Đề tài lịch sử trong sáng tác của võ thị hảo (qua tiểu thuyết giàn thiêu) - Pdf 30


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG SÁNG TÁC
CỦA VÕ THỊ HẢO (QUA TIỂU THUYẾT GIÀN THIÊU)Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo đã tận
tình truyền đạt những tri thức quí báu, dìu dắt giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: PGS.TS.
Trịnh Bá Đĩnh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, đồng
thời đã hƣớng dẫn, đóng góp những ý kiến quí báu cho tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau đại học trƣờng Đại
học sƣ phạm Thái nguyên, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, ngƣời thân
đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
tốt
nghiệp này. Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2014 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà

CHƢƠNG 3. NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN TRONG GIÀN THIÊU 65

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3.1 Sự thể hiện thời gian trong Giàn thiêu 65
3.1.1 Khái niệm thời gian lịch sử và thời gian nghệ thuật 65
3.1.2. Thời gian biên niên sử trong Giàn thiêu 66
3.2 Các yếu tố huyễn hoặc, hoang đƣờng trong Giàn thiêu 79
3.3 Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong Giàn thiêu 82
3.3.1 Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện 82
3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật trong Giàn thiêu 85
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Năm 1986 là điểm mốc đánh dấu những biến đổi lớn trong đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Công cuộc Đổi mới có tác động đến
mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có văn học nghệ thuật. Từ sau 1986
nghệ thuật nói chung và văn chƣơng nói riêng có một diện mạo mới, sắc nét,
khu biệt với văn xuôi các giai đoạn trƣớc đó. Đặc biệt sau năm 1986, các tác
phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử không chỉ xuất phát từ cảm hứng lịch sử
mà còn thể hiện cảm hứng đời tƣ, thế sự và triết lý nhân sinh. Các nhân vật,
sự kiện là cái cớ để nhà văn thể hiện những quan điểm của mình trƣớc cuộc
sống hiện đại. Điều này thể hiện rõ qua một loạt tác phẩm viết về đề tài lịch
sử mấy năm trở lại đây nhƣ : Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn

lịch sử Việt Nam hiện đại thì vẫn còn là một điểm mới mẻ.Vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài này với mong muốn góp thêm một góc nhìn mới về tiểu thuyết
Giàn thiêu trong xu hƣớng đổi mới tiểu thuyết lịch sử sau 1986. Qua đó thấy
đƣợc đóng góp của bà đối với tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
Võ Thị Hảo là một trong những gƣơng mặt tiêu biểu của thế hệ nhà văn
thứ hai tiên phong trong công cuộc Đổi mới văn học. Bà đƣợc đánh giá là
“cây bút sắc sảo và giàu nữ tính”. Khi tiểu thuyết Giàn thiêu ra đời “Võ Thị
Hảo đã bứt phá khỏi lối đi đã quen chân” tiến tới những thành công. Tác
phẩm là một bƣớc tiến trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn và đƣợc trao giải
thƣởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2004. Giàn thiêu đã chinh phục bạn đọc
cũng nhƣ giới phê bình nghiên cứu bằng ngòi bút tinh tế, sắc sảo, mạnh mẽ và
tài hoa. Có lẽ vì vậy mà nghiên cứu về Giàn thiêu có nhiều bài viết, bài báo,
và một số công trình nghiên cứu sau : Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2.1. Về nghệ thuật
Theo Các nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến cùng
chung một nhận xét “Giàn thiêu là một tiểu thuyết, trƣớc hết là một tiểu
thuyết, nghĩa là Giàn thiêu trƣớc hết không phải là một “ truyện lịch sử”,
không phải là minh họa lịch sử, mà là một tiểu thuyết tƣ duy lại lịch sử bằng
phƣơng pháp tiểu thuyết”. Hai nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng “ tác giả
Võ Thị Hảo đã khá thành công trong cấu trúc của cuốn tiểu thuyết” [78]
2.1.1. Cũng theo Phạm Xuân Nguyên đã viết trong lời giới thiệu về tiểu
thuyết Giàn thiêu: “ văn Võ Thị Hảo không chỉ là những dòng chữ, không chỉ
là những truyện ngắn hay tiểu thuyết mà văn Võ Thị Hảo còn có nhiều hình
tƣợng…đó là lối văn đƣợc tác giả thổi linh hồn vào, tạo những câu văn huyền

