1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THỊ TOAN
ĐỀ TÀI NÔNG THÔN
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGÔ NGỌC BỘI Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Tác giả luận văn
Vũ Thị Toan 3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Phan Trọng Thưởng. Kết quả
nghiên cứu này không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với nội dung công trình khoa học này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Toan
thời kì đổi mới.
Trong số những nhà văn tiêu biểu viết về đề tài nông thôn, Ngô Ngọc
Bội là một nhà văn thuộc thế hệ trưởng thành gắn bó với làng quê miền Trung 5
du Bắc Bộ. Với sự đa dạng về mặt thể loại như: kí, truyện ngắn, tiểu thuyết
nhưng chỉ viết về một đề tài tam nông, nên sáng tác của nhà văn đạt được
nhiều thành tựu. Gần đây nhất là giải thưởng: Tác phẩm văn học xuất sắc về
Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn do Bộ Nông Nghiệp và Nông thôn và
Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 3/6/2011 với tiểu thuyết Lá Non được
bạn đọc đón nhận nồng nhiệt.
Cũng viết về đề tài nông thôn nhưng phong cách sáng tác trong các tác
phẩm của Ngô Ngọc Bội mang những sắc thái riêng, khác biệt với các nhà
văn cùng thời. Tác phẩm của ông đã phản ánh mọi chính sách có liên quan
đến nông nghiệp trong thời kì đổi mới. Nội dung bao trùm trong các sáng tác
của ông là hướng về số phận người nông dân và đời sống nông thôn, những
hoạt động đời sống tình cảm và sản xuất trong nông thôn, nông nghiệp.
Không gian và thời gian nghệ thuật trong các tác phẩm của nhà văn có sự
cách điệu từ không gian và thời gian thường nhật của chính miền Trung du
Phú Thọ. Ông được mệnh danh là “người lấy nước ao làng làm mực viết”
(Nguyễn Anh Đào).
Đây là đề tài không mới nhưng nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt của văn
học Việt Nam từ xưa cho đến nay. Nếu chỉ nhìn ở bề ngoài, bề nổi thì Ngô Ngọc
Bội không thuộc số nhà văn nổi cồn, danh tiếng. Nhưng có những điều nhà văn
phát hiện, phản ánh, tiên đoán về con người và xã hội trong một thời kì lịch sử thì
không phải nhà văn nào cũng hiểu hết và mạnh dạn bộc lộ. Vì lẽ đó mà những
thành tựu về sáng tác của nhà văn được bạn đọc biết đến còn khiêm tốn và dè dặt.
Hơn thế đây cũng là niềm yêu thích và đam mê tìm hiểu của người viết luận văn
về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn, muốn góp phần nhỏ bé của
nhằm vào tất cả những cái lạc hậu, bảo thủ, lười biếng của nông dân cá thể,
nhằm vào cái sai lầm do ấu trĩ, nôn nóng, bồng bột, tuỳ tiện, phe cánh, quan
liêu, bảo thủ, tham ô, hủ hoá, lũng đoạn, vô trách nhiệm, thiếu tính khoa học, 7
xa rời nhân dân của cán bộ, đảng viên ở các cấp thôn, xã, huyện, tỉnh. Nó
cũng không né tránh cả việc phản ánh phê phán những sai lầm do chính
đường lối của Đảng trong chính sách cải cách ruộng đất, chính sách tập thể
hoá sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng hợp tác xã cấp thấp và
cấp cao”[40, tr.17]. Nói như tác giả bài viết thì tính Đảng trong tiểu thuyết
của Ngô Ngọc Bội gắn liền với nhân dân, với quần chung lao động, và nhà
văn đã chỉ ra phần nào cái gốc rễ sự thất bại của các chủ trương sản xuất lớn
trong nông nghiệp.
Dương Huy Thiện trên trang “Trang đời trang sách” đã nhận xét về
tác phẩm Mênh mang cổng trời của Ngô Ngọc Bội như sau: “Mênh mang
cổng trời mang tính tổng hợp với độ chín về bút pháp, thể hiện rõ style Ngô
Ngọc Bội. Con người trong tác phẩm là con người có xương, có thịt hệt như
người ngoài đời”.
