luận văn nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của nguyễn hữu nhàn - Pdf 20

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nông thôn - nông nghiệp - nông dân hiện đang được nhà nước dành
nhiều sự quan tâm đặc biệt. Nhiều chính sách của Đảng và chính phủ nhằm
thúc đẩy sự phát triển nông thôn đã ra đời. Đời sống vật chất cũng như tinh
thần của người nông dân đang từng bước được nâng lên. Nhiều lễ hội văn hóa
truyền thống ở nông thôn đang được khôi phục và bảo tồn. Bản thân Chủ tịch
nước Trương Tấn Sang trong lễ khai xuân dâng hương đầu năm mới 2012
cũng đã xắn quần, xuống đồng cày ruộng trên cánh đồng Đọi Sơn (Hà Nam).
Văn học là sự phản ánh, văn học quan tâm đến hiện thực xã hội, tất yếu đề
cập đến nông thôn và nông dân. Bởi thế, từ xưa đến nay, nông nghiệp - nông
thôn - nông dân luôn là đề tài lớn của văn học. Nó còn là cái nôi văn hoá dân
tộc, nơi nuôi dưỡng, giữ gìn tất cả những cái đẹp nhất, hồn cốt nhất của dân
tộc Việt Nam. Trân trọng văn hóa nông thôn chính là tiêu chí đã được các nhà
văn coi trọng khi viết về mảng đề tài này. Vì lẽ đó nhiều năm qua, hai mảng
đề tài làm nên thành tựu lớn nhất của văn học Việt Nam là mảng đề tài viết về
chiến tranh và về nông thôn - nông nghiệp - nông dân. Mới đây, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ
chức trao thưởng cho các tác phẩm văn học nghệ thuật sáng tác về đề tài nông
thôn. Về mục đích của việc trao thưởng và phát động sáng tác về đề tài xây
dựng nông thôn mới, ông Cao Đức Phát – Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn cho biết: “Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của
Chính phủ. Mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người
dân. Vì thế, bên cạnh việc xây dựng những dòng sông, cánh đồng, chuồng trại
thì còn cần phải xây dựng đời sống văn hóa cho bà con nông dân. Chúng tôi
muốn thông qua việc trao thưởng này để phát động một chặng đường sáng
2

tác mới. Những sáng tác văn học nghệ thuật là món quà vô giá để động viên

với chủ trương chung của Đảng của Chính phủ, vừa góp phần cổ vũ nhà văn
tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa cho việc sáng tác về đề tài nông thôn và
cũng là để bổ sung kịp thời cho công tác nghiên cứu, phê bình văn học hiện
nay một phong cách sáng tác truyện mang đậm dấu ấn nông thôn trung du
miền núi Bắc bộ.
1.3. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo về những
đóng góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn về đề tài
nông thôn cho tới nay chưa có nhiều. Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi,
chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác cũng như
những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn. Hiện nay chỉ có một số bài báo, bài
nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn của các nhà
nghiên cứu có uy tín như PGS.TS Phan Trọng Thưởng, nhà lí luận phê bình
Văn Giá, nhà báo Vũ Hà …Từ những lí do cụ thể ở trên đã thôi thúc chúng tôi
lựa chọn đề tài: “Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu
Nhàn”, nhằm tập trung vào làm sáng tỏ sự cảm nhận , phản ánh của nhà văn
về cuộc sống của người nông dân, vấn đề sản xuất nông nghiệp và văn hóa
nông thôn trong thời đại mới. Đây là những vấn đề đang được cả xã hội quan
tâm và qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn đều được thể hiện một
cách rõ nét.
2. Lịch sử vấn đề
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh
giá là “nhà văn của làng quê”, bởi ngay từ khi mới cầm bút, chập chững bước
vào nghề viết văn và cho đến tận bây giờ (có lẽ sau này vẫn thế), khi đã trở
thành lão làng trong Hội nhà văn Việt Nam, có trong tay hơn chục đầu sách
có giá trị, ông luôn chỉ chú trọng đặc biệt vào một đề tài với một niềm đam
4

mê không thể khác là chỉ viết về đề tài nông thôn, về cuộc sống hàng ngày
của người nông dân ngay trên chính mảnh đất của họ. Tác giả Lê Phan Nghị
trong bài báo “Nhà văn của đồng quê” đăng trên tuần báo Văn nghệ đã khẳng

