Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
N
N
G
G
U
U
Y
Y
Ễ
Ễ
N
NĐ
Đ
Ứ
Ứ
C
CH
N
N
G
G
U
U
Y
Y
Ễ
Ễ
N
NĐ
Đ
Ứ
Ứ
C
CH
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nông thôn - nông nghiệp - nông dân hiện đang được nhà nước dành nhiều
sự quan tâm đặc biệt. Nhiều chính sách của Đảng và chính phủ nhằm thúc đẩy sự
phát triển nông thôn đã ra đời. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người nông
dân đang từng bước được nâng lên. Nhiều lễ hội văn hóa truyền thống ở nông thôn
đang được khôi phục và bảo tồn. Bản thân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong lễ
khai xuân dâng hương đầu năm mới 2012 cũng đã xắn quần, xuống đồng cày ruộng
trên cánh đồng Đọi Sơn (Hà Nam). Văn học là sự phản ánh, văn học quan tâm đến
hiện thực xã hội, tất yếu đề cập đến nông thôn và nông dân. Bởi thế, từ xưa đến nay,
nông nghiệp - nông thôn - nông dân luôn là đề tài lớn của văn học. Nó còn là cái nôi
văn hoá dân tộc, nơi nuôi dưỡng, giữ gìn tất cả những cái đẹp nhất, hồn cốt nhất của
dân tộc Việt Nam. Trân trọng văn hóa nông thôn chính là tiêu chí đã được các nhà
văn coi trọng khi viết về mảng đề tài này. Vì lẽ đó nhiều năm qua, hai mảng đề tài
làm nên thành tựu lớn nhất của văn học Việt Nam là mảng đề tài viết về chiến tranh
và về nông thôn - nông nghiệp - nông dân. Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức trao thưởng cho các tác
phẩm văn học nghệ thuật sáng tác về đề tài nông thôn. Về mục đích của việc trao
thưởng và phát động sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới, ông Cao Đức Phát
– Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết: “Xây dựng nông
thôn mới là chủ trương lớn của Chính phủ. Mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của người dân. Vì thế, bên cạnh việc xây dựng những dòng sông,
cánh đồng, chuồng trại thì còn cần phải xây dựng đời sống văn hóa cho bà con
nông dân. Chúng tôi muốn thông qua việc trao thưởng này để phát động một chặng
đường sáng tác mới. Những sáng tác văn học nghệ thuật là món quà vô giá để động
viên bà con nông dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng đời sống nông thôn mới ”
[25].
văn học hiện nay một phong cách sáng tác truyện mang đậm dấu ấn nông thôn trung
du miền núi Bắc bộ.
1.3. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo về những đóng
góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn về đề tài nông thôn
cho tới nay chưa có nhiều. Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, chưa có luận văn
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thạc sĩ nào nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác cũng như những tác phẩm của Nguyễn
Hữu Nhàn. Hiện nay chỉ có một số bài báo, bài nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác
phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn của các nhà nghiên cứu có uy tín như PGS.TS Phan
Trọng Thưởng, nhà lí luận phê bình Văn Giá, nhà báo Vũ Hà …Từ những lí do cụ
thể ở trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đề tài nông thôn trong sáng tác
của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn”, nhằm tập trung vào làm sáng tỏ sự cảm nhận ,
phản ánh của nhà văn về cuộc sống của người nông dân, vấn đề sản xuất nông
nghiệp và văn hóa nông thôn trong thời đại mới. Đây là những vấn đề đang được cả
xã hội quan tâm và qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn đều được thể hiện
một cách rõ nét.
2. Lịch sử vấn đề
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh giá là
“nhà văn của làng quê”, bởi ngay từ khi mới cầm bút, chập chững bước vào nghề
viết văn và cho đến tận bây giờ (có lẽ sau này vẫn thế), khi đã trở thành lão làng
trong Hội nhà văn Việt Nam, có trong tay hơn chục đầu sách có giá trị, ông luôn chỉ
chú trọng đặc biệt vào một đề tài với một niềm đam mê không thể khác là chỉ viết
về đề tài nông thôn, về cuộc sống hàng ngày của người nông dân ngay trên chính
mảnh đất của họ. Tác giả Lê Phan Nghị trong bài báo “Nhà văn của đồng quê”
đăng trên tuần báo Văn nghệ đã khẳng định: “ Trong suốt cả chặng đường văn
chương của mình – Nguyễn Hữu Nhàn đã lặn lội, ki cóp để phần lớn các tác phẩm
của ông đều sống động những hình ảnh về người nông dân, hình ảnh về hoạt động
nông nghiệp, nông thôn ” [19, tr.7].