Nhà văn Văn Chinh đã dành khá nhiều bài viết của mình về nhà văn
Ngô Ngọc Bội. Trong bài viết “Ngô Ngọc Bội - nhà văn của chiếc áo mới
mặc buổi đêm” trên mục Chân dung nghệ sĩ văn học nghệ thuật Phú Thọ có
đoạn: “Ngô Ngọc Bội, ngoài cái thiên bẩm mạnh mẽ, ông còn một phông văn
hoá vững vàng học hỏi và tích tụ từ trí tuệ dân gian. Ông là người tiên khởi
về vấn đề dòng họ, tinh thần bè phái phe giáp trong nội bộ ở tiểu thuyết Lá
non, hơn mười năm trước cái Mảnh đất lắm người nhiều ma xuất hiện”. Để
khẳng định tài năng, chất văn chương nông thôn của Ngô Ngọc Bội như một
điểm sáng làm nên vệt sáng của sao chổi văn xuôi, Văn Chinh còn nhận xét:
“Người sinh ra chỉ chuyên viết về nông dân, nông thôn, học hành không
nhiều nhưng như một ông Phêrô gác cửa thiên đàng văn học, ông đã mở cửa
chức hợp tác xã vòng I, vòng II. Và dẫu cho rằng xa rời Trung du về sống
giữa đô thành anh vẫn là người trong cuộc. Vẫn da diết, trăn trở, chia từng
niềm vui, nỗi buồn cùng người nông dân, cùng xót xa với những thất bại, nổi 9
chìm của quê nghèo”[18, tr.183].
Về nghệ thuật, PGS. TS. Mai Hương cũng
rất công bằng, phân minh khi đưa ra lời nhận xét đánh giá về nhà văn như sau:
"Đọc anh có người nhận xét: Kết cấu tác phẩm cổ điển, chất phóng sự khá rõ,
nhiều chỗ dàn trải, dài dòng. Những nhận xét có thể ít nhiều có lí, nhưng đọc
anh, điều ai cũng phải khẳng định: anh đã lao động công phu biết bao trong
từng trang sách. Không kể đến những ưu điểm nổi trội anh tiếp nhận được từ
quần chúng"[18, tr.188]. Song song với tiểu thuyết thì truyện ngắn và bút kí
của Ngô Ngọc Bội cũng đạt được những thành tựu với nhiều tác phẩm xuất
sắc như: Đồng lực, Đồi vàng, Tình cát sỏi, Nỗi riêng khép mở, Bộ quần áo
mới, Chị cả Phây… Trong bài viết của mình PGS. TS. Mai Hương nói về khả
năng sáng tác cũng như tâm tư, tình cảm đầy nhiệt huyết của nhà văn thông
qua tác phẩm:“Thực ra Ngô Ngọc Bội không viết nhiều truyện ngắn, nhưng
truyện của anh cứ chất chứa một tâm sự, một trăn trở đầy trách nhiệm tâm
huyết mà anh đã phát hiện được”[18, tr.186]. Còn bút kí của nhà văn có lẽ
không chỉ đạt về chất mà còn cả về khối, hàng loạt các bài bút kí của tác giả
như lời nhận xét, đánh giá của PGS. TS. Mai Hương thì đã: “phát hiện, đề
cập đến những vấn đề cấp thiết có ý nghĩa tác động trực tiếp đến đời sống…
ai đã từng đọc khó có thể bàng quan, không nghĩ, không băn khoăn trăn trở
và không thấy một nhu cầu: Phải góp phần giải quyết, tháo gỡ”[18, tr.186].
Trên báo Văn nghệ số 50 (11-12-2010), Nguyễn Văn Chương ở thành
phố Vinh - Nghệ An cũng có bài viết “Đọc Hoa Ngọc Bút” của Ngô Ngọc
Bội. Bài viết ngoài việc ca ngợi nội dung tác phẩm, khẳng định tài năng viết
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Trước hết, luận văn cố gắng tìm hiểu, tái hiện diện mạo nông thôn
trong lịch sử văn học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại và sự hình
thành đội ngũ nhà văn viết về nông thôn. Đó là cơ sở xác lập cảm hứng sáng
tác về đề tài nông thôn của nhà văn. 11
Thứ hai, để chứng minh cho tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội đạt được
những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật, thấy được những điểm riêng
và sự cống hiến của nhà văn, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích, lí giải
những vấn đề của nông thôn trong thời kì đổi mới với bản sắc văn hóa, hiện
thực xã hội, số phận người nông dân để thấy được tầm nhìn, những dự báo
của nhà văn về vấn đề này.