phẩm văn học. Trong bài “Chuyện nhà văn làm khảo cứu và nhà khảo cứu
làm văn học”, PGS – TS Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra được sự kết hợp hài
hòa hai yếu tố giữa nhà khảo cứu văn hóa và nhà sáng tác văn học trong một
nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn “ Với những thành tựu đã có, Nguyễn Hữu Nhàn
đang nỗ lực để đạt được hai trong một ( nhà khảo cứu trong nhà văn hay nhà
văn hóa trong nhà văn )” [26, tr.9].
Ra đời ngay sau tiểu thuyết “Làng Cói Hạ”, tiểu thuyết “Chớm nắng”
đúng thật như nhận định trên đây về Nguyễn Hữu Nhàn “nhà văn làm khảo
cứu và nhà khảo cứu làm văn học”. Đánh giá về tiểu thuyết này tác giả Đặng
Văn trong bài viết “Vài nét về văn hóa làng qua tiểu thuyết Chớm nắng” viết
“ Vấn đề trọng tâm của cuốn tiểu thuyết “Chớm nắng” đặt ra là VĂN HÓA
LÀNG”, “Cái được của tác phẩm là tác giả thông qua việc tập dượt chuẩn bị
cho lễ hội “trò Táu” một thứ lễ hội cổ truyền đã gần như bị mai một – và chỉ
khuôn lại trong phạm vi một làng đã làm cho người đọc hiểu thế nào là văn
hóa đích thực, cái gì là tinh hoa cần phát huy, cái gì là nhảm nhí, lỗi thời nên
bài trừ, củng cố niềm tin cho nhân dân, khơi dậy từ tâm hồn họ những giá trị
tinh thần, làm giàu lòng nhân ái, xóa bỏ hận thù, sống với nhau có tình, có
nghĩa và có trách nhiệm” [29, tr.6]. Thông qua bức tranh khái quát về chính
nơi tác giả đã sinh sống – Làng Đinh Xá, người đọc nhận ra được “làng Đinh
Xá là bức tranh khái quát của làng quê Việt Nam với đầy đủ những biểu hiện
sinh động của nền văn hóa bản địa”. Với phương pháp điển hình hóa thông
qua hàng loạt số phận các nhân vật, tiểu thuyết “Chớm nắng” cho thấy sự
hiểu biết của tác giả về “những tầng văn hóa, những dấu ấn lịch sử và cả
6

nhân tình thế thái trong mối quan hệ đa chiều mang tính đặc thù của làng quê
Việt Nam xưa và nay ” [29, tr.6].
Đúng như PGS – TS Phan Trọng Thưởng đã viết “ Nhà văn không chọn
được nơi sinh nhưng lại có thể chọn cho mình nơi sống và gắn bó. Mỗi nhà
văn thường có một vùng đất, một miền quê, một địa bàn của mình” [26, tr.9].

dân cục mịch, quê kệch, bẩn thỉu và không lịch sự chút nào. Ngược lại, ông
Thanh (chồng bà Tú) rất quý ông Vũ: “Vũ tuy ít học, nhưng ngay thật, thẳng
thắn, trọng tình hơn trọng của”. Mối quan hệ nhiều chiều cũng như những
tình cảm tốt đẹp đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt qua
truyện ngắn “Làng quê yên ả”: “Cốt lõi là tình đoàn kết: tình làng nghĩa xóm,
tình cảm họ hàng, tình cảm gia đình yêu thương đầm ấm, hòa thuận. Mỗi khi
có công to việc lớn, lúc vui lúc buồn họ đều quây quần giúp đỡ, chia sẻ lẫn
nhau như lá lành đùm lá rách. Đoàn kết là sức mạnh đã trở thành truyền
thống cực kì quý báu của nhân dân ta, nên đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn,
thử thách để xây dựng gia đình hạnh phúc, làng quê đẹp giàu” [1, tr.9].
Cũng như nhiều tác giả khác, tác giả Vũ Hà trong bài viết “Nguyễn Hữu
Nhàn – Nhà văn của nhà quê ” cũng đã có những nhận định rất xác đáng về
Nguyễn Hữu Nhàn cũng như các tác phẩm của ông “ một cây bút chuyên viết
chuyện nông thôn và người nông dân ”, khi đọc những tác phẩm của Nguyễn
Hữu Nhàn, người đọc nhận ra “ trước hết là không khí “rất quê” đang diễn
ra hiện nay ở nông thôn vùng Trung du, xứ Bắc. Cái không khí ấy được tạo
dựng bởi những con người chân quê, thô tháp, tủn mủn đang phải đương đầu
với cái đói cái nghèo cùng những thói quen, tập tục lạc hậu từ xưa để lại,
những cá tính “truyền thống” còn “di căn” đến tận hôm nay ” [5, tr.19].
Là nhà văn chuyên chú trọng vào đề tài nông thôn vùng trung du miền
núi Bắc Bộ, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã thành công trong chính đề tài yêu
8

