1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội 2
Hoàng thị thanh hải
Đề tài Nông thôn trong sáng tác của kim lân
Luận văn thạc sĩ
văn học
luận văn thạc sĩ văn học
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Lê Trà My
Hà nội, 20113
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Lê Tr My,
ngời đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực
hiện đề tài khoa học này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Tổ Lí luận văn học,
Khoa Ngữ văn, cán bộ Phòng Sau đại học, trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại
trờng.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
5
Mục lục
trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Mở đầu
1
Nội dung
8
Chơng 1.
Khái quát về đề tài - đề tài nông thôn trong
Văn học Việt Nam
8
3.2.2. Biểu tợng chợ 91
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật 93
3.3.1. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên 94
3.3.2. Từ ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh 98
3.4. Giọng điệu 100
3.4.1. Giọng điệu dí dỏm, hóm hỉnh 101
3.4.2. Giọng điệu trầm buồn, thủ thỉ gần với giọng cổ tích hay
truyền thuyết 104
3.4.3. Giọng điệu thân mật, suồng sã 108
3.4.4. Giọng điệu mỉa mai, hài hớc, phê phán nhẹ nhàng 109
3.4.5. Giọng điệu đôn hậu, cảm thơng 111
Kết luận
116
Danh mục các công trình của tác giả
118
Tài liệu tham khảo
119
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
7
Đề tài là một vấn đề lí luận quan hệ mật thiết tới việc nghiên cứu và
sáng tác văn học. Đề tài phản ánh tài năng, sở trờng phong cách và thế giới
quan của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực. Nghiên cứu đề tài chính là đề
cập phơng diện khách quan của thế giới nghệ thuật, đồng thời qua đó có thể
nhận ra tính chủ quan trong sự lựa chọn, tổ chức chất liệu nghệ thuật, cái nhìn
Nghiên cứu sáng tác viết về đề tài nông thôn của Kim Lân, chúng tôi
muốn đi sâu phân tích, đánh giá để tìm ra những đóng góp của Kim Lân về đề
tài nông thôn vốn rất quen thuộc trong lịch sử văn học Việt Nam. Qua đó góp
phần vào việc khẳng định những giá trị của các tác phẩm, khẳng định tài năng
của Kim Lân. Bên cạnh đó quá trình nghiên cứu sẽ giúp ngời viết hiểu thêm
sáng tác của các nhà văn cùng thời, đồng thời giúp cho việc giảng dạy văn học
trong nhà trờng đợc tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề đề tài trong tác phẩm văn học đã đợc nhiều công trình nghiên
cứu lí luận văn học đề cập tới trong mấy thập kỷ qua. Nhìn chung, các công
trình nghiên cứu trên đều cho rằng: Đề tài là phạm vi phản ánh hiện thực của
nhà văn, là phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm đợc xác định
theo mối liên hệ bên ngoài hay mối quan hệ bên trong giữa các hiện tợng đời
sống, đợc nhà văn miêu tả, phản ánh trực tiếp trong tác phẩm. Tuy nhiên, vấn
đề đề tài trong sáng tác của nhà văn có sự lựa chọn khác nhau và có những đặc
điểm khác nhau. Vấn đề đề tài trong sáng tác của Kim Lân là một vấn đề lớn
trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông.
Nghiên cứu về đề tài nông thôn trong truyện ngắn Kim Lân, chúng tôi
không bắt đầu công việc trên mảnh đất trống. Bởi từ khi nhà văn xuất hiện
trên văn đàn vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX, đã thu hút đợc sự quan
tâm của đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình.
Trớc cách mạng tháng Tám có Lữ Quốc Văn, Vũ Bằng, Nguyên
Hồng Chúng tôi cha tìm văn bản chính xác của Lữ Quốc Văn viết về Kim
9
Lân, nhng trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân 1996 Lữ Quốc Văn đã
khẳng định: Ngời đã thành công trong một loạt truyện ngắn về thú chơi đặc
biệt nổi tiếng với các truyện viết về phong tục làng quê là Kim Lân [46, tr.18].
Nhà văn Vũ Bằng chính là ngời có công phát hiện, động viên, và
khuyên Kim Lân nên viết về mảng sinh hoạt phong tục. Vũ Bằng khuyên:
Lữ Huy Nguyên đã tuyển chọn và cho ra đời Tuyển tập Kim Lân năm
1996, là một công trình tập hợp khá đầy đủ những sáng tác của nhà văn. Từ đó
đến nay ngày càng có nhiều bài viết về Kim Lân với nội dung và hình thức đa
dạng.