Cuối cùng, luận văn đi sâu vào phân tích một số đặc điểm cơ bản về
phương diện nghệ thuật thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết của
nhà văn.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung khảo sát bức
tranh nông thôn ở vùng Trung du miền Bắc Việt Nam qua tiểu thuyết của nhà
văn Ngô Ngọc Bội. Những vấn đề đó tập trung trong một số tiểu thuyết của
nhà văn như: Ao Làng (1975), Lá non (1987), Ác mộng (1990), Gió đưa cành
trúc (1992), Mênh mang cổng trời (1996), Tơ vương (2000), Đường trường
khuất khúc (2003).
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Văn học thời kì đổi mới phần lớn phản ánh những vấn đề xã hội như:
vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề chiến tranh, hậu chiến tranh, vấn đề
con người và quan niệm về giá trị con người trong môi trường xã hội mới…
Ngô Ngọc Bội
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết
của Ngô Ngọc Bội
13
NỘI DUNG
Chương 1
ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC
1.1. Khái quát chung về đề tài nông thôn trong văn học
1.1.1. Đề tài nông thôn trong văn học dân gian
Điểm xuất phát và truyền thống của người Việt bắt nguồn từ nền văn
minh sông Hồng gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước. Từ xa xưa, bao đời
nay, ông cha ta, những người dân đất Việt sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ
cái nôi của nền văn minh nông nghiệp ấy. Văn học dân gian là chiếc cầu nối
chuyển tải những tâm tư, tình cảm của con người, là ngợi ca cuộc sống nông
nghiệp của nhân dân ta. Văn học dân gian ngày được nhân dân lao động nhận
thức và đón nhận như một hoạt động nghệ thuật (không chuyên nghiệp) trong
lao động sản xuất và người nông dân trở thành đối tượng phản ánh chủ đạo
trong các bài ca dao, dân ca, tục ngữ Tên của mỗi thể loại gắn liền với tên
của mỗi hình thái lao động cụ thể. Nó được hình thành và được trình diễn kèm
theo với hoạt động lao động, gắn bó và quen thuộc với nhiều dân tộc anh em,
nhất là các dân tộc Tây Nguyên. Chẳng hạn, dấu hiệu khiến người ta rủ nhau
lên rừng phát nương để bắt đầu một vụ sản xuất mới là lời ca lao động hòa
cùng tiếng dao rựa chặt cây ồn ã, khẩn trương, nhộn nhịp:
Hô… hô… hô… hô…
Anh đốn cây to
- Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân
- Một lượt tát, một bát cơm
Trong thể loại truyện, thần thoại, sử thi đều phản ánh đến cuộc đời, số
phận của con người, đặc biệt là người nông dân lao động. Hình ảnh các nhân
vật: cô Tấm (Tấm Cám), Lang Liêu (Bánh Chưng, bánh Dày), Đam Săn (Sử
thi Đam Săn), Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương)… đều mang dấu ấn và 15
thấm nhuần chất nông dân từ con người, tính cách, suy nghĩ đến hành động để
cuối cùng dù có chết thì lòng họ vẫn hướng về nhân dân, sự bình yên no ấm
của nhân dân và họ cũng bất tử trong lòng nhân dân.
Đây là thời kì mà những thể loại như tiểu thuyết, thơ mới… chưa xuất
hiện thì các thể loại của văn học dân gian chiếm vị trí độc tôn và đề tài nông
thôn vẫn chiếm một vị trí quan trọng, chi phối nhiều trong các sáng tác văn
học làm nên diện mạo của văn học dân gian.