thích đó của mình. Có được những thành công đó bản thân nhà văn đã khẳng
định “Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã!” . Trong bài phỏng vấn của hai nhà
báo Đinh Hằng – Nam Hải, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho thấy quan
niệm hết sức nhất quán của bản thân về văn hóa làng xã, về cuộc sống nông
thôn giống như những gì mà ông đã thể hiện trong các sáng tác của mình.
Ông quan niệm cần giữ gìn truyền thống văn hóa làng như giữ gìn sự sống
còn vận mạng của dân tộc “Văn hóa làng xã là một pháo đài suốt nhiều nghìn

- Chớm nắng (2000)
- Rừng cười (2008)
* Các tập truyện ngắn:
- Chuyện làng Gành (1975)
- Truyện kể trong làng (1994)
- Phố làng (1999)
- Người quê (2005)
- Tết ở Bản Dèo (2006)
- Gió thổi qua rừng (2007)
- Vui như hội (2009)
- Nguyễn Hữu Nhàn - Tác phẩm chọn lọc - Tuyển (2009)
* Công trình nghiên cứu về văn hóa:
- Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ - Giải B Hội Văn nghệ Dân gian Việt
Nam (phối hợp cùng Nguyễn Khắc Xương).
- Nghiên cứu mối liên hệ văn hóa Việt Mường - Giải C Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam (phối hợp với Nguyễn Khắc Xương).
- Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ (phối hợp với Phạm Thị
Nga).
10

4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, triển khai thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng
phối hợp đồng bộ những phương pháp sau:
4.1. Phương pháp thống kê - phân loại: Bằng phương pháp thống kê,
phân loại, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại về một số phương diện
như hình tượng nhân vật, hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ, giọng điệu… Tất cả
các yếu tố đó biểu hiện cụ thể trong từng tác phẩm ở mỗi giai đoạn, thời kì
sáng tác. Từ đó tìm ra được những đặc sắc riêng của Nguyễn Hữu Nhàn khi
viết về đề tài nông thôn. Việc thống kê, phân loại còn cung cấp những số liệu

Việc khảo sát và nghiên cứu đề tài nông thôn trong truyện Nguyễn Hữu
Nhàn chưa nhiều, chưa có hệ thống cũng như chưa có một công trình nghiên
cứu hoàn chỉnh nào ra đời. Do đó, chúng tôi cố gắng bổ sung thêm một số
nhận định có ý nghĩa khoa học bên cạnh những ý kiến đã có về vấn đề này.
Thực hiện luận văn, chúng tôi không mong muốn gì hơn là đóng góp một chút
công sức của mình vào công tác nghiên cứu, phê bình Văn học Việt Nam hiện
đại và về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính
của luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương I: Đề tài và đề tài nông thôn trong văn học.
Chương II: Hiện thực nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn.
Chương III: Nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của
Nguyễn Hữu Nhàn .
12

NỘI DUNG
CHƯƠNG I - ĐỀ TÀI VÀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC
1.1. Khái niệm đề tài
Đề tài là vấn đề lí luận có quan hệ mật thiết tới việc nghiên cứu và sáng
tác văn học, phản ánh tài năng, sở trường, phong cách và thế giới quan của
nhà văn trong việc phản ánh hiện thực. Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà
văn chọn lựa, miêu tả và thể hiện, tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng
trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà
mình quan tâm. Đề tài là thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là vấn đề
có ý nghĩa nền móng làm nên tác phẩm văn học. Có thể nói, đề tài là khái
niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và

