Đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Luận văn ThS. Văn học - Pdf 28

1

z

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

====***====
NGUYỄN THỊ HƢƠNG
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA ĐỖ PHẤN LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2014
2

z
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Bích Thu.
Các số liệu, kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung
thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Những tài liệu tham khảo, ý kiến được trích dẫn nhằm làm sáng tỏ thêm
vấn đề đều được ghi chú nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Người thực hiện luận văn Nguyễn Thị Hƣơng 4

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên từ thầy cô, người thân, bạn bè.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Thị
Bích Thu - người đã tận tình hướng dẫn, tin tưởng và giúp đỡ tôi trong suốt

CHƢƠNG 1: ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN
ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN………………… .… …… 10
1.1. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến văn hóa xã hội Việt Nam 10
1.1.1 Đô thị hóa ở Việt Nam 10
1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới văn hóa xã hội Việt Nam 12
1.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại 14
1.2.1 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam những năm 1930 – 1945 14
1.2.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 15
1.2.3 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam sau 1975 đến nay 17
1.3 Đề tài đô thị trong sáng tác của Đỗ Phấn 20
1.3.1 Tiểu sử nhà văn 20
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phấn 23
1.3.3 Những tiểu thuyết về đề tài đô thị của Đỗ Phấn 25
CHƢƠNG 2: BỨC TRANH CUỘC SỐNG VÀ CON NGƢỜI ĐÔ THỊ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN 30
2.1 Không gian đô thị 30
2.1.1 Không gian đô thị cũ 30
2.1.2 Không gian đô thị mới 33
2.1.3 Không gian giáp ranh 36
6

2.2 Thời gian đô thị 41
2.2.1 Thời gian uể oải, dùng dằng, bất định 41
2.2.2 Thời gian đậm chất tạo hình 44
2.3 Con người đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn 46
2.3.1 Lối sống và thói quen sinh hoạt của người dân đô thị 46
2.3.2 Mối quan hệ gia đình trong môi trường đô thị 53
2.3.3 Đời sống nội tâm của con người đô thị 56
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN………………………… 64

trường giàu tính cạnh tranh đã góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc
sống của con người, xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước. Tuy nhiên, sự phát
triển nhanh, có phần ồ ạt của các đô thị cũng gây ra nhiều hệ lụy đáng suy
ngẫm.
Sự biến đổi về đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của con người
(đặc biệt là người dân đô thị) trong cơ chế kinh tế thị trường nhanh chóng trở
thành vấn đề nóng của văn học nghệ thuật nói chung và thể loại tiểu thuyết
nói riêng. Ngày càng có nhiều tác giả lựa chọn đề tài đô thị để triển khai tác
phẩm của mình. Họ lột tả con người đời thường với những cô đơn, băn khoăn,
vấp ngã, xót xa, đứt gãy, quay cuồng trong cơn lốc khủng hoảng giá trị của xã
hội hiện đại. Những giá trị cũ đã bị mai một, những giá trị mới đang hình
thành còn nhiều bất ổn, chông chênh.
Đỗ Phấn chính là một trong số đó. Với vốn sống, vốn văn hóa của một
thị dân lâu đời, ông trút hết băn khoăn, trăn trở của mình về sự biến đổi của
con người vào trang viết. Những vấn đề nổi cộm của đô thị nói riêng và cả đất
nước trong cuộc thay da đổi thịt nói chung được đưa vào hầu hết các tiểu
thuyết của ông như Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Gần như là
8

sống, Con mắt rỗng, Ruồi là Ruồi cũng như nhiều tập tản văn, truyện ngắn,
và truyện dài.
Cuộc sống đô thị trong tiểu thuyết của ông được tái hiện qua bối cảnh
thủ đô nghìn năm tuổi, một đô thị tiêu biểu, đang trở thành kiểu mẫu cho hàng
ngàn đô thị khác mọc lên khắp cả nước. Những vấn đề ông nêu lên cũng
chính là băn khoăn của nhiều người Việt: Làm sao để gìn giữ văn hóa truyền
thống, hạnh phúc, niềm tin và văn minh ứng xử trước làn sóng thực dụng
nghiệt ngã của tiền bạc, danh vọng?
Những sáng tác của Đỗ Phấn ra mắt ồ ạt, nhanh chóng nhận được phản
hồi tích cực của bạn đọc. Đề tài đô thị xuyên suốt các tiểu thuyết của ông như
một mạch nguồn khơi mở cảm hứng sáng tạo. Niềm trăn trở của ông qua ngòi

