng trong nghiên cứu văn học.
1.2. Nhất Linh và tiểu thuyết Bướm trắng
1.2.1 Cuộc đời
Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam. Ông sinh ngày 25 tháng 7
năm 1905 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông lập gia đình với bà
Nguyễn Thị Sâm, có được 7 người con.
10
Gia đình Nguyễn Tường Tam sống ở Cẩm Giàng, một huyện nhỏ. Cha
ông mất sớm, cả nhà lâm vào cảnh khó khăn. Từ bé, anh em Nguyễn Tường
của Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai. Ông chủ trương dùng tiếng cười
trào phúng để đả kích lễ giáo phong kiến, hô hào “Âu Hoá” và đề cao chủ
nghĩa cá nhân. Chính vì vậy mà từ năm 1932 -1935 tờ “Phong Hoá” đã trở
thành nơi tập hợp của các cây bút văn chương lãng mạn, là trung tâm của
cuộc vận động văn hoá tư sản trên văn đàn công khai lúc bấy giờ. Nhất Linh
làm giám đốc kiêm toàn bộ công việc quản lí từ điều khiển ban biên tập dến
chỉ sự và cả viết bài vở cho tờ báo Phong Hoá.
Năm 1933, Nhất Linh đứng làm chủ soái thành lập nhóm Tự lực văn
đoàn gồm có các thành viên: Nhất Linh (Nguyễn Trường Tam), Khái Hưng
(Trần Khánh Giư), còn gọi là Nhị Linh, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long),
Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn
Thứ Lễ), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu). Đây là thời kì mà Nhất Linh viết được
nhiều nhất, bởi ngoài việc quản lí, công việc sáng tác cho văn đoàn, để văn
đoàn hoạt động mạnh mẽ thôi thúc ngòi bút của ông rất nhiều. Lúc bấy giờ Tự
lực văn đoàn đã trở thành nhóm văn học hoạt động có hiệu quả, ngoài việc
xuất bản sách của nhóm, còn tổ chức trao giải thưởng mang tên “Giải thưởng
Tự lực văn đoàn” thúc đẩy văn học phát triển rầm rộ.
Năm 1935, sau khi tờ “Phong Hoá” bị đóng cửa Nhất Linh cho ra đời
tạp chí Ngày nay, rồi tham gia thành lập Hội ánh sáng – một tổ chức từ thiện
chủ trương “làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo”.
Từ năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, Nhất Linh ngừng sáng tác
chuyển sang hoạt động chính trị, bí mật thành lập “Đảng Hưng Việt”, sau một
thời gian hoạt động, Đảng Hưng Việt sát nhập vào Việt Nam quốc dân Đảng.
Nhất Linh hoạt động trong tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng, làm tổng thư kí
Đảng “Đại Việt dân chính” có tư tưởng chống Pháp thân Nhật rồi thân Tàu
Tưởng. Cuối năm 1945 Nhât Linh theo Nguyễn Hải Thần về nước tham gia
chính phủ liên hiệp, giữ chức Bộ trưởng bộ ngoại giao. Khi quân đội Tưởng
12
13
CHƢƠNG 2. NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI
VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM
2.1. Ngôn ngữ trần thuật hƣớng tới khai thác tâm lí
2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật với điểm nhìn linh hoạt
Bướm trắng là cuốn tiểu thuyết tâm lý, ngôn ngữ kể của tác giả tức
ngôn ngữ trần thuật cũng đã khơi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật.
Lý thuyết tự sự học quan niệm diễn ngôn trần thuật là văn bản được tạo
ra bởi hành động kể dưới dạng truyền miệng hoặc viết. “Mỗi văn bản trần
thuật là sự móc nối và luân phiên giữa diễn ngôn của người kể chuyện và diễn
ngôn của nhân vật” (Dolezel). Theo đó, một văn bản trần thuật thường bao
gồm hai thành phần diễn ngôn: diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn
của nhân vật.
Diễn ngôn trần thuật trong các tác phẩm của Nhất Linh đã tạo được một
tương quan mới có tính nghệ thuật giữa diễn ngôn người kể chuyện và diễn
ngôn nhân vật.