Ra đời ngay sau tiểu thuyết “Làng Cói Hạ”, tiểu thuyết “Chớm nắng” đúng
thật như nhận định trên đây về Nguyễn Hữu Nhàn “nhà văn làm khảo cứu và nhà
khảo cứu làm văn học”. Đánh giá về tiểu thuyết này tác giả Đặng Văn trong bài viết
“Vài nét về văn hóa làng qua tiểu thuyết Chớm nắng” viết “ Vấn đề trọng tâm của
cuốn tiểu thuyết “Chớm nắng” đặt ra là VĂN HÓA LÀNG”, “Cái được của tác
phẩm là tác giả thông qua việc tập dượt chuẩn bị cho lễ hội “trò Táu” một thứ lễ
hội cổ truyền đã gần như bị mai một – và chỉ khuôn lại trong phạm vi một làng đã
làm cho người đọc hiểu thế nào là văn hóa đích thực, cái gì là tinh hoa cần phát
huy, cái gì là nhảm nhí, lỗi thời nên bài trừ, củng cố niềm tin cho nhân dân, khơi
dậy từ tâm hồn họ những giá trị tinh thần, làm giàu lòng nhân ái, xóa bỏ hận thù,
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sống với nhau có tình, có nghĩa và có trách nhiệm” [29, tr.6]. Thông qua bức tranh
khái quát về chính nơi tác giả đã sinh sống – Làng Đinh Xá, người đọc nhận ra
được “làng Đinh Xá là bức tranh khái quát của làng quê Việt Nam với đầy đủ
những biểu hiện sinh động của nền văn hóa bản địa”. Với phương pháp điển hình
hóa thông qua hàng loạt số phận các nhân vật, tiểu thuyết “Chớm nắng” cho thấy
sự hiểu biết của tác giả về “những tầng văn hóa, những dấu ấn lịch sử và cả nhân
tình thế thái trong mối quan hệ đa chiều mang tính đặc thù của làng quê Việt Nam
xưa và nay ” [29, tr.6].
Đúng như PGS – TS Phan Trọng Thưởng đã viết “ Nhà văn không chọn được
nơi sinh nhưng lại có thể chọn cho mình nơi sống và gắn bó. Mỗi nhà văn thường
có một vùng đất, một miền quê, một địa bàn của mình” [26, tr.9]. Tại “miền quê”
của mình mỗi nhà văn tìm ra được rất nhiều điều để viết. Nhà văn Nguyễn Hữu
Nhàn cũng vậy. Trong một bài viết trên báo Văn Nghệ, nhà lí luận phê bình Văn
Giá đã chỉ ra đặc điểm nổi bật qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn “ Nguyễn
Hữu Nhàn không đi vào những vấn đề tố khổ, hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc
làm ăn chuyển đổi kinh tế…mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên
chú đi vào các vỉa tầng văn hóa của làng quê thời hiện đại ” [4, tr.9]. Sinh ra,
sức mạnh đã trở thành truyền thống cực kì quý báu của nhân dân ta, nên đã giúp họ
vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng gia đình hạnh phúc, làng quê đẹp
giàu” [1, tr.9].
Cũng như nhiều tác giả khác, tác giả Vũ Hà trong bài viết “Nguyễn Hữu Nhàn
– Nhà văn của nhà quê ” cũng đã có những nhận định rất xác đáng về Nguyễn Hữu
Nhàn cũng như các tác phẩm của ông “ một cây bút chuyên viết chuyện nông thôn
và người nông dân ”, khi đọc những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn, người đọc
nhận ra “ trước hết là không khí “rất quê” đang diễn ra hiện nay ở nông thôn vùng
Trung du, xứ Bắc. Cái không khí ấy được tạo dựng bởi những con người chân quê,
thô tháp, tủn mủn đang phải đương đầu với cái đói cái nghèo cùng những thói
quen, tập tục lạc hậu từ xưa để lại, những cá tính “truyền thống” còn “di căn” đến
tận hôm nay ” [5, tr.19].