ruồi. Các tác phẩm của ông nhanh chóng được bạn đọc và giới phê bình chú
ý. Như đã nêu ở phần trên, Vắng mặt của Đỗ Phấn lọt vào chung khảo Giải
thưởng Bách Việt, đáng tiếc giải thưởng này bị ngưng lại, không rõ kết quả
cuối cùng. Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay, người đọc đã thấy đề tài đô thị
được tác giả dụng tâm thể hiện tinh tế, công phu. Trần Nhã Thụy trong Vừa
nhớ vừa bịa nhận xét: “Và, về thành phố. Tiểu thuyết là tập hợp những bức
tranh thành phố, ở những giai đoạn khác nhau, ráp nối lại, để nhìn ngắm, soi
rọi, nhớ thương hay phẫn nộ. Thành phố. Giữa những ồn tạp tưởng chừng như
bất tận, giữa những “hội hè miên man”… thì chừng như vẫn muôn thuở buồn,
vẫn không thể cứu vãn những mất mát. Thành phố không còn kí ức” [29,
tr.361].
Tiếp theo đó, Đoàn Ánh Dương trong bài Đỗ Phấn giữa chúng ta, nêu
lên những cảm nhận và đánh giá của mình về tiểu thuyết Rừng người, cũng là
một cái nhìn chung về những tiểu thuyết về đô thị của tác giả. Đoàn Ánh
Dương phát hiện ra lối diễn đạt của Đỗ Phấn ít ẩn dụ, màu mè song tinh tế,
10

nhẹ nhàng như cách người ta thưởng trà: “Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm
bày ra cho người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không cao đàm khoát
luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý. Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc
sống một cách có nghệ thuật” [31, tr. 365]. Anh cũng nhận xét rằng: “Trong
văn học Việt Nam đương đại, có hai tác giả chuyên chú về điều này (thái độ
thị dân – người viết chú thích), là Nguyễn Việt Hà và Đỗ Phấn, đều từ các
lĩnh vực khác muộn mằn đến với văn chương, mỗi người một kiểu, mỗi cách
và đều rất độc đáo. Ở Nguyễn Việt Hà, nó đọng ở cấu trúc nghệ thuật ngôn từ
và ở Đỗ Phấn, nó lửng lơ ở ngoài cái cấu trúc ngôn từ nghệ thuật ấy. Cái
giống nhau, có chăng, cũng là một thói thường thị dân, ở sự quan tâm đến
thưởng ngoạn, lại là đàn bà và rượu” [31, tr.367].
Nguyễn Việt Hà cũng dành sự quan tâm của mình đối với các tiểu
thuyết của Đỗ Phấn: “Bao trùm lên trên của tất cả những đô thị, những đàn

vấn đề của đô thị một cách thấu triệt, mổ xẻ, tiên đoán, bắt bệnh cho nó nhiệt
thành và tận cùng như Đỗ Phấn”. Ông còn thấy được hình ảnh “đô thị đang vỡ
ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa phát triển và hệ lụy, giữa
bản thể và những lai tạp nhố nhăng” trong văn chương của Đỗ Phấn. Ông ví
Đỗ Phấn như một kẻ “rỗi việc”, “ngồi nhặt nhạnh, ngẫm nghĩ, và xa xót trước
những lỗ hổng của văn minh đô thị” [47].
Nói chung, các nhà nghiên cứu, phê bình đã chú ý đến đề tài đô thị
trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn, cũng như cách viết nhẹ nhàng, nhẩn nha mà
sâu sắc của ông. Tuy nhiên, những bài viết này mới ở mức độ giới thiệu, tìm
hiểu chung, hoặc chỉ đề cập đến một khía cạnh trong tiểu thuyết của ông. Vẫn
chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đề tài đô thị trong tiểu
thuyết của Đỗ Phấn, từ đó, chúng tôi mạnh dạn thực hiện hướng nghiên cứu
này.
12

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đề tài đô thị trong tiểu thuyết của
tác giả Đỗ Phấn cùng những biểu hiện cụ thể của nó.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát kĩ càng đề tài đô thị cùng các biểu hiện của nó trong
sáu tiểu thuyết của Đỗ Phấn: Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Con
mắt rỗng, Ruồi là ruồi.
Người viết có tham khảo các tác phẩm khác cùng tác giả như: Tản văn
Hà Nội thì không có tuyết, Truyện dài Dằng dặc triền sông mưa…
Ngoài ra, luận văn tham khảo một số tác phẩm của các tác giả khác viết
về cuộc sống của con người đô thị trong xã hội hiện đại (như Hồ Anh Thái,
Nguyễn Việt Hà, Đỗ Bích Thúy )
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: qua việc phân tích hình thức nghệ