Ta thấy nếu như ở các tác phẩm trước như Lạnh lùng hay Đoạn tuyệt,
Nhất Linh chủ yếu đứng bên ngoài thuật chuyện bằng cái nhìn khách quan,
theo trình tự thời gian, xâu chuỗi các sự kiện hiện tại để thúc đẩy cốt truyện
vận động, hoặc đôi lúc đoán định tâm trạng nhân vật theo lô gic thông thường
trong cuộc sống thì ở Bướm trắng Nhất Linh đã đi sâu, thâm nhập vào thế giới
nội tâm nhân vật và để nhân vật tự bộc lộ.Vị trí người trần thuật ở ngôi thứ
ba, ẩn tàng, có thể thay đổi liên tục điểm nhìn, có thể đi ngược quá khứ, hoặc
len lỏi vào ngõ ngách sâu tối nhất của nhân vật, mà không một thế lực nào cản
trở, ngôn ngữ kể của Nhất Linh đã trở lên sinh động, đa dạng, không đơn giản
chỉ là lời kể về các tình tiết, xâu chuỗi các sự kiện để tạo nên sự vận động của
cốt truyện. Có lúc tác giả dùng lời kể khách quan ghi lại diễn biến câu
chuyện, có lúc nhập vào tâm trạng của Trương để miêu tả. Tuy trần thuật
thấm vào tâm hồn lạnh lẽo. Ngay đầu tác phẩm: Trương cảm thấy nỗi buồn
hưu quạnh của cuộc đời cô độc; chàng cảm thấy mình trơ trọi trước cuộc đời
15
không bạn hữu, không cha mẹ, anh em… Bệnh tật, cái chết, khát vọng tình
yêu, cô đơn, … vây quanh chàng sinh viên trường luật.
Sau khi Trương gặp bác sĩ Chuyên và biết mình sắp chết, Trương vô
cùng đau khổ, ngồi uống café cùng Quang nhưng tâm trí Trương chỉ nghĩ đến
cái chết. Miêu tả lại tâm trạng ấy, người trần thuật dường như đã nói cùng
Trương những toan tính trong lòng: Chàng sẽ nếm đủ các khoái lạc ở đời,
chàng sẽ sống đến cực điểm, sống cho hết để không còn ao ước gì nữa, sống
cho chán chường. Trương thấy mình nô nức hồi hộp mà lại sung sướng nữa.
Chàng sung sướng vì chỉ thấy mình như một con chim thoát khỏi lồng, nhẹ
nhàng trong sự tự do không bờ bến. Những cái ràng buộc, đè nén của đời
sống thường không còn nữa, chàng sẽ hết băn khoăn hết e dè được hoàn toàn
sống như ý mình [14;40].
Miêu tả tâm trạng Trương khi chàng đã lừa thành công để Chuyên nói
thực sự tình bệnh mình ra sao, đặc biệt là khi nghe Chuyên nói “- Anh đừng
lo..” càng làm chàng thấy khó chịu:
Trương thấy nóng hai tai, nghe mãi thấy tiếng “anh đừng lo” chàng đã phát
cáu toan nói những câu rồ dại, chàng lại thôi. Mắt chàng tự nhiên nhìn vào
mấy bông hoa cẩm chướng và hình ảnh những con bướm bay trong nắng một
ngày chủ nhật đã xa xôi lại hiện ra trước mắt.
Còn đây là sự thú nhận của nhân vật sau những cuộc hành lạc thâu
đêm qua ngôn ngữ người kể chuyện: Trương nhận thấy mình là một người
hấp hối cần suy nghĩ bao quát cả đời sống của mình trước khi nhắm mắt.
Ngay lúc đó, thực tình chàng còn mệt mỏi chán sống hơn cả thân thế chàng.
Chàng đã đạt tới mục đích: là không sợ cái chết nữa. Giá đời mình không có
nhái ran lên từng loạt, thỉnh thoảng có tiếng chẫu chuộc nghe lõm bõm như
tiếng chân rút mạnh của một người lội trong bùn.
17
Trương quay lại ý tưởng thế nào cũng phải chết mà việc đi về ấp của
Thu làm lãng quên. Mới từ sáng đến giờ đã bao nhiêu việc dồn dập tới.
Trương nhớ đến mấy bông hoa cẩm chướng và hàm răng của Chuyên nhe ra
khi Chuyên xem ngực chàng. Trương cảm thấy mình ghét Chuyên lạ lùng.
Nghĩ loanh quanh mãi không có mạch lạc gì, Trương nhắm mắt lại cố ngủ.
