BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
o0o
ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
22
101
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đồng tính không chỉ là mối quan tâm của y học, sinh học, điện ảnh
mà còn thu hút sự chú ý của văn học. Trên thế giới, văn học viết về đồng tính
không còn mới mẻ, xa lạ bởi có nhiều tác phẩm ra đời đã làm say mê độc giả
như tiểu thuyết Annie on my mind (Annie trong trái tim tôi) của nữ văn sĩ
người Mĩ Nacy Garden ra mắt bạn đọc vào tháng 7/1982, tiểu thuyết Rain
Bow High (Cầu vồng ở trên cao) của Alex Sancher – nhà văn Mĩ gốc Mexico;
nhà văn Ronald Donaghe (người Mexico) với tiểu thuyết Common sons
(Những chàng trai vùng thị trấn Common) Còn ở Việt Nam, đồng tính là
một vấn đề nhạy cảm, mới nổi lên và thu hút sự chú ý của dư luận. Trong quá
khứ, vì nhiều nguyên nhân xã hội khác nhau như đất nước có chiến tranh, khó
khăn về kinh tế, quan niệm khắt khe về chuẩn mực đạo đức nên rất nhiều
người đồng tính không dám công khai thân phận thật của mình. Đồng thời, có
ít sáng tác về đề tài này mà có sáng tác thì người đọc ít có cơ hội được biết
đến. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế, sự giao lưu với văn
hóa phương Tây, những cuộc đấu tranh về quyền con người, về bình đẳng giới
và đặc biệt là nhận thức của con người ngày càng được nâng cao thì cuộc
sống của người đồng tính và văn học viết về đề tài đồng tính đã được đề cập
đến khá nhiều. Trên thực tế, nhiều website dành riêng cho người đồng tính đã
người” qua cấu trúc ngôn từ động của nó. Nhà văn Nguyễn Quang Thân cho
rằng: “Nếu cả nền văn học là một hơi thở thổi suốt từ quá khứ đến tương lai
thì tiểu thuyết là dòng cảm xúc chủ đạo, mãnh liệt nhất, liên tục nhất của hơi
thở ấy”. Tiểu thuyết đòi hỏi sự dũng cảm, tài năng, vốn sống và độ tập trung
cao đối với người cầm bút. Các nhà văn, chủ thể của sáng tạo nghệ thuật đã
55
tìm đến với thể loại này để khẳng định tài năng, để khám phá đời sống. Do
vậy, tiểu thuyết là một sự nỗ lực tìm kiếm, sáng tạo của những người đam mê
sáng tác văn chương. Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể
loại, tiểu thuyết sau năm 1986, vượt qua khung cấu trúc thể loại, đã đa dạng
hoá các kiểu hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt khác nhau
trong con người, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con
người. Điều này khiến tiểu thuyết khẳng định được ưu thế vượt trội hơn cả so
với thơ, truyện ngắn, tự truyện.
Hiện nay, văn chương đã không còn là “vườn cấm”, không còn là “địa
hạt” chỉ dành cho những đề tài thanh cao, tao nhã mà văn chương đã dung nạp
trong nó những gì là mảng tối, góc khuất trong cuộc sống cũng như trong tâm
hồn con người. Nói theo một cách khác, cuộc sống muôn màu muôn vẻ đã có
văn chương để kí thác. Các nhà văn đã tìm đến đề tài đồng tính hay đề tài
đồng tính đã tìm đến với văn chương? Có lẽ cả hai đã tìm đến với nhau và tìm
đến với tiểu thuyết thì nó “đã hơn, đời hơn”.
1.3. Đồng tính vốn được xem là một dị biệt văn hoá, dị biệt về tình dục,
dị biệt về đạo đức. Thế giới đồng tính đã hé mở với chúng ta gần như một
“cái khác”. Trước cái khác đó, có người nhìn với cặp mắt khó chịu, khinh bỉ;
có người ngờ vực, hoài nghi; có người tò mò, hiếu kì nhưng cũng có nhiều
người nhìn với thái độ cảm thông, chia sẻ Đối với các nhà văn, họ quan tâm
đến đề tài nhạy cảm này không chỉ để biết, để hiểu mà còn để khơi gợi nhiều
giá trị nhân văn ở người đọc. Đối với chúng tôi, đề tài đồng tính trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại là một đề tài hay, hấp dẫn, mang tính thời sự và
còn nhiều khoảng trống để tìm tòi và nghiên cứu.