Có thể nói, phạm vi hiện thực mà nhà văn tâm huyết nhất trong tác phẩm
của mình, đó là những yếu tố mở đường cho thành công sáng tạo, không lựa
chọn được phạm vi hiện thực, nhà văn không thể thực hiện thành công quá
trình sáng tạo. Do đó, đề tài là phạm vi hiện thực được nhà văn phản ánh
trong tác phẩm là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm thể hiện thế
giới quan của nhà văn, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn và tư
duy của nhà văn. Đó là sự khái quát phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được
phản ánh trong tác phẩm, phản ánh tài năng, vốn sống, tâm huyết của người
cầm bút trong cuộc đời làm nghệ thuật.
1.2. Đặc điểm chung của đề tài
Trong tác phẩm văn học, thường không phải chỉ có một đề tài mà có rất
nhiều đề tài liên quan đến nhau, bổ sung cho nhau để tạo thành một hệ thống
đề tài. Chẳng hạn, Truyện Kiều của Nguyễn Du vừa có đề tài về tình yêu, về
hạnh phúc lứa đôi, về quan lại “mặt sắt đen sì”, về nông dân khởi nghĩa, về
14

cuộc đời của các cô gái lầu xanh , các đề tài đó gắn bó chặt chẽ với số phận
bi thảm của nàng Kiều. Trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, bên cạnh đề tài về
cuộc sống bi thảm của người nông dân còn có các đề tài về cuộc sống của bọn
quan lại tham lam, ích kỉ, về cuộc đời của các em bé nghèo khổ Như vậy, đề
tài có thể tồn tại ở nhiều cấp độ, thực chất đề tài là một khái niệm về loại của
hiện tượng đời sống được miêu tả. Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có
bấy nhiêu đề tài . Cho nên, có đề tài về người nông dân bị lưu manh hóa (Chí
Phèo – Nam Cao), có đề tài về người công nhân bị bần cùng hóa (Lầm than –
Lan Khai), có đề tài về cuộc sống bế tắc của người trí thức nghèo trước cách
mạng (Sống mòn – Nam Cao)… phản ánh các bình diện khác nhau trong cuộc
sống. Khi nói đến đề tài của một tác phẩm hoặc của văn học nói chung, thực
chất không phải chỉ nói một đề tài mà là cả một hệ thống đề tài liên quan
nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm.
Phạm vi phản ánh của đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau ở

kì lịch sử khác nhau, thường nổi lên những loại đề tài trung tâm khác nhau.
Trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, đề tài về số phận
của người phụ nữ chiếm một vị trí đáng kể trong trào lưu văn học nhân đạo
chủ nghĩa Việt Nam. Trong giai đoạn từ 1945-1975, đề tài về người chiến sĩ
cách mạng, về những người công nhân tiên tiến lại nổi lên hàng đầu.
Có những đề tài dường như thường được lặp đi lặp lại trong văn học ở
mọi nơi và mọi thời đại. Chẳng hạn đề tài về tình yêu và hạnh phúc, chiến
tranh và hòa bình, sự sống và cái chết Có người cho rằng đấy là những đề tài
vĩnh cửu của văn học. Thật ra, đó chỉ là một cách nói. Bởi vì, ngay chính một
nhà văn khi viết về một phạm vi cuộc sống thì đề tài của tác phẩm cũng đã là
một cái gì mới mẻ, không lặp lại.
16

Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận xét về cách tiếp cận đề tài của nhà
văn trong cuốn “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” như sau:
“ Trong thực tế của đời sống văn học, thường thấy hiện tượng này: các nhà
văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích nhất và ông ta chỉ có
thể viết hay về những đề tài ấy mà thôi. Khi vì một lí do nào đó, ông ta hướng
ngòi bút ra ngoài khu vực đề tài ấy, thì ông ta không còn sắc sảo nữa, tác
phẩm trở nên nhạt nhẽo, hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn, tài năng
dường như rời bỏ ông ta…” [10, tr.12-13].
1.3. Đề tài nông nghiệp và nông thôn trong văn học và trong sáng
tác của Nguyễn Hữu Nhàn
1.3.1. Khái niệm nông nghiệp và nông thôn
Trong cuốn “Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt”, tác giả
Nguyễn Văn Đạm đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: “ Ngành kinh tế
chuyên khai thác môi trường tự nhiên để sinh sản những thực vật và động vật
có ích cho con người” [3, tr.614]. Theo “Từ điển tiếng Việt 2010”, nông
nghiệp là “ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp sản phẩm
trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” [18, tr.952]. Như vậy, nông nghiệp là