Chương 2: Bức tranh cuộc sống và con người đô thị trong tiểu thuyết
của Đỗ Phấn
Chương 3: Một số phương thức thể hiện đề tài đô thị trong tiểu thuyết
của Đỗ Phấn

14

CHƢƠNG 1
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ
TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN
1.1. Ảnh hƣởng của đô thị hóa đến văn hóa xã hội Việt Nam
1.1.1 Đô thị hóa ở Việt Nam
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, “Đô thị là một không gian cư trú
của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong khu vực kinh tế phi
nông nghiệp” [36, tr.12]. Đô thị được hình thành khi nhu cầu sống của con
người ngày càng cao, những lao động nông nghiệp trước đây chuyển sang làm
tiểu thủ công nghiệp, thương mai, dịch vụ. Đô thị bao gồm thành phố, thị xã,
thị trấn… Cũng có thể hình dung đô thị là trung tâm kinh tế - chính trị - văn
hóa của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, là khu vực hành chính với cơ sở hạ
tầng, kinh tế, văn hóa, phát triển, tập trung mật độ dân cư lớn.
Đô thị được hình thành trên thế giới cách đây hàng ngàn năm, bắt đầu
từ những thành phố cổ Jerusalem (Isarel) hay Athens (Hy Lạp)…
Ở Việt Nam, đô thị được hình thành sớm cùng với sự hình thành của
các quốc gia cổ đại như Văn Lang, Âu Lạc. Đến thời phong kiến, cùng với

sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là
đô thị.
Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô
thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt
Nam hay Trung Quốc) (khoảng 35%). Tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta gia tăng
dần theo thời gian. Năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị, năm 2000
con số này là 649, năm 2003: 656, năm 2010: 755, trong đó có 02 đô thị đặc
16

biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Theo dự báo của Liên hợp quốc
đến năm 2050 Việt Nam sẽ có hơn 65,8 triệu dân sống ở các đô thị, với tỷ lệ
đô thị hoá là 59% [43].
Dù các đô thị được hình thành khắp đất nước nhưng nói chung quá
trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra không đồng đều. Các vùng phía Bắc có tỷ
lệ dân số đô thị ít hơn so với vùng phía Nam. Theo dự báo của Liên Hợp
Quốc, quá trình đô thị hoá ở nước ta sẽ tiếp tục phát triển nhanh. Trong đó,
các loại hình đô thị vừa và nhỏ sẽ vẫn chiếm ưu thế. Điều đó đồng nghĩa với
việc các vùng nông thôn sẽ bị xé vụn bởi sự xuất hiện của những đô thị vừa
và nhỏ, tạo nên sự giao thoa giữa văn hóa nông thôn và thành thị, tạo nên
những “phố làng”, “phố huyện”.
1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới văn hóa xã hội Việt Nam
Có thể nói, đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế
giới, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị
hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đời
sống nhân dân.
Tuy nhiên, sự phát triển dân số đô thị quá nhanh ở nước ta đã gây ra vô
vàn vấn đề nan giải trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị - văn hóa và
môi trường như cung cấp nhà ở, cung cấp nước, vệ sinh môi trường, tạo công
ăn việc làm, giải quyết giao thông đô thị, ảnh hưởng đến sinh thái - kinh tế,

khá nhiều trang viết để phản ánh hiện thực ở đô thị. Không ít nhà văn quan
ngại về sự tha hóa của con người trong vòng xoáy bạc tiền đô thị, hay làm sao
để gìn giữ văn hóa truyền thống của thị thành. Đề tài đô thị hẳn sẽ là một đề
tài được khai thác nhiều hơn nữa trong những năm tiếp theo của thế kỷ XXI.
18