77
làm nên một dòng văn học đồng tính. Những tác phẩm viết đồng tính đúng là
“trăm hoa đua nở” như một nhu cầu bộc lộ bản thân của người đồng tính lẫn
sự “yêu thích” đề tài này của nhà văn. Chỉ mong đó không phải là sự đánh
bóng bản thân, câu khách rẻ tiền”. Như vậy ở Việt Nam vẫn chưa hình thành
khái niệm dòng văn học đồng tính trong văn chương.
Bài viết của Nguyễn Thành Tâm in trên báo Văn nghệ trẻ và được đăng
lại trên phongdiep.net lại đề cập đến một vấn đề khác. Đó là những phức cảm
trong tiếp nhận văn học viết về đề tài đồng tính luyến ái. Để chứng minh cho
tính phức tạp trong tiếp nhận, Thành Tâm đưa ra ba kiểu tiếp nhận hiện nay.
Bộ phận chiếm đa số là những người mang tư tưởng luân lí, đạo đức truyền
thống. Họ có thể không đếm xỉa đến văn học đồng tính luyến ái hoặc phê
phán, tẩy chay một cách quyết liệt. Một bộ phận khác thì tỏ ra tò mò, hiếu kì.
Họ đến với tác phẩm này như một trải nghiệm để tìm kiếm bổ sung cái lạ, cái
hiếm trong thực đơn tinh thần của họ. Chỉ có bộ phận rất ít độc giả đã tìm
được sự đồng cảm trong tâm hồn mình.
Bài viết của Nhật Bình- sinh viên Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh cũng chung câu hỏi: Có hay không dòng văn học
đồng tính ở Việt Nam? Tác giả bài viết đã đi từ văn học dân gian đến văn học
hiện đại, từ trường hợp của nhân vật Thị Kính trong vở chèo cổ Quan Âm Thị
Kính, đến trường hợp của hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận. Người viết đã
đi vào phân tích và chỉ ra những biểu hiện của đồng tính trong một số tác
phẩm của hai nhà thơ này. Đến văn học đương đại, bùng nổ một số tác phẩm
của một số nhà văn như Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Keng, Trần Thuỳ
Mai… Cuối bài viết, tác giả cũng đưa ra khẳng định: “Ở đây, theo quan điểm
người viết, nền văn học chúng ta chưa có dòng văn học này, nó chỉ là một
hiện tượng mà thôi, dẫu biết rằng đã có nhiều tác phẩm viết về đề tài này”
Tác giả Huyền Minh có bài “Văn học đồng tính Việt Nam-hiện hữu
88
như một tình thế hiển nhiên”. Tác giả đã nêu ra năm giả thuyết về hiện
Tác giả Nguyễn Quốc Vinh (Đại học Harvard) là một người có nhiều bài
nghiên cứu về văn học đồng tính trong đó nổi bật có thể kể đến tham luận
“Sự mập mờ văn hóa trong các biểu thị về đồng tính luyến ái tại Việt Nam
đương đại: Thử đọc tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn theo chủ nghĩa Lịch sử
Mới” được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Tiếp cận văn học châu Á qua lý
thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội” tổ
chức ngày14 & 15/3/2011 do Viện Văn học tổ chức. Đây là bài viết công phu,
có cách tiếp cận lí giải mới mẻ về hiện tượng đồng tính trong văn học Việt
Nam. Nhưng tác giả bài viết chỉ tập trung đề cập đến những kẻ lạc loài từ
truyện ngắn Xuân Diệu đến tiểu thuyết Bùi Anh Tấn chứ chưa đề cập đến các
tác giả khác cùng viết về đề tài đồng tính. Đồng thời ông cũng chưa nói đến
khía cạnh khác trong các sáng tác của Bùi Anh Tấn.