1.1.2. Đề tài nông thôn trong văn học trung đại
Tiếp nối quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, bên cạnh mảng văn
học dân gian thì văn học giai đoạn này có những bước ngoặt lớn, đó là sự ra
đời của văn học viết, sự xuất hiện của văn học chữ Nôm. Những bước ngoặt
này mở ra sự phát triển toàn diện, mạnh mẽ của văn học dân tộc. Bên cạnh
văn học dân gian đã có văn học thành văn, bên cạnh văn học chữ Hán đã có
văn học chữ Nôm, các thể loại văn học cũng rất phong phú và đa dạng như:
văn chính luận, thơ, phú, cáo, chiếu, biểu, văn xuôi, văn vần, hịch, truyện
truyền kì, kí. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo là hai cảm hứng lớn,
xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Do
ảnh hưởng của mĩ học Trung Hoa mà văn học thời kì trung đại còn hướng tới
đề tài cao quý như: tùng, cúc, trúc, mai, trăng, hoa, tuyết, nguyệt. Trong dòng
văn chương bác học truyền thống, người sáng tạo chủ yếu là tầng lớp trí thức
nho sĩ phong kiến. Quan niệm văn chương của họ không tách rời đạo lí (văn
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
(Thơ chữ Nôm - Bài 79)
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn nhất và cuối cùng của
văn học trung đại. Ông được coi là nhà thơ số 1 viết về nông thôn của văn học
dân tộc. Làm nên cái độc đáo của riêng nhà thơ thì chủ yếu là những vần thơ 17
Nguyễn Khuyến viết về nông thôn, với con người, cảnh vật thiên nhiên và
phong tục tập quán. Điều kì lạ là nông thôn Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn
năm và đã xuất hiện nhiều trong thơ ca, nhưng đến với Nguyễn Khuyến, văn
học mới thực sự bước xuống ruộng đồng, đến với người dân nơi thôn dã và
cuộc sống lam lũ của người nông dân lao động. Tất cả được hiện ra một cách
cụ thể và sinh động. Thơ của ông cũng vượt qua được những sáo mòn “tuyết,
nguyệt, phong, hoa” của thi ca cổ để miêu tả cảnh thực, tình thực với những
hình ảnh cụ thể của cảnh sắc Việt Nam như: ao cá, bờ tre, ngõ trúc, vườn cà,
vườn vải Nội dung chủ yếu trong thơ Nguyễn Khuyến là bức tranh phong
cảnh đồng quê, cuộc sống sinh hoạt nông thôn, cảnh làm ăn thất bát, cảnh vỡ
đê lụt lội, cảnh sống bần hàn, đạm bạc của người nông dân phải chạy ăn từng
bữa, đong đếm, cân đo từng xu:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
(Chốn quê)
Ông còn được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với chùm
thơ thu: Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm. Chùm thơ thu là bức tranh nông thôn về
Văn học giai đoạn này chủ yếu phản ánh cuộc sống tối tăm, bần cùng của
người nông dân trong xã hội cũ. Thành công của những trang viết về đề tài
nông thôn trong giai đoạn này là các nhà văn đã phản ánh được một cách chân
thực, sâu sắc hiện thực bức tranh nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Đó
là nông thôn của sưu cao thuế nặng, vô lí và bất công, của những thủ đoạn bóc
lột tàn nhẫn, trắng trợn. Đặc biệt là hiện tượng người nông dân bị tha hóa,
biến chất cả nhân hình lẫn nhân tính, đồng thời là vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng 19
và sức sống mãnh liệt của họ: Chí Phèo (Nam Cao), Tắt đèn (Ngô Tất Tố),
Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan)
Văn xuôi viết về nông thôn còn mang đậm chất phong tục từ cách cảm,
cách nghĩ đến cách thể hiện. Đó là đời sống làm lụng cơ cực, những ước mơ
giản dị, những phong tục thuần phác cùng với khung cảnh nông thôn khá êm
đềm, yên tĩnh: Chồng con, Sau lũy tre, Con trâu (Trần Tiêu). Còn những
sáng tác của Thạch Lam, có nhiều truyện ngắn tuy không trực tiếp miêu tả
người nông dân lao động nhưng đã thể hiện rất rõ cuộc sống phẳng lặng, tù
đọng, bế tắc, mòn mỏi, ước mơ mong manh, mơ hồ, tội nghiệp của người
nông dân trước cách mạng: Hai đứa trẻ, Cô hàng xén
1.1.3.2. Giai đoạn 1945-1985
Cuộc cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến cho người nông
dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới. Đó là sự giải phóng khỏi kiếp sống nô lệ,
tôi tớ. Đây là giai đoạn văn học của công nông binh giảm tô, cải cách. Bao
trùm không khí cả nước là nông dân làm chủ cuộc sống tự do cá nhân, làm