Trong buổi đêm yên ắng đó, như có sự giao cảm, Trương chú ý từng
tiếng động xung quanh, tiếng Thu nói, tiếng ếch nhái ngoài đồng và rồi:
Trương thấy một nỗi buồn thấm hồn, lạnh lẽo, chàng chợt nghĩ ra điều
gì khẽ động vào vai Hợp, Hợp vẫn ngủ say không biết… Trương nghiêng đầu
nhìn chếch sang một bên, nhưng mặt Thu bị khuất sau một chiếc gối. Chàng
nhìn qua xuống phía dưới: trên nền vải trắng một bàn tay của Thu hiện ra
trước mắt chàng. Mấy ngón tay thon để xoãi ra và khẽ lên xuống theo điệu
thở. Trương yên lặng nhìn như vậy lâu lắm. Sau lúc đó chàng thấy chàng khổ
sở thế: chàng cũng không hiểu tại sao, chàng mang máng thấy đời người đẹp
vô cùng, trong sự sống có bao nhiêu cái đệp mà riêng mình chàng bị hất hủi.
Đối với đời chàng như người được ngắm có cái bàn tay.
Tâm trạng người đang yêu là những biến động khó hiểu và Nhất Linh
đã thực sự đi vào dòng suy nghĩ, ý thức của nhân vật để tái hiện lại bằng ngôn
ngữ kể sinh động của mình.
Hôm Trương về quê dự đám cưới tiện thể bán luôn đất ở đó, trong khi
ngồi nhìn các cô phù dâu trang điểm cho nhau bỗng chàng nảy ra ý định trong
đầu hay là giết Thu, rồi tự cho đó là xấu. Miêu tả tâm trạng Trương vào chiều
hôm đó:
Chiều đến, Trương xuống cuối làng thăm mộ hai thân chàng. Trương
trong quan và sau áo quan các bạn cũ của mình đương đi kia: Điệp, Linh,
Mỹ, …và tất cả các bạn học cũ ở trường luật.
Cho tới cuối tác phẩm cái chết vẫn ám ảnh nhân vật, từ cái đám tang lạ
chàng gặp ngoài đường Trương nghĩ ngay đó là đám tang của chính mình;
19
chàng thấy Thu trong đó và cả đám bạn học cùng. Trương thấy lòng man mác
buồn, những nỗi buồn vô cớ mà chính chàng cũng không hiểu.
Bướm trắng là tiểu thuyết tình cảm, cả tác phẩm là dòng suy nghĩ của
Trương. Cái chết luôn hiện hình trong từng suy nghĩ và hành động của
Trương. Tuy nhiên kết thúc tác phẩm, cái chết không hề được nhắc tới,
Trương không còn ý định sẽ giết người mình yêu là Thu rồi tự sát nữa, mà mở
ra đó là tương lai tươi sáng của chàng với Nhan:
Nói xong, Nhan nhìn trương, mỉm cười; nàng sung sướng có cái cảm
tưởng như được săn sóc âu yếm đến một người chồng.
Đây là cái cảm tưởng trong trí tưởng tượng của một thôn nữ, đó là một
kết thúc lấp lửng của Nhất Linh. Theo tình tiết kết thúc câu chuyện, giọng kể
của Nhất Linh đưa đến kết thúc như vậy. Tác giả như tự do nói với bạn đọc,
đưa đến một kết thúc đúng với đặc điểm sáng tác tiểu thuyết lãng mạn của Tự
lực văn đoàn.
Nếu như câu văn trần thuật trong Bướm trắng là những dòng tâm trạng
miên man của nhân vật thì Đoạn tuyệt lại là những câu giản dị, mạch lạc để đi
sâu phân tích lí giải tâm trạng nhân vật, tạo ra câu văn uyển chuyển, phù hợp
với tâm trạng con người.
Loan lại tìm đến phố Dũng ở. Vì hôm đó trời nắng ráo, nên dãy nhà
trông bớt vẻ tồi tàn. Loan tò mò nhìn vào trong mấy gian nhà tối tăm, lạnh
lẽo. Thấy từng gia đình lúc nhúc trong bóng tối, trong khi ở ngoài trời nắng
mới, ánh sáng rực rỡ phấp phới trên lá cây. Loan bùi ngùi liên tưởng, nghĩ