Các cuốn tiểu thuyết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn đã thu hút sự
chú ý của nhiều nhà nghiên cứu cũng như những người quan tâm đến văn
chương. Nhà báo Nguyễn Vịnh có bài Nhà văn trẻ Bùi Anh Tấn cầm bút đã
là sự phiêu lưu đăng trên Tạp chí Đẹp, số 6, 2003 có viết: “Bùi Anh Tấn đã
bình thản đặt những bước đi của mình vào ngôi đền văn học, giành lại cho
mình một chút dư vang. Ở người đàn ông này có một cái gì đócứ âm thầm da
diết chảy, một cái gì đó-dù rất nhỏ nhoi nhưng sâu khuất các ý niệm- đang cọ
cựa”. Khi tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà xuất hiện, tác giả Ngô Thị
Kim Cúc có bài Khoảng trống khó gọi tên đăng trên báo Thanh niên. Bài viết
đã khẳng định: “Trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, Bùi Anh Tấn đã
phơi bày một thực tế đang có mặt bên cạnh cuộc sống của đa số công chúng:
cuộc sống của những người sinh ra đã bị đồng tính luyến ái. Đề tài quá lạ
trong văn học Việt Nam và hoàn toàn không dễ viết, chỉ cần non tay một chút
1010
sẽ thành bất cập, còn lơi tay một chút sẽ thành thái quá”.
Khi tiểu thuyết Les – vòng tay không đàn ông ra mắt bạn đọc, Nhà xuất
bản trẻ đã giới thiệu: “Có lẽ ngay từ đề tài mà tác giả chọn đã có vẻ đặc biệt
và khá mới so với những nhà văn đương thời. Đọc những trang sách của anh,
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về Đề tài đồng tính trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
chúng tôi hi vọng sẽ khám phá được những nét đặc sắc về nội dung cũng như
về nghệ thuật của những tiểu thuyết viết về những con người thuộc giới tính
thứ ba.
Tìm đến với tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết về đề tài đồng tính
cũng là cách giúp chúng tôi tìm hiểu suy nghĩ, thái độ cũng như đóng góp của
các nhà văn đối với đề tài nhạy cảm này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Đề tài đồng tính trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đối
tượng nghiên cứu là các tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết về đề tài đồng tính
(được tính từ sau 1986 đến nay). Tuy vậy, do khuôn khổ của luận văn, chúng
tôi chỉ tập trung tiến hành khảo sát những tiểu thuyết gây được nhiều sự chú ý
của giới nghiên cứu cũng như những người yêu thích văn chương. Một số tiểu
thuyết mà chúng tôi tiến hành khảo sát là:
Bùi Anh Tấn (1999), Một thế giới không có đàn bà, tái bản lần 1, NXB
Công an nhân dân.
Bùi Anh Tấn (2005), Les-vòng tay không đàn ông, NXB Trẻ.
Bùi Anh Tấn (2005), Phương pháp của A.C.Kinsey, NXB Trẻ.
Bùi Anh Tấn (2012), Bí mật hậu cung, NXB Hội nhà văn.
Bùi Anh Tấn (2014), Thám tử yêu, NXB Hội Nhà văn.
Vũ Đình Giang (2007), Song song, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.
Thủy Anna (2008), Lạc giới, NXB Văn học.
1212
Nguyễn Ngọc Tư (2013), Sông, NXB Trẻ.
Nguyễn Quỳnh Trang (2008), 1981, NXB Văn học.
v.v
Trong quá trình triển khai luận văn chúng tôi có so sánh với các truyện
ngắn và tự truyện của các nhà văn khác cùng viết về đề tài này.
5. Phương pháp nghiên cứu
nghệ thuật tiêu biểu
1414
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
GIỚI THUYẾT VỀ ĐỒNG TÍNH VÀ ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1. Giới thuyết về đồng tính luyến ái
Giới tính là một trong những vấn đề cốt tủy của bản thể con người. Một
định mệnh tưởng như vững chắc nhất là chúng ta luôn thuộc về một trong hai
giới (Nam hoặc Nữ). Không ai nghĩ rằng còn có những biểu hiện khác của
giới tính. Mà một trong những biểu hiện khác đó là đồng tính luyến ái.
1.1.1. Khái niệm đồng tính luyến ái
“Đồng tính luyến ái” (homosexuality) hay “đồng tính” là một thuật ngữ
dùng phổ biến ở phương Tây thế kỉ XX chỉ hiện tượng tình dục đồng giới.
Trong Mẹ ơi, con đồng tính, tác giả Nguyễn Ngọc Thạch và Võ Chí
Dũng đã định nghĩa: “Đồng tính luyến ái là một trong bốn thiên hướng tính
dục lớn của con người, bao gồm đồng tính, dị tính, lưỡng tính và vô tính.