Là nhà văn chuyên chú trọng vào đề tài nông thôn vùng trung du miền núi
Bắc Bộ, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã thành công trong chính đề tài yêu thích đó
của mình. Có được những thành công đó bản thân nhà văn đã khẳng định “Tôi cố
thủ trong pháo đài làng xã!” . Trong bài phỏng vấn của hai nhà báo Đinh Hằng –
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nam Hải, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho thấy quan niệm hết sức nhất quán của
bản thân về văn hóa làng xã, về cuộc sống nông thôn giống như những gì mà ông đã
thể hiện trong các sáng tác của mình. Ông quan niệm cần giữ gìn truyền thống văn
hóa làng như giữ gìn sự sống còn vận mạng của dân tộc “Văn hóa làng xã là một
pháo đài suốt nhiều nghìn năm của đất Việt. Sở dĩ quá trình đồng hóa của phương
Bắc thất bại vì vướng phải pháo đài này, cha ông ta giữ được độc lập hay không
cũng bởi sự bền vững hay suy vong của nền văn hóa ” [7, tr.8-9]. Nhà văn khẳng
định những phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng chính là cơ sở quan trọng để duy trì
truyền thống văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc “Ở những làng cổ giàu truyền thống
văn hiến, văn hóa, ta thấy rất rõ nhiều giá trị truyền thống được trưng cất lên bởi
các phong tục lễ nghi, thuần phong mỹ tục…Nếu không có tín ngưỡng cộng đồng,
- Gió thổi qua rừng (2007)
- Vui như hội (2009)
- Nguyễn Hữu Nhàn - Tác phẩm chọn lọc - Tuyển (2009)
* Công trình nghiên cứu về văn hóa:
- Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ - Giải B Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam
(phối hợp cùng Nguyễn Khắc Xương).
- Nghiên cứu mối liên hệ văn hóa Việt Mường - Giải C Hội Văn nghệ Dân
gian Việt Nam (phối hợp với Nguyễn Khắc Xương).
- Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ (phối hợp với Phạm Thị Nga).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, triển khai thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng phối
hợp đồng bộ những phương pháp sau:
4.1. Phương pháp thống kê - phân loại: Bằng phương pháp thống kê, phân
loại, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại về một số phương diện như hình
tượng nhân vật, hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ, giọng điệu… Tất cả các yếu tố đó biểu
hiện cụ thể trong từng tác phẩm ở mỗi giai đoạn, thời kì sáng tác. Từ đó tìm ra được
những đặc sắc riêng của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về đề tài nông thôn. Việc thống
kê, phân loại còn cung cấp những số liệu quan trọng, hỗ trợ cho việc rút ra những
kết luận, đồng thời là cơ sở để so sánh, đối chiếu.
4.2. Phương pháp so sánh - đối chiếu: Trong quá trình tiến hành nghiên cứu
những tác phẩm viết về đề tài nông thôn của Nguyễn Hữu Nhàn chúng tôi có đối
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sánh với các tác phẩm viết về đề tài nông thôn của các nhà văn khác cùng thời. Từ
đó giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng thể, rõ nét nhất và đi tới những nhận định
chung nhất về thành công và hạn chế của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về đề tài này.
4.3. Phương pháp phân tích: Chúng tôi tiến hành phân tích lần lượt từ bức
tranh hiện thực đến thế giới nhân vật ở cả bình diện nội dung và hình thức nghệ
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của
luận văn được triển khai thành ba chương:
Chƣơng I: Đề tài và đề tài nông thôn trong văn học.
Chƣơng II: Hiện thực nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn.
Chƣơng III: Nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn
Hữu Nhàn .