1.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.1 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam những năm 1930 - 1945
Từ những năm đầu thế kỷ, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
đã đề cập đến cuộc sống nơi đô thị của Tố Tâm và Đạm Thủy. Trong giai
đoạn khuôn khổ của lễ giáo đã ngấm sâu vào văn hóa Việt, những tư tưởng,
ảnh hưởng của lối sống phương Tây cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nó
tạo nên những tư tưởng mới về quyền tự do, tình yêu và hạnh phúc của con
người.
Hồ Biểu Chánh cũng có nhiều tác phẩm: Cay đắng mùi đời, Tiền bạc -
bạc tiền, Thầy thông ngôn, Kẻ làm người chịu tái hiện lại bức tranh đô thị với
nhiều tầng lớp người khác nhau, từ giới giang hồ ở nhà ga, bến xe tới những
trí thức tân học.
Sang những năm ba mươi, Nguyễn Bính - một nhà thơ lãng mạn đã
dành không ít giấy mực để nói về cảnh quan, nếp sống đô thị:
Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng
Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị (Sao chẳng về đây - Nguyễn Bính)
Phần nhiều nghệ sĩ vừa thích thú với đô thị lung linh, hào hoa, vừa sầu
cái cô đơn, giả dối ở nơi bon chen ồn ào:
Ghét những cảnh sửa sang tầm thường giả dối
Hoa chăm cỏ xén, lối phẳng cây trồng
Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng…. (Nhớ rừng - Thế Lữ)
Hai trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực trong giai đoạn này đều
quan tâm tới cuộc sống thị dân ở những phương diện tích cực và tiêu cực của

người cộng đồng, con người dân tộc. Đề tài đô thị cũng tập trung phản ánh
chân dung những công dân – chiến sĩ, những nhân vật thị dân hiện lên có
20

phần ít thiện cảm. Đôi mắt của Nam Cao khắc họa nhân vật trí thức tiểu tư
sản – nhà văn Hoàng, về nông thôn tản cư vẫn giữ những tư tưởng, nếp sống
của người thành thị. Vào thời điểm đó, lối sống đô thị trở nên lạc lõng và
không phù hợp với đời sống của quần chúng lao động.
Khác với Nam Cao, Tô Hoài viết Những ngõ phố phản ánh sự đổi đời
của những người dân nghèo nơi đô thị. Họ thoát khỏi cuộc sống đói khổ để
đến với cuộc sống mới vui vẻ, tự do, ấm áp tình người. Họ hăng hái xây dựng
lại cuộc sống, làm lại từ đầu, trở về với chính mình.
Hà Minh Tuân đề cập đến cuộc sống đô thị ở Trong lòng Hà Nội và
Hai trận tuyến. Hai tiểu thuyết này viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của
nhân dân Hà Nội. Đến tiểu thuyết Vào đời, tác giả này tiếp tục khai thác đề tài
xây dựng xã hội mới, không né tránh hay bóp méo hiện thực mà phản ánh
trung thực cuộc sống thực tại.
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng viết Sống mãi với thủ đô, trong đó thủ đô
Hà Nội được chọn làm bối cảnh cho các nhân vật với một hình ảnh anh dũng,
kiên cường. Không khí kháng chiến len lỏi vào từng ngõ phố.
Nguyễn Tuân viết Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi. Hà Nội hiện lên trong tập
ký của ông với hình ảnh hiên ngang và hào hoa, đi qua công cuộc kháng chiến
chống Mỹ anh hùng. Mảnh đất thủ đô được khắc họa như hương đất, hồn
người của dân Việt qua những đêm trăng, những nhành hoa, vườn quất.
Ngoài ra, có một bộ phận các nhà văn sáng tác trong miền Nam những
năm 1954 - 1975. “Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống và chủ yếu hướng tới
hiện thực cuộc sống, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã đáp ứng được khá
linh hoạt nhu cầu của người đọc tại các vùng đô thị” [49]. Các tác phẩm văn
xuôi giai đoạn sau 1954 “không chỉ giới hạn trong những đề tài “cổ điển” như
nói về cuộc sống của người thành thị, trí thức, tình cảm lãng mạn, phiêu lưu