Trong đó, hiểu đơn giản, đồng tính luyến ái là những người nam giới, nữ giới
đã trưởng thành có thiên hướng quan hệ tình cảm, tình dục với người có cùng
giới tính với mình. Nếu là nam với nam thì gọi là “gay”, nữ với nữ gọi là
“lesbian”, gọi tắt là les. Họ được coi là “thiểu số tình dục”.
Bên cạnh những cách gọi khoa học như trên thì còn có một cách gọi khác
bình dân hơn như “pêđê” là tên gọi của đồng tính nam, còn “ômôi” là cách gọi
khác của đồng tính nữ. Các từ “đồng tính luyến ái”, “gay”, “les” là cách gọi khoa
học mang tính trung lập, còn “pê đê”, “bóng lộ”, “hifi”, “xăng pha nhớt”, “lại
cái” mang tính xúc phạm ít hoặc nhiều. Cụm từ “giới tính thứ ba” mặc dù
không mang tính xúc phạm và được dùng phổ biến bởi người dân và báo chí
1515
nhưng nó không có định nghĩa rõ ràng và thường chỉ cộng đồng người đồng tính
và người chuyển giới một cách chung chung, không phân biệt.
một bệnh rối loạn tâm thần hay một tệ nạn xã hội cần phải loại bỏ. Do đó, họ
đã đưa ra cơ sở khoa học dẫn đến hiện tượng tình dục đồng giới.
Theo quan điểm sinh học: Hành vi tính dục đồng giới không phải là hiện
tượng duy nhất chỉ có ở con người. Theo thống kê của các nhà sinh học, trên
thế giới có tổng cộng 450 loài có thói quen quan hệ tình dục đồng giới. Geoff
McFarlanc – nhà sinh vật học thuộc trường ĐH Newcastle (Anh) nhận thấy
hành vi tình dục đồng giới ở loài linh trưởng phổ biến hơn các loài động vật
có vú khác. Về hành vi tình dục đồng giới ở người những nghiên cứu về di
truyền học khẳng định rằng nguyên nhân của đồng tính luyến ái bắt nguồn từ
những xung đột về gen. Một trong những nghiên cứu quan trọng thường được
viện dẫn là công trình khảo cứu của GS John Michael Bailey thuộc ĐH
Northwestern, Chicago vào thập niên 1990. GS Bailey đã khảo sát 110 cặp
song sinh đồng trứng và đồng phái đã được tách rời từ sơ sinh, nuôi riêng biệt
trong môi trường khác nhau. Kết quả tìm ra là trong các cặp song sinh này có
một người đồng tính thì khả năng người kia đồng tính là 52%. So với các cặp
song sinh khác trứng khả năng này chỉ là 22%. Đối với anh chị em đồng phái
không song sinh, khả năng này giảm xuống còn 11%. Điều này nói lên ý
nghĩa di truyền trong việc hình thành tính dục cá nhân.
Bác sĩ Simon Le Vay, khoa thần kinh viện Salk (1991) đã công bố nghiên
cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi trong số họ có 16
người đồng tính. Bác sĩ đã phát hiện ra rằng những người đồng tính luyến ái
có thành phần INAH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển
tính dục ở động vật có vú) nhỏ hơn hai lần so với người bình thường khác.
Năm 1993 một nhóm nghiên cứu y học do Dean Harner đứng đầu đã tìm ra
1717
mối liên hệ giữa gen và chứng đồng tính luyến ái. Họ tìm thấy một điểm đặc
biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể được truyền từ mẹ sang con và thường
gặp ở những người đồng tính luyến ái.
Các nhà khoa học cũng đã chỉ ra rằng: bất kì tế bào nào của cơ thể loài
người đều có 22 cặp nhiễm sắc thể thường và một cặc nhiễm sắc thể giới tính.
Ở phương Tây, tác phẩm được coi là đầu tiên viết về đồng tính là Lịch
sử có thật (True History) của nhà văn Hi Lạp Lucian (120 – 185). Tác phẩm
kể về một nam nhân vật chính bị cơn bão cuốn lên mặt trăng và chứng kiến
cuộc đấu tranh giữa cư dân mặt trăng và cư dân mặt trời. Nhân vật này sau
những chiến công trên chiến trường đã được vua mặt trăng chọn làm con rể
bằng cách cho lấy con trai nhà vua. Bên cạnh đó tác phẩm Carmilla của
Sheridan le Fanu lại là tác phẩm đầu tiên đề cập đến đồng tính nữ, thể hiện ở
hình tượng người con gái bị biến thành Ma cà rồng và có hành vi sex với người
đồng giới. Tiểu thuyết Bức tranh của Dorian Gray của nhà văn danh tiếng
Oscan Wilde đã khiến độc giả đương thời shok nặng với cảnh quan hệ đồng
tính dày đặc.