NỘI DUNG
CHƢƠNG I - ĐỀ TÀI VÀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC
1.1. Khái niệm đề tài
Đề tài là vấn đề lí luận có quan hệ mật thiết tới việc nghiên cứu và sáng tác
văn học, phản ánh tài năng, sở trường, phong cách và thế giới quan của nhà văn
trong việc phản ánh hiện thực. Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa,
miêu tả và thể hiện, tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng
thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm. Đề tài là
thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là vấn đề có ý nghĩa nền móng làm nên
tác phẩm văn học. Có thể nói, đề tài là khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực
được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thân đời sống.
Một đề tài thích hợp là khâu yếu thứ nhất của toàn bộ công việc xây dựng tác
phẩm thành một chỉnh thể thẩm mỹ. M.Gorki đã có định nghĩa rất xác đáng về đề
tài: Đề tài là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi ra.
Khái niệm đề tài cũng đã được đề cập đến trong nhiều sách lí luận văn học.
Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” đề tài là khái niệm “chỉ loại các hiện
tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [6, tr.110]. Cũng theo cuốn từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
về quan lại “mặt sắt đen sì”, về nông dân khởi nghĩa, về cuộc đời của các cô gái lầu
xanh , các đề tài đó gắn bó chặt chẽ với số phận bi thảm của nàng Kiều. Trong Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, bên cạnh đề tài về cuộc sống bi thảm của người nông dân còn
có các đề tài về cuộc sống của bọn quan lại tham lam, ích kỉ, về cuộc đời của các
em bé nghèo khổ Như vậy, đề tài có thể tồn tại ở nhiều cấp độ, thực chất đề tài là
một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả. Có bao nhiêu loại
hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài . Cho nên, có đề tài về người nông dân bị
lưu manh hóa (Chí Phèo – Nam Cao), có đề tài về người công nhân bị bần cùng hóa
(Lầm than – Lan Khai), có đề tài về cuộc sống bế tắc của người trí thức nghèo trước
cách mạng (Sống mòn – Nam Cao)… phản ánh các bình diện khác nhau trong cuộc
sống. Khi nói đến đề tài của một tác phẩm hoặc của văn học nói chung, thực chất
không phải chỉ nói một đề tài mà là cả một hệ thống đề tài liên quan nhau, bổ sung
cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm.
Phạm vi phản ánh của đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau ở biên
độ của nó. Đó có thể là một “giới hạn bề ngoài” hoặc “phương diện bên trong của
đề tài”. Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên hệ
bề ngoài hoặc theo mối liên hệ bên trong giữa chúng.
Theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm
có thể xác định các đề tài văn học như: đề tài thiên nhiên (Tràng giang – Huy Cận),
đề tài loài vật (Dế mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài), đề tài sản xuất (Cái sân gạch – Đào
Vũ), đề tài chiến đấu (Xung kích – Nguyễn Đình Thi)…Ở đây, các phạm trù xã hội,
lịch sử giữ vai trò quan trọng, vì thế người ta có thể xác định các đề tài như: đề tài
nông thôn, thành thị, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức…
Cũng có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm vi hiện
thực được phản ánh trong tác phẩm. Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu
tả trong tác phẩm. Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã hội – lịch sử xuất
hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay của một giới
nào đó. Ví như : đề tài số phận của người chinh phụ (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần
những đề tài ấy mà thôi. Khi vì một lí do nào đó, ông ta hướng ngòi bút ra ngoài
khu vực đề tài ấy, thì ông ta không còn sắc sảo nữa, tác phẩm trở nên nhạt nhẽo,
hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn, tài năng dường như rời bỏ ông ta…” [10,
tr.12-13].