chủ ruộng đất, nông dân tham gia kháng chiến giải phóng đất nước. Các chiến
sĩ cách mạng xuất thân từ nông thôn, từ các làng quê sau lũy tre làng, chân
lấm tay bùn, lam lũ, cơ cực nhưng khi có được tiếng gọi thiêng liêng của non
sông đất nước thì họ từ anh nông dân trở thành chiến sĩ cách mạng, anh bộ đội
cụ Hồ sẵn sàng tiên phong lên đường bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đã trở
sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Bão biển (Chu Văn), Hãy đi xa hơn nữa,
Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện (Tập truyện ngắn-Nguyễn Khải), Gánh vác
(Vũ Thị Thường), Đồng tháng năm (Nguyễn Kiên), Trai làng quyền
(Nguyễn Địch Dũng), Anh Keng (Nguyễn Kiên). Cái sân gạch, Vụ lúa
chiêm thời bấy giờ được xem như một sự kiện văn hóa đặc biệt. Cái sân gạch
đã tái hiện được bức tranh nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác
xã. Qua những toan tính của lão Am xung quanh việc vào hợp tác, tác giả đã 21
dựng được một bộ mặt nông dân tương đối rõ nét, cụ thể. Truyện ngắn Tầm
nhìn xa của Nguyễn Khải, qua nhân vật Kiên tác giả cho thấy phần nào đó
bản chất tư hữu của người nông dân trong hoàn cảnh mới. Viết về đề tài nông
thôn giai đoạn này, quan niệm về con người còn thể hiện trong sự thống nhất
riêng chung, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, không so đo tính
toán cho riêng mình. Cái hom giỏ của Vũ Thị Thường, Cái sân gạch, Vụ lúa
chiêm của Đào Vũ nói về hai thái độ đối cực của một là lớp người già “sống
lâu lên lão làng” với những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, trì trệ và lớp thanh niên
nhạy bén tiến bộ với việc ra - vào hợp tác xã.
Bên cạnh những phẩm chất đẹp đẽ của người nông dân được văn học
phản ánh nhiều, thì giai đoạn này một số tác phẩm viết về nông thôn đã có
những phát hiện mới về số phận con người cá nhân và khát vọng sống, khát
vọng hạnh phúc của họ. Mùa lạc, Chủ tịch huyện, Tầm nhìn xa (Nguyễn
Khải), Bão biển (Chu Văn) là minh chứng rất rõ cho điều đó. Trong Mùa lạc,
Nguyễn Khải đã đề cập đến một vấn đề số phận con người có sự thay đổi lớn
lao tích cực trong môi trường tập thể, môi trường tốt đẹp. Điều đó cho thấy
con người có sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa cái cá nhân và cộng
đồng. Dù thế, đến đây dấu hiệu quan niệm về con người đã có những đổi thay
khác trước. Cuộc sống của họ ngoài sự hi sinh, cống hiến là khát vọng hạnh
phúc riêng tư cho riêng mình. Vấn đề quan trọng là sự thấu hiểu, cảm thông,
trẻ viết về nông thôn đã ra đời. Nhìn chung cuộc sống nông thôn không phải
phẳng lặng, yên ả như cái vốn có của nó mà đằng sau ấy là sự đấu tranh gay
gắt giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu. Đó là anh Năm, chủ
nhiệm hợp tác xã, chị Hòe, đội trưởng sản xuất trong Gia đình lớn của
Nguyễn Khải là những người anh hùng trong sản xuất, họ mang trong mình tư
tưởng mới, tình cảm mới, đạo đức mới và cả lẽ sống mới. Đây cũng là thời kì
nông thôn miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chủ 23
nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu hòa quyện vào nhau
“Những con người mới, với vẻ đẹp rực rỡ trọn vẹn, đẹp trong sản xuất và đẹp
trong chiến đấu xuất hiện ngày một nhiều”[31, tr.5]. Cho nên thời kì này cũng
xuất hiện những tấm gương mới, những con người mới vừa sản xuất giỏi, vừa
chiến đấu anh dũng ở ngay trong lòng hợp tác xã. Tập tre xanh (Vũ Lê Mai)
đã ghi lại được một số gương mặt điển hình mới có thành tích trong chiến đấu
và sản xuất như: Bảo (Bảo), Vân (Khắp nơi là mặt trận), Hoạch (Ông chủ
nhiệm và chàng rể tương lai). Hay trong một số tác phẩm của Nguyễn Kiên
như: Một ông chủ nhiệm đã xây dựng hình tượng nhân vật Triệu là xã viên
hợp tác xã, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh Triệu trở thành anh pháo thủ
bắn máy bay Mĩ. Còn Nhội trong Ngày và đêm hậu phương lại từ mặt trận
chống Mĩ trở về làm Bí thư kiêm Chủ nhiệm hợp tác xã Vân Cầu, chiến đấu
trên mặt trận sản xuất rất tích cực. Rõ ràng từ một xã viên có thể trở thành
người chiến sĩ dũng cảm, người chiến sĩ lại về làm nhiệm vụ của anh xã viên,
hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất gắn bó với nhau.