nghiệp ở nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên. Cơ sở hình
thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp so
với thành thị (Do diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn), trong
một chừng mực nào đó thì tính dân chủ, tự do và công bằng xã hội thấp hơn
thành thị, thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói thì
cao.
Nông thôn – nông nghiệp là hai khái niệm luôn song hành cùng nhau.
Nói đến nông thôn là nghĩ đến “rơm rạ, lúa ngô khoai sắn”- những sản phẩm
của nông nghiệp. Nông thôn là cái nôi chứa đựng và nuôi dưỡng những
truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc ta. Nhưng thực tế lao động sản
xuất nông nghiệp trồng lúa nước lại là cơ sở để hình thành, sản sinh những
18

truyền thống văn hóa lâu đời ấy. Sự gắn bó hữu cơ, chặt chẽ có tính chất đồng
sinh đồng dưỡng ấy làm nên đặc trưng văn hóa nông thôn, nuôi dưỡng tâm
hồn người Việt từ đời này sang đời khác. Kho tàng văn học dân gian đã chứng
minh điều đó. Ví như, khi nói tới nông thôn là ta thường nhớ đến những nét
đẹp trong văn hóa sống, văn hóa ứng xử. Người nông dân Việt sống ở nông
thôn cố định một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn của mình được bao
bọc bởi luỹ tre làng bảo vệ, trong quan hệ ứng xử giữa con người với nhau từ
gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọng tình (duy tình). Hàng xóm
sống cố định lâu dài với nhau là một môi trường thuận lợi để người nông dân
tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: “Hàng xóm
tối lửa tắt đèn có nhau”; “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; “Một bồ cái lý
không bằng một tí cái tình”; “Bán anh em xa mua láng giềng gần”; “Một
giọt máu đào hơn ao nước lã”; “Ta về ta tắm ao ta-Dù trong dù đục ao nhà
vẫn hơn”; …Khi nhắc tới tình trạng sản xuất nông nghiệp người ta thường
nghĩ đến những kinh nghiệm được tích lũy trong lao động sản xuất. Người
nông dân làm nghề nông. Bởi trình độ và công cụ sản xuất còn thấp và lạc hậu
nên trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc nhiều vào hiện tượng của tự

động, dễ nhớ cha ông ta đã gửi gắm tình cảm gắn bó, hòa mình với thiên
nhiên, đồng thời ấp ủ khát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên, đó là những
cách nghĩ, nếp sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân nông nghiệp.
Người nông dân ở nông thôn luôn có ý thức về việc đúc rút, gìn giữ, lưu
truyền những kinh nghiệm quí báu cho các thế hệ nối tiếp.
Sau này khi văn học viết ra đời, vùng quê nông thôn và đời sống nông
nghiệp tiểu nông manh mún đã là nguồn đề tài vô tận cho văn học. Đề tài
nông thôn - nông nghiệp - nông dân đã trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm và
có mặt ở tất cả các thể loại văn học .
20

1.3.2. Đề tài nông nghiệp và nông thôn trong văn học
Đất nước và con người Việt Nam ngàn đời nay luôn tự hào có nền văn
minh sông Hồng, văn minh lúa nước. Mọi thế hệ người Việt Nam lớn lên và
trưởng thành từ cái nôi văn minh nông nghiệp ấy. Trải qua các thời kì lịch sử,
nông thôn luôn là môi trường sống bền bỉ của người nông dân. Con người
Việt Nam đã tạo nên một nền sản xuất nông nghiệp và một truyền thống lịch
sử văn hóa riêng. Bởi thế, từ văn học dân gian đến hiện đại, nông dân - nông
nghiệp - nông thôn luôn là một đề tài truyền thống trong văn học Việt. Đây là
điểm nổi bật có tính tất yếu đối với một nước nông nghiệp như nước ta. Phần
lớn dân số Việt Nam đều có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn. Do đó, văn học
dù viết về chốn đồng quê hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về
nông thôn.
Văn học dân gian ngay từ đầu đã phản ánh được tiếng nói ngợi ca cuộc
sống nông nghiệp của nhân dân ta, đề tài nông thôn biểu hiện qua cuộc sống
lao động của người nông dân đã trở thành đề tài chủ đạo trong các bài ca dao,
dân ca:
- “ Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
- “Hỡi cô tát nước bên đàng

con người ở nông thôn thực sự. Trang trải lòng mình với những vui buồn của
quê hương lam lũ, đây là cảnh mất mùa trong thơ ông :
“ Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa ”
[26, tr.360]
Hay cảnh sống thanh bần nơi làng quê :
“ Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
22

Chợ búa trầu cau chẳng dám mua”
[26, tr.360]