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3. Đề tài nông nghiệp và nông thôn trong văn học và trong sáng tác của
Nguyễn Hữu Nhàn
1.3.1. Khái niệm nông nghiệp và nông thôn
Trong cuốn “Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt”, tác giả Nguyễn
Văn Đạm đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: “ Ngành kinh tế chuyên khai
thác môi trường tự nhiên để sinh sản những thực vật và động vật có ích cho con
người” [3, tr.614]. Theo “Từ điển tiếng Việt 2010”, nông nghiệp là “ngành sản
xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn
nuôi” [18, tr.952]. Như vậy, nông nghiệp là ngành kinh tế cơ bản của xã hội, sử
dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu
và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm. Nông nghiệp
chính là nền móng đầu tiên cho cuộc sống trên trái đất này, khi công nghiệp chưa
phát triển, nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều
nước. Nhà văn hóa Trần Quốc Vượng đã nói: “Nông nghiệp, là khởi đầu của văn
minh nhân loại”. Ở Việt Nam, mẫu số chung lớn nhất của văn minh – văn hóa
truyền thống là nền tảng nông nghiệp đa canh xoay quanh trục trung tâm nghề nông
trồng lúa. Cho đến nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp và nông nghiệp vẫn là
ngành kinh tế quan trọng. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2009, giá trị
sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994),
tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước. Đóng
góp của nông nghiệp vào tạo việc làm là rất lớn. Trong năm 2005, có khoảng 60%
lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản.
mình được bao bọc bởi luỹ tre làng bảo vệ, trong quan hệ ứng xử giữa con người
với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọng tình (duy tình). Hàng
xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môi trường thuận lợi để người nông dân
tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: “Hàng xóm tối
lửa tắt đèn có nhau”; “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; “Một bồ cái lý không
bằng một tí cái tình”; “Bán anh em xa mua láng giềng gần”; “Một giọt máu đào
hơn ao nước lã”; “Ta về ta tắm ao ta-Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”; …Khi
nhắc tới tình trạng sản xuất nông nghiệp người ta thường nghĩ đến những kinh
nghiệm được tích lũy trong lao động sản xuất. Người nông dân làm nghề nông. Bởi
trình độ và công cụ sản xuất còn thấp và lạc hậu nên trong sản xuất, người nông dân
phụ thuộc nhiều vào hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa… Do đó, họ
rất tôn trọng, hòa thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó. Chính hoàn cảnh sống
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
như thế giúp người Việt đã tích luỹ được những kinh nghiệm hết sức phong phú
trong sản xuất. Đó là hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm chủ
quan, cảm tính. Để gieo cấy thành công, đúng thời vụ và bội thu người nông dân
phải quan sát tỉ mỉ các hiện tượng tự nhiên trong một quá trình nhất định, ghi nhớ
các kỹ thuật canh tác để rút thành cẩm nang kinh nghiệm sản xuất cho bao thế hệ.
Muốn gieo trồng, cày bừa không phải cứ tùy tiện thích trồng lúc nào là trồng. Mà
phải dựa vào các điều kiện thuân lợi của tự nhiên: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Hễ
nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”; “Phân tro không bằng no nước”; “Tỏ trăng mười
bốn được tằm, Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”; “Mồng chín tháng chín có
mưa, Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn. Mồng chín tháng chín không mưa, Thì con
bán cả cày bừa đi buôn”. Dựa vào tự nhiên, tuân thủ theo nguyên tắc “mùa nào
thức nấy” đã ăn sâu trong suy nghĩ, kinh nghiệm lao động “Tháng giêng là tháng
ăn chơi. Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. Tháng ba thì đậu đã già, Ta đi
ta hái về nhà phơi khô. Tháng tư đi tậu trâu bò, Để ta sắm sửa làm mùa tháng
năm ”; “Nhờ trời mưa gió thuận hoà. Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau. Chim,
thân từ nông thôn. Do đó, văn học dù viết về chốn đồng quê hay thành thị đều ít
nhiều mang dấu ấn cảm thức về nông thôn.
Văn học dân gian ngay từ đầu đã phản ánh được tiếng nói ngợi ca cuộc sống
nông nghiệp của nhân dân ta, đề tài nông thôn biểu hiện qua cuộc sống lao động của
người nông dân đã trở thành đề tài chủ đạo trong các bài ca dao, dân ca:
- “ Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
- “Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.
- “ Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu ”.
Đến văn học trung đại đề tài nông thôn tập trung thể hiện cuộc sống thanh
nhàn, thú điền viên, ẩn dật nơi thôn quê qua những tác phẩm của một số tác giả như
Nguyễn Bỉnh Khiêm :
“ Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.