khứ”, từ núi sông cây cối đến thác nƣớc sông Gâm…tạo nên da thịt liền mạch
cho đời sống quá khứ đƣợc dựng lại trong tác phẩm”. Đồng thời nhận định
“tác giả khó có thể thành công nếu nhƣ không đƣa ra một kiến giải mới mẻ và
khả chấp về nhân vật lịch sử đồng thời là nhân vật truyền thuyết Từ Đạo
Hạnh”.[3]
2.2. Về nội dung
2.2.1. Phạm Xuân Thạch trong Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ
đề lịch sử viết : “ Lạc lối trong những câu hỏi về “sự thực lịch sử” và “tính
chân thực của lịch sử”, băn khoăn về một nền chính trị công chính và chỗ
đứng của ngƣời tri thức trong cơn bão lịch sử. Vấn đề đặt ra trong tiểu
thuyết Giàn thiêu là: sẽ nhận thức đƣợc điều gì đấy về triều đại trị vì của
những vị vua Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông và những nhân vật lịch sử nhƣ
Từ Đạo Hạnh hay Nguyên phi Ỷ Lan ? Có lẽ không nhiều, vấn đề là từ một
hƣ cấu tiểu thuyết buộc ngƣời đọc phải suy tƣ về sự giải thoát, về niềm tin
tôn giáo và những tham vọng về hạnh phúc, về thân phận và quyền lực của
con ngƣời” [75]
2.2.2. Trần Khánh Thành trong Những thông điệp từ lửa và nước nhận
xét : “…Mở trang đầu đã gặp hai chữ Giàn thiêu - ấn tƣợng chói và bỏng rát,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ngột và xót xa xâm chiếm lòng ngƣời…Viết với Võ Thị Hảo là truyền lửa từ
trái tim đến bạn đọc…”[71]
2.2.3 . Báo Người đại biểu nhân dân nhận xét: “Giàn thiêu – mặc dù rất
hấp dẫn nhƣng là một cuốn tiểu thuyết không dễ đọc. Cũng nhƣ truyện ngắn
của Võ Thị Hảo cuốn tiểu thuyết này đang đi theo con đƣờng riêng của nó,
ngấm dần vào trái tim ngƣời ta và những tầng lớp ngữ nghĩa cũng nhƣ những
hình tƣợng nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thƣờng trở đi trở lại và ám ảnh
ngƣời đọc”[64].
Tóm lại, dù về phƣơng diện nghệ thuật hay nội dung thì Giàn thiêu vẫn

Ngoài phần mở đầu Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc triển khai trong ba chƣơng :
Chƣơng 1 : Đề tài lịch sử trong văn học sau 1986 và sáng tác của Võ Thị Hảo
Chƣơng 2 : Nhân vật lịch sử trong Giàn thiêu
Chƣơng 3 : Nghệ thuật kể chuyện trong Giàn thiêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

CHƢƠNG 1
ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG VĂN HỌC SAU 1986 VÀ SÁNG
TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO

1.1 Đề tài lịch sử trong văn học sau 1986
Nhìn nhận một cách khách quan chúng ta có thể thấy: Văn học Việt Nam
trƣớc 1986 luôn có sự nhất quán trong tƣ duy – đó là tƣ duy sử thi, với cảm
hứng khẳng định, ngợi ca. Tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn này cũng nằm
trong mạch cảm hứng đó nên thƣờng đƣợc viết đúng nhƣ những gì sử liệu ghi
lại do đó tâm thức văn hóa của thời đại và tâm thức sáng tạo của nhà văn cùng
gặp gỡ ở quan điểm:“phải tôn trọng, kính cẩn trƣớc lịch sử”[76].