Nhà giáo Đỗ Kim Hồi khi viết về Vợ nhặt trong Giảng văn Văn học Việt
Nam, đã đề cập nhiều hơn về Kim Lân. Ngoài việc khẳng định Kim Lân ngày
càng đợc khâm phục và Kim Lân có hai trong bốn tác phẩm đợc coi là
thần bút, còn nhấn mạnh Phần tâm huyết sâu xa nhất của tác giả Vợ nhặt,
chắc hẳn đã không đợc dồn cho việc làm biểu hiện những nét thấp kém của
con ngời bộc lộ qua nhân hình và nhân cách. Ngợc lại với việc đặt nhân vật
vào một khoảng sáng và tối, lay lắt, nhà văn đã tìm đợc một cơ hội vô song
để biểu hiện sự bất diệt của nỗi khát thèm đợc sống, đợc yêu thơng và hi
vọng niềm ao ớc ấy cứ âm thầm vơn lên từ đói khát, tối tăm và chính bởi
thế mà nó trở nên đáng cảm động và đáng quí, và cũng còn có thể nói
nhiều điều nữa về Vợ nhặt. Nh về cái vốn liếng ngôn ngữ giàu có đặc sắc của
Kim Lân, cái lối viết văn tởng nh dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị
vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc.
Ngoài ra còn nhiều bài viết, bài nghiên cứu, tìm hiểu về nhà văn nh
Phan Hoàng với bài Hỏi chuyện nhà văn Kim Lân: Văn chơng nh một thứ
tôn giáo, Lữ Huy Nguyên: Kim Lân với những thú chơi ngày xuân Kinh Bắc,
Trung Trung Đỉnh có Bố già Kim Lân, Hoài Việt với Đôi điều về Kim Lân,
Hơng Giang có bài viết Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt Các bài
11
viết đợc in trên các báo Ngời Hà Nội, Nhân dân chủ nhật, Văn nghệ, Thế
giới mới, Báo Giáo dục và thời đại, Hải quan, Văn học và tuổi trẻ đều thể
hiện thái độ trân trọng, cảm phục tài năng của nhà văn Kim Lân, qua đó khẳng
định những giá trị văn học trong sáng tác của ông. Nhng các bài viết này vẫn
chỉ tìm hiểu, nhận xét về sáng tác Kim Lân ở một phơng diện nhất định nào
đó, nên cha mang tính tổng hợp, khái quát cao.
5. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tợng nghiên cứu
Đề tài nông thôn trong sáng tác của Kim Lân.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu những sáng
tác của Kim Lân: Làng (1955), Tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955),
Ông lão hàng xóm (1957), Tập truyện ngắn Vợ nhặt (1983), Tuyển tập Kim
Lân (1996) và Kim Lân tác phẩm chọn lọc.
6. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp tập hợp và hệ thống: Để có một cái nhìn tổng quát tiến
hành tập hợp những sáng tác trực tiếp hoặc gián tiếp viết về nông thôn của nhà
văn.
- Phơng pháp phân tích và khái quát: Phân tích lần lợt từ bức tranh
hiện thực đến thế giới nhân vật ở cả bình diện nội dung và nghệ thuật từ đó có
cái nhìn toàn diện về các phơng diện nội dung và nghệ thuật về đề tài nông
thôn trong sáng tác của Kim Lân.
- Phơng pháp so sánh và tổng hợp: Nghiên cứu sáng tác viết về đề tài
nông thôn của Kim Lân, có đối sánh với tác phẩm viết về đề tài nông thôn của
các tác giả cùng thời. Đồng thời có những nhận định chung nhất về thành
công và hạn chế của Kim Lân khi viết về đề tài này.
7. Đóng góp mới của luận văn
13
Đây là công trình nghiên cứu tơng đối hệ thống những thành tựu trong
sáng tác viết về đề tài nông thôn của Kim Lân. Với công trình này mong
muốn góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò của đề tài trong tác phẩm văn học và
những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại.
Đồng thời chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần
vào việc giảng dạy tốt hơn những tác phẩm của Kim Lân trong trờng phổ
văn học Việt Nam
1.1. Khái quát về đề tài
1.1.1. Khái niệm đề tài
Đề tài là thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là vấn đề có ý nghĩa
nền móng để làm nên tác phẩm văn học. Khái niệm về đề tài đợc đề cập đến
trong nhiều cuốn Lí luận văn học. Trong cuốn Lí luận văn học do tác giả
Phơng Lựu chủ biên đã đa ra khái niệm: Đề tài là khái niệm chủ yếu thể
hiện phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học ( ) tác phẩm
văn học bao giờ cũng xuyên qua một phạm vi miêu tả trực tiếp để khái quát
lên một phạm vi hiện thực đời sống nhất định có ý nghĩa sâu rộng hơn
[41, tr.259].