[26, tr.296-297]
Nguyễn Trãi:
“ Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan xen vãi đậu kê
Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng
Chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về ”
[26, tr.242]
Đến thơ của Nguyễn Khuyến diện mạo nông thôn qua cảnh sống lam lũ của
người nông dân cũng như cảnh sắc thiên nhiên làng quê được miêu tả có phần khác
ra đời với cái nhìn mới mẻ, dân chủ, khách quan, toàn diện hơn. Đặc biệt, trong
khoảng mười năm trở lại đây, mảng đề tài nông thôn rất được các nhà văn quan tâm
với nhiều vấn đề mang tính thời sự đặt ra trước tình hình phát triển chung của xã hội
trong bối cảnh thời đại mới.
1.3.3. Đề tài nông nghiệp, nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn sinh ngày 11 tháng 12 năm 1938. Ông quê ở xã
Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Cuộc đời ông trải qua nhiều biến cố đổi
thay. Nguyễn Hữu Nhàn học hết cấp hai năm 1958. Ông nói ngày ấy có bằng cấp
hai (học hết lớp 7 hệ 10 năm) đã là hiếm và tấm bằng có giá trị xin việc đi thoát li
rồi. Thành phố Việt Trì hồi cuối thập niên 50 thế kỷ trước là một trong hai khu công
nghiệp lớn của miền Bắc. Thanh niên Hà Nội cùng trai gái vùng châu thổ sông
Hồng nô nức ngược miền sơn cước đến Việt Trì xây dựng công trường, nhà máy,
tạo dựng cuộc đời mới. Nguyễn Hữu Nhàn nhập hội cùng đội ngũ xung kích tuổi
thanh xuân đang phơi phới ấy. Ông rời rừng cọ, đồi chè quê nhà xuống miền đô hội
học lớp kế toán tài vụ. Và vì học giỏi nên được giữ lại Bộ Giao thông xung vào đội
quân thi công cơ giới lưu động. Nhưng Nguyễn Hữu Nhàn nằng nặc đòi về công ty
đường sông ngày ấy đóng ở Việt Trì, Phú Thọ quê hương ông. Từ đó đến nay ông
chung thủy với mảnh đất Việt Trì và giờ ông đang sống tại thôn Quế Trạo, xã Dữu
Lâu, thành phố Việt Trì.
Nguyễn Hữu Nhàn ngay từ thủa nhỏ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã say
mê đọc các tác phẩm như “Thời thơ ấu” của nhà văn Gorki, “Những ngày thơ ấu”
của Nguyên Hồng và nuôi mộng ước trở thành nhà văn. Rồi cái mộng ước ấy ngày
càng thôi thúc, lớn dần trong ông khi ông tiếp xúc với những tác phẩm của các nhà
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
văn hiện thực viết về nông thôn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao
nhưng nó thật sự có điều kiện được phát lộ kể từ ngày Nguyễn Hữu Nhàn theo học
khóa III trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ – Hội Nhà văn Việt Nam, năm
1968. Sau ngày ra trường, Nguyễn Hữu Nhàn về nhận công tác ở Phòng Xuất bản
người quê. CHƢƠNG II - HIỆN THỰC NÔNG THÔN
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN
Có thể tạm chia sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn làm hai thời kì: Từ năm 1986
trở về trước và sau năm 1986 đến nay, hay nói cách khác, thời kì trước Nghị quyết
X - đó là thời kì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cuộc sống lao động sản xuất
nông nghiệp của người nông dân tập trung theo mô hình những hợp tác xã và thời kì
sau 1986 - đó là thời kì đổi mới với năm thành phần kinh tế trong đó kinh tế tư nhân
được khuyến khích phát triển và cơ chế thị trường ảnh hưởng sâu rộng, tác động sâu
sắc đến đời sống của nông thôn Việt Nam. Toàn bộ phần nội dung thuộc chương
hai, luận văn sẽ đi sâu vào làm sáng tỏ bức tranh hiện thực về nông thôn vùng trung
du miền núi Bắc Bộ qua hai thời kì nêu ở trên và qua những tác phẩm cụ thể của
nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn.