Ở phương Đông, người ta biết nhiều đến các tác phẩm đồng tính nổi
tiếng của Trung Quốc xưa như Liêu trai chí dị, Kim bình mai, Hồng lâu
mộng, Đông cung, Tây cung cũng như các tác phẩm nổi tiếng cuối thập
niên 90 của thế kỉ XX như Ngói vỡ, Giường rẻ quạt hoa hồng hay Ngày
tháng si mê
Ở Việt Nam ngày nay, đồng tính là một đề tài không quá lạ đối với
những người quan tâm đến văn học. Họ coi “đề tài đồng tính bình đẳng với
các đề tài khác” (Nguyễn Quỳnh Trang) và cho rằng “Đề tài đồng tính ngày
nay đã trở nên bình thường và phổ biến đến mức nếu ai nghĩ rằng viết về nó
1919
để gợi tò mò, hẳn sẽ cho ra hậu quả sai lệch” (Vũ Đình Giang). Chính vì vậy,
đã xuất hiện rất nhiều các tác phẩm văn học đề cập đến đề tài “nhạy cảm” này.
Để hiểu đầy đủ hơn, chúng ta phải có cái nhìn toàn diện về xu hướng văn học
này trong ngọn nguồn văn học dân tộc.
1.2.1. Vấn đề đồng tính trong văn học Việt Nam trước năm 1986
Ở Việt Nam, các nhà văn đề cập đến vấn đề đồng tính muộn hơn so với
các nước khác trên thế giới. Xa xưa, nói đến đồng tính phần nhiều người cho
là dung tục, tầm thường bởi đó là điều cấm kị trong văn chương. Có điều đó
phải chăng là do quan niệm của thời đại. Do giai cấp phong kiến Việt Nam có
dưới thời Pháp thuộc phải chịu khổ sở vì dục cảm đồng tính ngày càng tăng,
khiến cậu ta tìm đến một chàng trai bảnh bao lực lưỡng đang ở trọ học trong
nhà ông bà phủ. Ấm ức vì gia đình cứ cố nuôi dạy cậu ta làm con trai, trái
với bản năng nữ tính không đè nén nổi của mình, Chiêu ngấm ngầm hành xử
theo dục cảm bản năng của mình như là gái trong khi vẫn tiếp tục lợi dụng
cung cách xã giao với người cùng phái để kết thân với đối tượng dục cảm
của mình. Tuy nhiên cậu cũng biết đó là điều vô vọng trước sự cạnh tranh
ráo riết của người chị họ và càng ý thức rõ rệt hơn về sự tật nguyền sinh lí
của mình. Tiến thoái lưỡng nan, bế tắc cả về tình dục lẫn xã giao, Chiêu
quyết định bỏ nhà đi vào chiến khu, theo cách mạng với hy vọng có thể
chuyển vị và giải tỏa dục cảm giới tính bị ức chế của mình theo một lối thoát
tích cực hơn. Nhưng cuối cùng thì Chiêu đã không thế làm được điều này.
Kết cục của nhân vật bất hạnh này là cái chết mất tích.
Như vậy, nhìn chung các tác phẩm viết về vấn đề đồng tính giai đoạn này
còn khá dè dặt. Do điều kiện lịch sử nên văn học chưa thể quan tâm nhiều
đến số phận cá nhân, đến đời sống tâm hồn của con người. Hơn nữa, quan
niệm của thời đại đã “trói buộc” các cây bút khiến họ chưa mạnh dạn đề cập
đến một vấn đề vốn được coi là cấm kị trong văn chương.
2121
1.2.2. Đề tài đồng tính trong văn học Việt Nam sau năm 1986
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thổi một luồng không khí mới,
thúc đẩy các nhà văn chiêm nghiệm, khám phá những bí ẩn, góc khuất, dị
biệt của con người. Từ đây đời sống và nhận thức của con người có nhiều
tiến bộ và cởi mở. Thế giới không còn khép kín, nghĩa là không gian viết
được nới rộng. Điều này đã hậu thuẫn cho các nhà văn đi tìm những miền
đất mới. Trong nguồn mạch ấy, văn học viết về đề tài đồng tính xuất hiện
như một nhu cầu tự thân.