Trong cuốn Lí luận văn học do tác giả Trần Đình Sử chủ biên cũng
cùng quan niệm trên, cho rằng: Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của
hiện tợng đời sống đợc miêu tả. Có bao nhiêu loại hiện tợng đời sống, có
bấy nhiêu đề tài [59, tr.194].
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Đề tài là khái niệm chỉ loại các
hiện tợng đời sống đợc miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.
Đề tài là phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm [26, tr.110].
Trong cuốn từ điển tác giả cho rằng Cần phân biệt đề tài với t cách là
phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm với đối tợng của nhận thức,
chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của sáng tác văn học. Lẫn lộn hai
mặt này sẽ dẫn tới tình trạng biến việc phân tích tác phẩm thành phân tích đối
tợng đợc miêu tả. Đối tợng nhận thức, miêu tả của sáng tác văn học là cái
còn nằm ngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm. Đề tài của tác phẩm là một
phơng diện trong nội dung của nó, là đối tợng đã đợc nhận thức, lựa chọn
15
gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trờng t tởng, quan điểm thẩm mĩ
của nhà văn [26, tr.111-112].
Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX phát triển với tốc độ nhanh
đại, hiện đại, tác phẩm văn học bao giờ cũng xuyên qua một phạm vi miêu tả
trực tiếp các hiện tợng đời sống trong tác phẩm để khái quát lên một phạm vi
hiện thực nhất định, có ý nghĩa khái quát sâu rộng hơn. Trong phong trào
Thơ mới, đóng góp nổi bật của các nhà thơ là những trang viết về làng quê của
các tác giả tiêu biểu nh: Anh Thơ, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ. Ngời đọc
gặp trong thơ họ thế giới nhân vật phong phú, đa dạng, đó là những ngời dân
quê giản dị, hồn nhiên, những ngời làng xóm, những ngời chị, ngời mẹ, cô
hái mơ, ngời lái đò bên cạnh việc vẽ lên những bức tranh về cuộc sống con
ngời nơi làng quê.
Từ hiện thực cuộc sống của nông dân trong cảnh thuế thúc trống dồn,
Ngô Tất Tố đã khái quát lên trong Tắt đèn hình ảnh làng Đông Xá với gia
đình chị Dậu, tiêu biểu cho cuộc sống cực khổ của ngời nông dân trớc cách
mạng. Ngoài ra chúng ta biết đến thành thị qua những trang viết của Vũ Trọng
Phụng, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Nhất Linh , những chuyện nông thôn qua
Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, từ thực tế văn học: cha nhận ra đề tài
thì cha bớc vào tiếp nhận hình tợng [41, tr.259]. Từ hiện tợng nghệ thuật
sinh động nhận ra loại con ngời và các hình thái cuộc sống đợc phản ánh
trong tác phẩm không phải là đơn giản, song có nhận ra đợc nó ta mới có thể
tiếp nhận đợc hình tợng.
Phạm vi của đề tài đợc xác định rộng hay hẹp ở biên độ của nó. Đó có
thể là một giới hạn bề ngoài hoặc phơng diện bên trong của đề tài. Các
hiện tợng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên hệ bề
ngoài hoặc mối quan hệ bên trong giữa chúng. Giới hạn bề ngoài của phạm vi
hiện thực đợc phản ánh trong tác phẩm có thể xác định các đề tài văn học
17
nh: Đề tài kháng chiến chống Mĩ (Dấu chân ngời lính của Nguyễn Minh
Châu), đề tài bộ đội Trờng Sơn (Trờng Sơn đông, Trờng Sơn tây của Phạm
Tiến Duật), đề tài sản xuất (Cái sân gạch của Đào Vũ), đề tài cải cách ruộng
phẩm Chí Phèo của Nam Cao, Chí Phèo là một nông dân lơng thiện, hiền
lành bị đẩy vào con đờng lu manh hóa, bị cự tuyệt quyền làm ngời cuối
cùng phải tự sát khi ý thức đã trở về, thì đề tài của tác phẩm là tình trạng nông
dân bị lu manh hoá trong xã hội trớc cách mạng. Tuy vậy, trong tác phẩm
không chỉ có một nhân vật Chí Phèo, khi đọc tác phẩm ta còn thấy hình ảnh
của giai cấp thống trị nh: Bá Kiến, Lý Cờng, Đội Tảo. Bọn chúng nh một
đàn cá tranh mồi câu kết với nhau bóc lột dân lành thì đề tài ở đây là bộ mặt
tham lam, tàn ác, bỉ ổi của giai cấp thống trị đơng thời.