Nhƣ vậy viết về đề tài lịch sử trong văn học sau năm 1986 là kết quả của
những suy nghĩ, trăn trở của con ngƣời về chính lịch sử, về hiện tại, về cộng
đồng và về số phận cá nhân.Vì thế truyện và tiểu thuyết về đề tài lịch sử trong
thời kì này không chỉ là những câu chuyện lịch sử mà còn là câu chuyện của
đời sống hiện tại với bao trăn trở trong những mối liên hệ chằng chịt, sự đối
thoại nhiều khi đến gay gắt của ý thức và các vấn đề tƣởng nhƣ rất bình
thƣờng của đời sống đƣợc soi rọi từ nhiều góc nhìn, nhiều thái độ đánh giá
khác nhau. Đề tài lịch sử cũng đƣợc các nhà văn nhìn dƣới góc nhìn đa chiều
hơn. Lịch sử không còn là những tƣ liệu cố định, chất liệu quá quen thuộc
nữa. Mà nó trở thành chất liệu hấp dẫn để các nhà văn tự do thể hiện tài năng
sáng tạo và ý đồ nghệ thuật của mình.
Về lối viết sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có một mùa nở rộ và bội
thu với các tác phẩm viết về đề tài lịch sử với những cách thể hiện hoàn toàn
mới lạ. Ngoài cảm hứng lịch sử, thì cảm hứng đời tƣ, cảm hứng thế sự và
những triết lý nhân sinh đã làm nên bộ mặt mới của những tiểu thuyết lịch sử.
Nhân vật, sự kiện lịch sử dƣờng nhƣ chỉ là cái cớ để “tạo nên những điểm
tƣơng đồng giữa quá khứ và hiện tại và qua đó làm sáng tỏ hiện tại”[18]. Lịch
sử không còn chỉ là “ngôi đền thiêng” bất khả xâm phạm, là đối tƣợng đƣợc
sùng bái, ngợi ca một cách tuyệt đối nữa mà trở thành một đề tài nhà văn có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thể đi sâu tìm hiểu, khai thác, sáng tạo, thổi vào đó tinh thần thời đại khiến
lịch sử trở nên sống động và gần gũi, hấp dẫn hơn.
Hầu hết những sáng tác thuộc viết về đề tài lịch sử thƣờng tập trung ở hai
thể loại là : thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết.
Ở thể loại truyện ngắn viết về đề tài lịch sử thời kì này có số lƣợng khiêm
tốn hơn tiểu thuyết nhƣng chất lƣợng không kém phần đặc sắc. Đặc biệt nó
còn mang tính chất mở đƣờng cho một hƣớng đi mới của văn xuôi viết về lịch
sử mà những tác giả sau này ít nhiều đều chịu ảnh hƣởng. Tác giả tiêu biểu

Văn chƣơng mƣợt mà, có sức cuốn hút, đọc hết 800 trang mà vẫn muốn đọc
lại” [61].
Lại Nguyên Ân trong bài “ Hồ Quý Ly” đăng trên Tạp chí nhà văn số 6
năm 2000, đã nhận định: “Tác giả Đinh Xuân Khánh, vừa khai thác tối đa
các nguồn sử liệu, văn liệu vẫn còn, vừa phóng khoáng trong những hƣ cấu
tạo ra một thực tại tiểu thuyết vừa tƣơng đồng với những thông tin còn lại về
một thời đại đã lùi xa vừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác
giả” [5].
Trong bài viết “Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử
nước nhà” nhà văn Trung Trung Đỉnh viết : sức hấp dẫn của tác phẩm “không
chỉ ở văn mạch mà cái chính là tác giả đã lựa chọn cho mình một thế đứng với
tƣ thế của một nhà tiểu thuyết trên vấn đề hôm qua và hôm nay” [22].
Nhà văn Hoàng Quốc Hải khi cho ra đời bộ tiểu thuyết lịch sử có quy mô
đồ sộ Bão táp triều Trần gồm 4 cuốn : Bão táp cung đình, Thăng Long nổi
giận, Huyền Trân công chúa và Vương triều sụp đổ. Với bộ tiểu thuyết này,
nhà văn đã tái dựng lại cả một bức tranh lịch sử lớn vừa hào hùng vừa đau
khổ để lại cho hậu thế nhiều bài học quý giá. Bộ tiểu thuyết này không chỉ
“phục diện lại diện mạo đích thực của nhà Trần, mà còn lấp đƣợc những lỗ
hổng, những kiến giải thiếu khách quan với những nhân vật chính trong lịch
sử nhƣ : Hồ Quý Ly, Trần Thủ Độ. Đồng thời biểu dƣơng công trạng , trí tuệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

của nhiều nhân tài trong sử kí chỉ lƣợc qua nhƣ: Trần Nhân Tông, Chu Văn
An, lại còn chỉ ra đƣợc nguyên nhân và hậu quả tai hại của những kẻ bán
nƣớc và làm sụp đổ cả vƣơng triều nhƣ: Trần Dụ Tông, Trần Ích Tắc, Trần
Kiện”[62;tr 9]. Thông qua những bộ tiểu thuyết lịch sử này, chúng ta nhận
thấy nhà văn không chỉ có sự hiểu biết về lịch sử mà còn thể hiện đƣợc tài
năng hƣ cấu nghệ thuật độc đáo, sáng tạo đã bổ sung nhiều chi tiết lịch sử còn
để trống, bỏ ngỏ làm tăng thêm sức sống cho lịch sử.