2.1. Nét đặc trƣng của nông thôn trung du miền núi Bắc bộ trong sáng tác
của Nguyễn Hữu Nhàn
Không gian đặc trưng của làng quê Việt Nam luôn gắn với những hình ảnh
quen thuộc như dòng sông, cánh đồng, mái đình, cây đa, ao làng… tất cả đều gợi
lên cảm giác thanh bình, yên tĩnh, thậm chí hoang sơ, hiu hắt. Không gian ấy vừa
tĩnh lặng vừa mang vẻ đẹp bình dị, tinh tế của hồn quê. Không gian làng quê trong
tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn ở thời kỳ trước và sau đổi mới vừa có
những nét chung vốn có của làng quê Việt Nam vừa mang đậm nét đặc trưng riêng
của cảnh sắc làng quê vùng trung du đồi núi Bắc Bộ. Làng quê của tác giả không
đông đúc, nhà cửa san sát, bằng phẳng, nhiều ao hồ như những làng quê vùng đồng
bằng chiêm trũng, mà nó thưa thớt, hoang sơ, lại là vùng “bán sơn địa” nên cảnh
sắc làng quê luôn gắn liền với hình ảnh đồi núi gập ghềnh “những chòm, những
xóm, những căn nhà ngự trên những quả đồi, dựa trên những sườn đồi, len lách
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
rực rỡ, rộn ràng với rất nhiều âm thanh của nhiều loài chim đua nhau hót, nào là
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
khướu, họa mi,…và hình ảnh những rừng cây sặt cũng chính là một phần hồn của
làng quê trung du Phú Thọ “Tiếng chim hót vang lên trong đồi sặt gần chân núi.
Bầy khướu, họa mi vừa hót vừa bay nhảy trên những lùm sặt. Một con quạ ở đâu đó
kêu những tiếng trầm và nặng đè lên những tiếng trong trẻo ríu rít của bầy chim
kia” [11, tr.363].
Thiên nhiên nơi vùng quê trung du bao giờ cũng vậy, luôn luôn khắc nghiệt
hơn vùng đồng bằng. Rét cũng đậm hơn vì có nhiều núi đá vôi, mà nắng thì cũng
gắt hơn vì nhiều đồi núi, đất đai cằn đá sỏi. Vùng quê trong tác phẩm của Nguyễn
Hữu Nhàn đúng là vùng đất như dân gian thường nói “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Cái
nắng chói chang, cháy da, cháy thịt được tác giả nói đến qua nhiều tác phẩm, và
phải chăng đó cũng là ấn tượng để tác giả dùng đặt tên cho các tác phẩm như “dốc
nắng, chớm nắng”. Đây là cái nắng gắt của một buổi trưa hè chụp lên cái làng đồi
nghèo đói “ Từng chòm xóm, từng đồi hoang, rừng cây, vạt ruộng…bị phơi bày
dưới nắng hè chan chan. Con đường làng dãi nắng đỏ bừng như bôi mực” [11,
tr.5], “Nắng chang chang ngoài sân. Lượt sỏi trên mặt sân như bị nắng rang cháy,
tím bầm vào” [11, tr.42], cảnh sắc thiên nhiên buổi trưa của làng quê vùng trung du
thật không lẫn vào đâu được “Càng về trưa trời càng nắng gắt. Nắng táp xuống sân
gạch. Cái sân như đang cháy ngùn ngụt – một đám cháy không có ngọn nhưng hơi
lửa bốc lên thành những vòng sáng nhòe nhoẹt xoắn xuýt lấy tầm mắt, nhìn chói
chang hơn nhiều so với những đám lửa thực. Nắng làm cho những cành cây ngọn lá
mềm rũ, tái nhợt. Màu cây huyết rụ, cạnh bể nước xám đi. Những cây đinh lăng ở
mép sân đều vàng hết lá.” [11, tr.58]. Đọc những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn
ở thời kỳ trước đổi mới có lẽ cái ấn tượng với người đọc nhiều nhất chính là cảnh
nắng chói chang của buổi trưa hè “Nắng vàng hai mắt cô. Cô chợt thấy làng mình
đang héo lả trong cái nắng hè chang chang: Những tàu cọ xém nắng đen đi một
góc; mấy tàu lá chuối hiếm hoi đã úa vàng; những cành tre rũ ra đường đều quăn