Vậy, đề tài có thể tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau, thực chất đề tài là
một khái niệm về loại của hiện tợng đời sống đợc miêu tả. Có bao nhiêu
loại hiện tợng đời sống, có bấy nhiêu đề tài [41]. Cho nên có đề tài về ngời
nông dân bị lu manh hoá (Chí Phèo - Nam Cao), có đề tài về cuộc sống bế
tắc của ngời trí thức nghèo trớc cách mạng (Sống mòn - Nam Cao), hay có
đề tài về tình yêu làng quê của ngời nông dân trớc cách mạng (Làng - Kim
Lân) phản ánh các bình diện khác nhau trong cuộc sống. Nói đến đề tài tác
phẩm, không chỉ nói tới một đề tài riêng rẽ mà thực chất là một hệ thống đề
tài liên quan tới nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm.
Đề tài tác phẩm văn học không những gắn với hiện thực khách quan,
mà còn do lập trờng t tởng và vốn sống của nhà văn qui định. Cùng viết về
ngời nông dân trớc cách mạng tháng Tám, tác phẩm của Ngô Tất Tố tập
trung vào tình cảnh khốn cùng của ngời nông dân trớc cảnh su cao thuế
nặng. Nam Cao lại nêu ra tình trạng bị tha hoá về mặt tâm hồn, bị biến dạng
về nhân hình nhân tính. Kim Lân lại tập trung thể hiện những phong tục
truyền thống của dân tộc qua những thú vui nơi làng quê. Khi phần lớn các tác
giả của Tự lực văn đoàn nh Nhất Linh, Khái Hng, Hoàng Đạo viết về đề
19
tài xung đột trong các gia đình phong kiến địa chủ, khẳng định quyền tự do
luyến ái của lớp thanh niên tân thời thì các nhà văn Ngô Tất Tố, Nam Cao,
Nguyễn Công Hoan, Kim Lân lại chọn đề tài là đời sống nông dân ở nông
các nhà thơ nh: Trần Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ngợc lại với phản ánh gián tiếp là sự phản ánh trực tiếp, các nhà thơ đã
có ý thức viết về nông thôn với tất cả những gì vốn đã tồn tại một cách hiện
hữu. Họ miêu tả cảnh vật, con ngời, cuộc sống nông thôn để từ đó thể hiện
tình cảm, cảm xúc trữ tình. ở dạng phản ánh trực tiếp này các tác giả dờng
nh có xu hớng vợt ra khỏi tính khuôn mẫu qui phạm của văn chơng trung
đại mặc dù điều đó không dễ. Nông thôn trong sáng tác của họ hiện lên rất đa
dạng. Một nông thôn Việt Nam gắn bó máu thịt với từng con ngời đất Việt,
với tất cả vẻ đẹp thơ mộng. Có thể đó là dòng sông, một bến nớc, một cánh
diều tuổi thơ, một đồng lúa ngào ngạt.
Đó là cuộc sống của ngời nông dân quanh năm vất vả, chân lấm tay
bùn, một nắng hai sơng để làm ra hạt gạo, song họ lại có một cuộc sống tinh
thần phong phú, lành mạnh. Chú ý đi vào miêu tả hiện thực của nông thôn
Việt Nam, các nhà thơ đều thể hiện tình cảm đối với thôn quê, nơi cội nguồn
của mình, đồng thời thể hiện sự thông cảm, thơng yêu sâu sắc với cuộc sống
còn nhiều đau khổ của ngời nông dân. ở đây, có thể thấy một qui luật là từ
sự phản ánh gián tiếp đến sự phản ánh trực tiếp là cả một quá trình phát triển
và càng về sau các tác giả càng có ý thức đa văn chơng nghệ thuật đến gần
cuộc sống hiện thực, gần với đời thờng hơn. Tiêu biểu cho dạng phản ánh
nông thôn một cách trực tiếp có thể kể đến các tác giả: Ngô Thì Sỹ, Nguyễn
Du, Cao Bá Quát.
Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, hai vị vua đời Trần, ngoài chính
sự, còn là những nhà thơ tài hoa. Một số thơ phẩm của hai ông viết về thiên
nhiên, nông thôn Việt Nam còn đợc truyền tụng. ở Trần Nhân Tông có các
bài thơ nh: Hạ Cảnh (Cảnh mùa hạ), Hạnh Thiên Trờng hành cung (Đi đến
21
nơi hành cung ở Thiên Trờng), Hạnh An Bang Phủ (Đi đến phủ An Bang).