Đề tài nông thôn trong những năm 1975-1985 diễn ra trong bối cảnh
chung của đất nước: Đất nước dành độc lập, những mất mát sau chiến tranh,
nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng tự cung, tự cấp, chế độ quản lí quan
liêu bao cấp ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém tồn tại. Lúc này, khi phải đối
mặt trước những khó khăn thử thách của cuộc sống thực tại, con người phải lo
các nhà văn đứng ở góc độ con người để nhìn con người. Nhân vật và các
kiểu nhân vật không còn được bao bọc bởi một không khí vô trùng, trong sạch
như pha lê nữa mà được nhà văn cảm nhận, khám phá trong mối quan hệ
nhiều chiều, phức tạp, con người luôn có sự đan cài giữa phần “con” và phần
“người”, giữa cái thiện và cái ác. Con người được bộc lộ đầy đủ nhất những
cảm xúc, những trăn trở suy nghĩ riêng tư và cả những cảm xúc kìm nén, khát
khao hạnh phúc rất người của con người. 25
Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) tác giả
đã xây dựng được một loạt hình tượng nhân vật có những suy nghĩ, hành
động quái gở, thâm độc chỉ vì mâu thuẫn giữa hai dòng họ đã thuộc về quá
khứ. Vì sự cố chấp, nhỏ nhen mà ông Hàm đang tâm đào mộ người mới chết
với ý nghĩ đen tối đến ngông cuồng là lấy bộ áo quan đóng bộ bàn ghế đem
bán lại cho chính cháu con dòng họ của thù địch. Thật nực cười và ngớ ngẩn.
Lòng hận thù dẫn con người ta đến hành động mù quáng, phạm cả đến những
điều cấm kị và linh thiêng của người chết. Còn Thủ thì bất chấp tất cả, dùng
mọi thủ đoạn bỉ ổi, xấu xa, đê hèn để giữ được cái ghế chủ tịch huyện của
mình. Hệ quả tất yếu là những cuộc đời, số phận như lão Quềnh, bà Son bị
chết oan uổng trong tay những kẻ có tiền, có quyền, những kẻ sẵn lòng tham
và lòng ác. Hiện thực được phản ánh và phơi bày ở một góc nhỏ của làng quê
nhỏ bé, thực hư, trắng đen, tốt xấu lẫn lộn. Tác phẩm làm cho người thấy sợ
người hơn. Làng quê vốn chứa đựng bao nét êm ả, thanh bình thì thay vào đó
là đủ mọi mưu kế sát phạt, hãm hại lẫn nhau. Có được bức tranh nông thôn
này phải chăng là có tinh thần dân chủ sau Đại hội VI của Đảng cởi trói cho
văn học nghệ thuật. Nét đổi mới của văn học viết về nông thôn thời kì này là
nhà văn đã dám đối mặt với sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh tất cả
những mặt còn tồn tại trong cuộc sống và trong con người. Đây không phải là
cái nhìn thiên chiều, tiêu cực, hạn chế mà chính những cái hiện thực ấy giúp