quá khứ còn ít ngƣời biết đến…Từ đó tạo ra sức sống mới cho lịch sử. Nói
chung văn xuôi viết về lịch sử từ sau Đổi mới đã đạt đƣợc những thành tựu
đáng kể và chắc chắn sẽ tiếp tục là nguồn chất liệu hấp dẫn, còn nhiều hứa
hẹn ở phía trƣớc.
1.2 . Sáng tác của Võ Thị Hảo
Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại mảnh đất Diễn Châu – Nghệ An – mảnh đất
chịu nhiều thiệt thòi bởi sự khắc nghiệt của thiên nhiên, với những dấu vết
văn hóa có tính đặc thù rõ rệt. Có lẽ chính nhờ những điều này đã tạo nên một
Võ Thị Hảo luôn bền bỉ, kiên cƣờng, không bao giờ tắt niềm đam mê, đồng
thời nó cũng là ngọn lửa ngầm đã hun đúc lên con ngƣời, phong cách nhà văn.
Khi nhớ và nghĩ về quê hƣơng mình, nhà văn nói: “nơi có tiếng cót két rợn
ngƣời của những bụi tre và những câu chuyện về ma quỷ mà các ngƣời già và
đám ngƣời lớn thì thầm kể cho nhau nghe trong đêm, cùng không khí khốc
liệt của chiến tranh và bom đạn”[21tr 558]. Quê hƣơng góp một vai trò không
nhỏ để hình thành nên giọng văn Võ Thị Hảo “ Tôi cảm ơn những kỉ niệm,
mà đau khổ là nhiều hơn hạnh phúc, vì chính chúng đã tạo ra tôi…làm nên Võ
Thị Hảo – ngƣời viết nên những câu văn vừa bạo liệt vừa huyễn hoặc”
[21;tr558].
Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội, Võ Thị Hảo đã công
tác ở Nhà xuất bản văn hóa dân tộc trong vai trò ngƣời biên tập. Với 17 năm
kinh nghiệm, Võ Thị Hảo là ngƣời có công rất lớn trong việc cho ra đời nhiều
“đứa con tinh thần” của các nhà văn khác. Đây cũng là cái duyên đƣa Võ Thị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Hảo đến với văn chƣơng. Giống nhƣ Võ Thị Hảo đã từng chia sẻ “đã từng
nghĩ và sẽ trở thành nhà thơ, nhƣng rồi chị lại viết văn và thành danh với văn
xuôi”.
“Cái thứ văn chƣơng đã trót dấn thân thì nó là “nghiệp” mất rồi. Nó đeo bám
và dƣờng nhƣ là máu thịt của mình. Ngay cả khi ngƣời chồng yêu quý của

đã khiến ngƣời đọc bị lôi cuốn bởi cách viết, cách nhìn nhận vấn đề rất riêng
của chị. Những hiện thực nghiệt ngã, những phức tạp bộn bề của cuộc sống đã
đƣợc truyền tải bởi văn phong ảo và thực, câu chữ ngọt ngào, dịu nhẹ. Một sự
nhẹ nhàng, nữ tính nhƣng thực chất là để bao bọc cái nhìn mạnh mẽ, quyết
liệt với cuộc sống. Qua việc tìm hiểu truyện ngắn của chị ta có thể thấy “dù
ngợi ca những điều tốt đẹp con ngƣời, của cuộc đời hay phê phán những hiện
tƣợng tiêu cực của xã hội thì Võ Thị Hảo vẫn luôn giữ đƣợc cái nhìn khá điềm
tĩnh – sự điềm tĩnh của một ngƣời dám nhìn thẳng vào sự thật ở đời. Đồng
thời cũng thể hiện thái độ bao dung độ lƣợng và niềm tin bất diệt vào bản tính
tốt đẹp của con ngƣời”[47].
Năm 2002 khi cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu ra mắt bạn đọc, chị lại làm sửng
sốt độc giả, những ngƣời yêu văn chƣơng bởi cuốn tiểu thuyết dã sử đậm chất
huyền bí.Tác phẩm đã dành đƣợc giải thƣởng cao nhất của Hội nhà văn Hà
Nội. Đặc biệt nó đƣợc coi là tác phẩm đánh dấu “ cuộc bứt phá khi rẽ ra khỏi
lối đi quen chân với chính mình, tạo ra những tầng suy tƣ không bằng phẳng,
một giọng điệu tự nhiên và bình dị hơn” của nữ nhà văn tài năng này. Chuyển
từ thể loại quen thuộc là truyện ngắn sang thể loại tiểu thuyết – tiểu thuyết
lịch sử - một thể loại thƣờng khiến các nhà văn nữ ở nƣớc ta phải “ngoảnh
mặt làm ngơ”. Lúc đƣợc hỏi: “ rẽ lối sang tiểu thuyết, lại là tiểu thuyết lịch sử,
liệu chị có cho rằng đó là một thái độ cầm bút dũng cảm? Chị đã tự tin trả lời
“không hẳn là lối rẽ mà là bƣớc tiếp. Khi cảm thấy truyện ngắn dƣờng nhƣ
quá chật chội thì tiểu thuyết chính là thảo nguyên rộng lớn để cho phép mình
đƣợc làm những cú nhảy của mèo hoang”[40]. Thật vậy, tiểu thuyết Giàn
thiêu đã nhận đƣợc vô số những lời khen “sự kết hợp tuyệt vời giữa chính sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