Bài thơ Thân Trờng vãn vọng (Chiều trông cảnh Thiên Trờng) của Trần
Nhân Tông là một trờng hợp đặc sắc.
(Bảo kính cảnh giới)
Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sống trong thời tao
loạn, hiếm hoi ông mới có những bài thơ tả cảnh sinh hoạt làng quê. Có thể kể
đến bài Vấn ng giả (Hỏi ngời đánh cá). Bài thơ thể hiện một vẻ đẹp hiện
thực song đầy ý vị lãng mạn:
Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng
Cô phàm minh nguyệt tuý chung quy
(Sáo diều theo gió nhàn bay
Buồm khuya chở bóng trăng say cùng về)
Trong bài Nhàn thôn (Chốn thôn quê nhàn rỗi) tính hiện thực đã rõ hơn.
Bài thơ khẳng định cuộc sống của ngời nông dân thật đa dạng. Nơi đâu có
làng xóm, nơi ấy có niềm vui, có tình ngời.
Tổng tổng, lâm lâm sinh chí phồn
Sở c, xứ xứ hữu hơng thôn
Hào hoa hấp nhĩ tỉ lân hội
Nhân hậu y nhiêu mỹ tục phồn
(Nờm nợp xum xuê khắp sản sinh,
Thành làng mọi chốn có dân đinh.
Hào hoa tụ hội nhà liền vách,
Nhân hậu theo lề tục tốt lành.)
Các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá
Quát đều ít nhiều có viết về làng quê Việt Nam. Song hình ảnh làng quê trong
thơ của các thi nhân đó hiện lên trong hoài niệm mang tâm trạng lữ thứ tha
hơng. Nên đề tài viết về làng quê cha trở thành cảm hứng chủ đạo của họ.
23
Sau này nối tiếp cảm hứng ấy là nhà thơ Nguyễn Khuyến, ông có một vị trí
quan trọng trong tiến trình lịch sử thơ ca dân tộc. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng
coi ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Trong thơ Nguyễn Khuyến
là đề tài hợp với Nguyễn Khuyến. Dờng nh cứ mỗi lần đọc lại chùm thơ thu
của Nguyễn Khuyến, ta lại phát hiện thêm nhiều điều mới lạ.
Viết về thiên nhiên, Nguyễn Khuyến hớng tới miêu tả hiện thực cảnh
sắc nông thôn quê hơng mình, với một sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc, giàu chất
trữ tình, tiếp cận và mô tả hiện thực nh nó vốn có. Thiên nhiên làng cảnh
trong thơ ông là vẻ đẹp để muôn đời say mê, yêu mến.
Ngoài việc phản ánh, mô tả thiên nhiên trên bình diện khách thể.
Nguyễn Khuyến còn thể hiện thiên nhiên trên bình diện chủ thể. Đó là cảm
xúc trữ tình là tâm sự thầm kín của nhà thơ gửi gắm trong đó.
Bài thơ Thu Vịnh có hồn rất riêng của Nguyễn Khuyến. Hình ảnh song
tha để mặc bóng trăng vào là nét vẽ trong thơ, hay chính tâm trạng nhà thơ?
Cảnh và tình trong thơ mờ ảo, thật mà h, quen mà lạ. Ta hình dung tiếng lòng
thi sĩ đang thảng thốt, cô đơn, ngơ ngác sững sờ.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút.
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Thu ẩm thể hiện rõ nỗi buồn, tâm trạng tự trách, tự thẹn thành một nỗi
chán chờng gần nh buông thả, khoảnh khắc thu có lẽ vì thế là những giây
phút chập tối, đêm sâu nhạt mờ, h ảo. Hình ảnh một căn "nhà cỏ thấp le te ở
các nét sâu của một ngõ tối. Đóm lập loè, những dấu hiệu đích thực của
làng quê Việt Nam. Nếu bài Thu vịnh còn có chút tỉnh táo thì đến đây tâm
trạng nhà thơ thành chếnh choáng, ngất ng câu thơ dăm ba hoe say
nhoè, oà ra nh những dòng nớc mắt.
Đến bài Thu điếu thể hiện rõ nhất nhân vật trữ tình Nguyễn Khuyến
trong vai trò của ngời câu cá.
25
Tựa gối ôm cần lâu chẳng đợc
Cá đâu đớp động dới chân bèo.
Nhà thơ tự họa mình vào bức tranh với một dáng ngồi bất động. Tất cả
thu nhỏ lại gần nh tan vào h không. Đi câu là cái cớ để đợc tĩnh lặng mà