Đề cập đến vấn đề đồng tính trong giai đoạn này, chúng ta phải kể đến
tác phẩm đầu tiên là cuốn hồi kí Cát bụi chân ai của Tô Hoài. Nhà văn đã
không ngần ngại khi viết về tình dục đồng giới của Xuân Diệu: “Giọt gianh
dừng ở mảng sáng mà quên đi những mảng tối của cuộc sống con người thì
văn học sẽ mãi chỉ là dòng sông không bao giờ bồi đắp được phù sa. Chính
vì vậy mà chúng ta thấy trong khoảng hơn 10 năm lại đây xuất hiện hàng
loạt những tác phẩm viết về đề tài đồng tính như: Một thế giới không có
đàn bà, Les–Vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A.C.Kinsey, Bí
mật hậu cung, Thám tử yêu (Bùi Anh Tấn,) Chuyện tình của Lesbian và
Gay; Xin lỗi em, anh đã yêu anh ấy (Nguyễn Thơ Sinh), Song song (Vũ
Đình Giang), Tôi là Les (Dị bản, Keng), Bóng - Tự truyện của Nguyễn Văn
Dũng (Hoàng Nguyên – Đoan Trang chấp bút), Không lạc loài - Tự truyện
Thành Trung (Lê Anh Hoài ghi), Lạc giới (Thủy Anna), Sông (Nguyễn
Ngọc Tư), Nháp (Nguyễn Đình Tú), Vân Vy (Thuận), 1981 (Nguyễn
Quỳnh Trang)… Những tác phẩm này đã tạo ra những cơn sóng trong dòng
chảy của văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI và đã nhận được sự
phản hồi đa chiều từ cộng đồng tiếp nhận.
2323
Trong số các tác giả viết về đề tài đồng tính thì Bùi Anh Tấn là người có
công mở đường làm cho đời sống văn học trở nên sôi động. Điều đó thể hiện
ở sự nhạy cảm của nhà văn trước vấn đề “nóng” của xã hội. Tác phẩm của
anh viết về đồng tính sau khi xuất bản đã nhận được sự chú ý của đông đảo
bạn đọc và giới phê bình. Các tiểu thuyết về đồng tính của anh được nhắc đến
và đánh giá cao trong bài viết của Hồ Điệp trên Phongdiep.net:
“
Bằng việc
trình làng một loạt các tác phẩm viết về đề tài đồng tính, Bùi Anh Tấn được
coi như đã bước đầu ‘khai thông’ đề tài khá nhạy cảm này”. Cuốn sách đầu
tiên viết về đề tài này là Một thế giới không đàn bà . Vài năm sau nó đã nhận
được giải A trong một cuộc thi do Hội nhà văn Việt Nam kết hợp với Bộ công
an tổ chức. Thời điểm mà cuốn sách ra đời thì chuyện về những người đồng
tính vẫn còn được nói đến rất ít. “Người ta có thái độ nghi kỵ, cấm đoán với
những câu chuyện mà người ta không hiểu nổi và không có bất cứ thông tin
phẩm nào dám đề cập đến một cách thẳng thắn. Qua tác phẩm, “tác giả đã lột
tả được tính cách, nỗi đau, số phận của những anh hùng võ nghệ vô song. Dù
có ở đỉnh cao, vẫn cần sự chia sẻ và đồng cảm” (Trích Lời giới thiệu của Nhà
xuất bản Hội Nhà văn và Phương Nam Book, Bí mật hậu cung).
Bên cạnh tiểu thuyết, Bùi Anh Tấn còn có tập truyện ngắn Cô đơn cũng
đề cập đến những người thuộc giới tính thứ ba. Với tập truyện này, một lần
nữa, Bùi Anh Tấn cho người đọc thấy được thế giới tâm hồn phong phú của
những người đồng tính, những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính
luyến ái. Dù có những giả định mang tính chủ quan nhưng với giọng văn chân
thành, tự nhiên, giàu cảm xúc, tác phẩm đã để lại những ấn tượng khó quên
trong lòng độc giả.
Như vậy, có thể nói, Bùi Anh Tấn là nhà văn Việt Nam đầu tiên đề cập
đến đề tài đồng tính và gặt hái được nhiều thành công. Đây là sự gợi hướng,
2525