với huyền tích”[25]. Chính những kiến thức chính sử với dã sử, những giai
thoại, huyền tích dân gian cùng với trí tƣởng tƣợng phong phú, sự tìm tòi sáng
tạo của nhà văn đã dựng lên đƣợc bức tranh sinh động về một giai đoạn lịch

thiêng” mà chỉ đƣợc phép ngắm nhìn từ bên ngoài. Đối với một dân tộc mà
quá khứ lịch sử luôn đƣợc ghi nhớ trong một quan niệm, một thái độ rất thành
kính nhƣ dân tộc Việt thì việc đƣa ra cái nhìn mới, phá bỏ “bức màn linh
thiêng” che phủ một số nhân vật lịch sử rất khó nhận đƣợc sự đồng tình của
ngƣời đọc hay các nhà phê bình. Vì thế, văn xuôi trƣớc năm 1975 khi viết về
đề tài lịch sử thƣờng chỉ tập trung khai thác các sự kiện, biến cố lịch sử nhằm
dựng lên không khí hào hùng, lòng tự hào dân tộc. Nghĩa là văn học thời kì
này nhìn lịch sử dƣới con mắt của một sử gia.
Sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986 với sự thay đổi của thời đại, để đáp
ứng những nhu cầu mới của cuộc sống, việc nhìn lại những điều đã trải qua
trong lịch sử dân tộc và sự trăn trở của cá nhân trƣớc cuộc sống hiện đại, lịch
sử đã trở thành chất liệu hấp dẫn để phản ánh cuộc sống hiện tại dƣới cái nhìn
đa chiều. Trong nhiều tác phẩm lịch sử thành công dành đƣợc nhiều lời khen
của các nhà phê bình nhƣ: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân
Khánh), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Gió lửa, Đất trời (Nam
Giao), Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công Khanh), Bão táp triều Trần (Hoàng
Quốc Hải)… có một gƣơng mặt nữ tiêu biểu với cuốn tiểu thuyết dã sử đậm
chất “liêu trai” với cái tên gây ấn tƣợng mạnh, nhức nhối trong lòng ngƣời
đọc : Giàn thiêu.
Nổi bật với những truyện ngắn ghi dấu trong lòng ngƣời đọc, chị đã bất
ngờ chuyển sang thể loại tiểu thuyết – thể loại bấy lâu nay vốn đƣợc coi là
lãnh địa của các nhà văn nam. Theo lời kể của nhà văn “sau khi đƣợc gợi ý
của một ngƣời bạn, rằng nhân vật này, đề tài này rất hợp với cách viết của tôi ,
tôi bắt đầu đặt tay lên những cuốn chính sử và tôi nhìn thấy họ. Tôi bèn đuổi
theo họ. Tôi chồng lên họ một lớp ký ức dã sử, trong mờ nhƣ những con sứa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

cộng thêm logic đời sống…Thời Lý – Trần có rất nhiều nhân vật có tính cách
đa diện,đủ để tạo cảm hứng lớn cho tiểu thuyết. Và tôi bắt tay vào viết”[27].