22

điều hấp dẫn, bí ẩn, “nhất là trong tầng sâu văn hoá, lối sống, các giá trị tinh
thần của người Hà Nội luôn mời gọi và là một dư địa cho ngòi bút ưa tìm tòi,
triết lí” [21]. Truyện ngắn Một người Hà Nội kể những chuyện về bà Hiền và
gia đình bà trong một khoảng thời gian dài suốt mấy chục năm, chủ yếu từ sau
cuộc kháng chiến chống Pháp, Hà Nội được giải phóng cho đến những năm
đầu đổi mới. Thông qua nhân vật bà Hiền – một “hạt bụi vàng” cặm cụi lưu
giữ những nét văn hóa của thủ đô ngàn năm, tác giả thể hiện niềm tin vào
“những giá trị tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp từ bao đời sẽ được đặt
lại đúng với vị trí của nó. Cũng như mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà Nội hiện
thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ bị cuốn
đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, sự “thanh lịch của người Tràng An
sẽ trở lại” [21].
Nguyễn Huy Thiệp có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về đề tài đô thị.
Ông nhìn cuộc sống và con người đô thị bằng thái độ lạnh lùng, sắc lẹm. Ở
đó, con người biến dạng với những giành giật, toan tính, vụ lợi, ích kỷ (Tướng
về hưu, truyện Huyền thoại phố phường). Đó là cuộc sống xô bồ tạp nham
trong Không có vua, khắc họa một đô thị thiếu vắng tình người, đầy rẫy
những giả trá. Nó cũng thể hiện sự hoài nghi về lối sống, tương lai của tầng
lớp thị dân.
Một tác giả khác cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của
con người nơi phố thị là Hồ Anh Thái. Ông cho ra mắt tập truyện Tự sự 265
ngày - câu chuyện tự kể của anh công chức Nhà nước về thời gian 265 ngày
làm việc ở cơ quan. Nhà văn phản ánh quá trình một công chức bằng mọi giá
ngoi lên từng nấc thang danh vọng qua bức chân dung méo mó, hài hước, xấu
xí và có phần cay nghiệt. Ở đô thị vẫn còn vương lại thói tủn mủn của thời
bao cấp, và thói học đòi thời mở cửa. Tiếp đó là tiểu thuyết Mười lẻ một đêm,
và SBC là săn bắt chuột. Bối cảnh SBC là săn bắt chuột là một thành phố lớn
23

về đề tài đô thị (bối cảnh Hà Nội). Anh viết tản văn Tự nhiên như người Hà
Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008), Hà Nội là Hà Nội (2010), Xe
máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013). Năm 2014, tác giả ra mắt
tập truyện Dưới cột đèn rót một ấm trà. Đó là cái nhìn đầy yêu thương, trăn
trở, tự hào về một không gian văn hóa – kiến trúc của thị thành.
Cuối cùng, không thể bỏ qua hàng loạt sáng tác của họa sĩ – nhà văn
Đỗ Phấn. Ông đã dùng con mắt hội họa, những cảm nhận tinh tế của một họa
sĩ và rung động của người yêu văn viết nên hàng loạt tác phẩm về cuộc sống,
con người đô thị - thủ đô Hà Nội như tiểu thuyết Vắng mặt, Rừng người,
Chảy qua bóng tối, Con mắt rỗng, Ruồi là Ruồi, Gần như là sống,… Không
kể hàng loạt tập truyện ngắn, tản văn của ông đã được xuất bản và đăng rải
rác trên các trang web.
1.3 Đề tài đô thị trong sáng tác của Đỗ Phấn
1.3.1 Tiểu sử nhà văn
Đỗ Phấn sinh năm 1956 tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà
Nội năm 1980. Gia đình ông nhiều đời sinh sống ở thủ đô, cũng được gọi là
“trâm anh thế phiệt”. Ông nội của nhà văn là cụ Đỗ Ngọc Toại, một nhà nho
thuộc thế hệ lều chõng cuối cùng, từng là thầy dạy cho lớp Hán Nôm đầu tiên
của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội [18]. Theo nhà văn Nguyễn
Tham Thiện Kế: “Đỗ Phấn là con trai một của người chiến sỹ cộng sản bị
thực dân Pháp bắt năm 1939 và kết án khổ sai chung thân tại nhà tù Sơn La từ
năm 1940… Công tác tại báo Tiền Phong, cụ dịch sách tiếng Trung và tiếng
Pháp. Sau chuyển sang làm Tổng biên tập Nhà xuất bản Thanh Niên và
chuyển cơ quan lần cuối sang Ban liên lạc đối ngoại Trung ương”. Cụ từng
làm cán bộ đến hàm Thứ trưởng ở Bộ Ngoại giao, tuy về hưu sớm. “Mê cổ
25

vật. Say gốm Việt. Cụ tự mày mò nghiên cứu và tái tạo lại những màu men
gốm cổ thời kì Lý, Trần, bằng phương pháp nung đốt cổ xưa. Giới sưu tập cổ
vật Hà thành ngày nay nhắc đến cụ vẫn một lòng ngưỡng mộ” [14].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status