Văn học hiện đại mang một diện mạo khác hẳn - chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của lịch sử. Ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, văn học phản ánh sự xâm
nhập sâu sắc của chế độ thực dân tới đời sống nông thôn Việt Nam. Những
cây bút xuất sắc của trào lưu hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
Nam Cao, Kim Lân đã hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề nhức nhối
của nông thôn, đến đời sống tăm tối nghèo khổ của người nông dân. Một
nông thôn đói nghèo xơ xác, người nông dân bị tha hóa… Từ CMT8 năm
1945 đến 1975, văn học ngoài việc phản ánh sự phong phú, đa dạng của đời
sống hiện thực vẫn tiếp tục phản ánh đề tài nông thôn thời kỳ xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Sau Đại hội VI
của Đảng (1986), hàng loạt tác phẩm viết về đề tài nông thôn ra đời với cái
nhìn mới mẻ, dân chủ, khách quan, toàn diện hơn. Đặc biệt, trong khoảng
mười năm trở lại đây, mảng đề tài nông thôn rất được các nhà văn quan tâm
với nhiều vấn đề mang tính thời sự đặt ra trước tình hình phát triển chung của
xã hội trong bối cảnh thời đại mới.
1.3.3. Đề tài nông nghiệp, nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu
Nhàn
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn sinh ngày 11 tháng 12 năm 1938. Ông quê ở

điền dã, khảo cứu, sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian, ông luôn có ý thức tự
học bằng cách ghi chép, vun góp những hiểu biết, những phát hiện về cuộc
sống nơi thôn dã mình đi qua, ông say mê sưu tầm những giai thoại, những
mẩu truyện để viết về làng quê mình. Những truyện đầu tay của ông đã được
đăng tải trên các tạp chí văn nghệ ở địa phương và trung ương sau này tập
hợp lại in thành tập truyện ngắn có tên là “Chuyện làng Gành” tiếp đó là tiểu
24

thuyết “Dốc nắng” do nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1981. Đầu thập niên
tám mươi của thế kỉ trước, ông được kết nạp vào Hội viên Hội nhà văn Việt
Nam. Nguyễn Hữu Nhàn không những là nhà văn mà còn là nhà nghiên cứu
sưu tầm văn hoá làng xã, đặc biệt là các công trình nghiên cứu văn nghệ dân
gian của các dân tộc Mường, Dao rất có giá trị trong kho tàng văn học dân
gian Việt Nam. Tất cả những yếu tố đó sau này là cơ sở vững chắc giúp cho
Nguyễn Hữu Nhàn trở thành nhà văn xuất sắc của mảng đề tài viết về nông
thôn. Người đọc, người xem những tiểu thuyết, truyện ngắn, bài báo hay
những bộ phim dài tập kịch bản của Nguyễn Hữu Nhàn đều cảm được cái tinh
túy, thâm hậu, sâu sắc, đôi khi dung dị thô mộc như đời sống nhưng nó gây
được hiệu ứng cảm xúc đánh thức những vùng tối, đánh thức lòng trắc ẩn tới
cõi ngóc ngách riêng tư của con người. Chúng ta hãy đọc “Làng nghèo”,
“Làng quê yên ả”, “Người quê”, “Đám cưới ở làng” và rất nhiều những
truyện khác nữa của ông sẽ chia sẻ được điều này Không thể kể ra hết
những gì Nguyễn Hữu Nhàn đã viết, đã gửi gắm tâm trí, tấm lòng mình cho
cuộc đời thông qua các tác phẩm, những câu chuyện về nông thôn, làng quê,
người quê của ông. Nguyễn Hữu Nhàn có lối viết riêng, một phong cách
Nguyễn Hữu Nhàn không lẫn với ai khi viết về làng quê, người quê.


thớt, hoang sơ, lại là vùng “bán sơn địa” nên cảnh sắc làng quê luôn gắn liền
với hình ảnh đồi núi gập ghềnh “những chòm, những xóm, những căn nhà
ngự trên những quả đồi, dựa trên những sườn đồi, len lách trong kẽ đồi, thấy

Trích đoạn Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu Đặc điểm phương ngữ nông thôn trung du miền nú Nghệ thuật xây dựng nhân vật Đến nay, hơn 70% người Việt Nam vẫn đang sống ở nông thôn và lao làm nên thành công ở đề tài nông thôn, Nguyễn Hữu Nhàn sử dụng các phương diện hình thức nghệ thuật cũng như những gì là của riêng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status