thực đến độ đóng khung làm nghèo nàn trí tƣởng tƣợng. Tôi cần ông vì ông
có những khoảng trống mà tôi có thể bù đắp và đƣa ông trở lại thế giới này,
với những thiết tha, bổi hổi của cõi ngƣời – của ngày hôm nay. Tôi lại cần ông
hơn nữa vì ông là thanh nam châm hút theo những nhân vật lịch sử nổi tiếng
khác: Nguyên Phi Ỷ Lan, Lý Thƣờng Kiệt, Lý Đạo Thành…”[42]. Trong tác
phẩm của mình nhà văn đã xây dựng những nhân vật khác với nguyên mẫu
trong chính sử, khi đƣợc hỏi: chị có ngại không khi xây dựng những nhân vật
nhƣ thế ? Chị đã tâm sự một cách thẳng thắn: “không hoàn toàn khác, nhƣng
nếu quả thực họ đã khác với chính sử thì đó là logic nội tại, tôi không ngán
gì”. Tôi từng trả lời một bài báo rằng: “ngƣời viết văn không có trách nhiệm
phong thánh”[27]. Chọn đề tài lịch sử và viết theo một góc nhìn đa chiều là
một điều khó khăn với nhà văn, đặc biệt việc tiếp nhận càng khó hơn bởi đề
tài đã quen thuộc, không gây đƣợc ấn tƣợng mạnh trong lòng độc giả dù lịch
sử dân tộc rất hào hùng và đáng tự hào. Khi hỏi chị “ chị có nghĩ tới việc cuốn
tiểu thuyết này sẽ là món ăn khó nhằn khiến ngƣời đọc phải mệt?”chị đã trả
lời : “có, tôi biết ngƣời đọc mệt nhƣng khi đọc xong sẽ khỏe. Trách nhiệm của
tôi không phải là đem một thứ dễ hiểu đến cho ngƣời đọc, mà đem lại cho họ
một cái gì đó đáng đọc”[27]. Do đó “khi cầm Giàn thiêu trên tay đa số ngƣời
đọc phải đọc một mạch, nhiều ngƣời đã thức trắng một đêm để đọc bằng xong
hơn 500 trang của cuốn tiểu thuyết này”[60;tr 9].
Khi đƣợc hỏi “trong những đứa con tinh thần của chị, Giàn thiêu đƣợc
xếp ở vị trí thứ bao nhiêu ?” Chị nói: “thứ nhất nếu không tôi đã không kiên
nhẫn để viết nhiều chữ đến thế”. Đánh giá tiểu thuyết Giàn thiêu , nhìn chung
đều là các khen ngợi. Nhƣ Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến đã nhận
xét : “Giàn thiêu là một tiểu thuyết, trƣớc hết là một tiểu thuyết, nghĩa là Giàn
thiêu trƣớc hết không phải là “một truyện lịch sử”, không phải là minh họa
lịch sử, mà là một sự tƣ duy lại lịch sử bằng phƣơng pháp tiểu thuyết”[78].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



CHƢƠNG 2
NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG
GIÀN THIÊU

2.1 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết
lịch sử
2.1.1 Nhân vật văn học
Nhân vật văn học hiểu đơn giản thì đó là “con ngƣời cụ thể đƣợc miêu tả
trong tác phẩm văn học”. Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “nhân vật
văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ƣớc lệ, không thể đồng nhất nó với
con ngƣời có thực trong đời sống”[34;tr235]. Nhân vật văn học là kết quả
sáng tạo của nhà văn. Nó có thể có tên riêng nhƣ: Tấm, Cám, chị Dậu, anh
Pha hoặc không có tên riêng nhƣ: thằng bán tơ, mụ nào, thị hoặc là một ẩn dụ
chỉ một hiện tƣợng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Dù là theo hình thức nào
thì nhân vật cũng là đối tƣợng để nhà văn phản ánh cuộc sống và quan niệm
nghệ thuật của mình. Với mỗi một thời kì lịch sử có một kiểu nhân vật tƣơng
ứng. Kiểu nhân vật này có đƣợc là do quá trình quan sát, tìm tòi, sáng tạo của
nhà văn trƣớc hiện thực bộn bề của cuộc sống. Thông qua nhân vật nhà văn
bộc lộ những suy nghĩ kín đáo nhất của bản thân, gửi gắm những thông điệp
nghệ thuật của mình.
Nhân vật văn học thƣờng đƣợc miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu
thuẫn và mọi chi tiết các loại. Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu
thuẫn của nhân vật này vầ nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật
khác. Dựa vào nhiều tiêu chí mà ngƣời ta phân chia nhân vật thành: nhân vật
chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, dân vật loại
hình, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng…
Trƣớc 1975, nhân vật trong văn xuôi Việt Nam thƣờng bị chi phối bởi
khuynh hƣớng sử thi và cảm hứng lãng mạn nên các nhân vật đƣợc xây dựng
với vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ, nhân vật đƣợc bao bọc trong “ bầu không khí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status