Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ PHƯƠNG NGA ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975 - 1985
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

7
2. Lịch sử vấn đề
9
3.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
15
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
15
3.2. Phạm vi nghiên cứu
15
4.Nhiệm vụ và đóng góp mới của luận văn
16
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
16
4.2.Đóng góp mới của luận văn
16
5.Phƣơng pháp nghiên cứu
16
6. Kết cấu của luận văn
17
CHƢƠNG 1 : DIỆN MẠO VÀ CÁC KHUYNH HƢỚNG CỦA TIỂU
THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH GIAI ĐOẠN 1975 – 1985

18
1.1. Nhìn lại chặng đƣờng của tiểu thuyết những năm chống Mĩ cứu
nƣớc

18
1.1.1 Sự mở rộng dung lƣợng phản ánh và qui mô của tiểu
thuyết
18


38
2.1. Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 –
1985

39
2.1.1. Hồi ức chiến tranh
40
2.1.2. Phân tích hiện thực chiến tranh
42
2.1.3. Chiến tranh với những vấn đề của cuộc sống
mới
48
2.2. Hình tƣợng ngƣời lính trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 –
1985

54
2.2.1.Sự chuyển dịch từ nhân vật lí tƣởng tới nhân vật tích cực
55
2.2.2.Nội tâm của ngƣời lính bƣớc đầu đƣợc khai thác
59
2.2.3. Tình yêu và cuộc sống riêng tƣ
64
CHƢƠNG III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VIỆC
THỂ HIỆN ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT GIAI
ĐOẠN1975 – 1985 69
3.1.Sự chuyển tiếp trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Chiến tranh là một đề tài lớn trong văn học từ trƣớc tới nay. Sự hiện diện
của đề tài này trong văn học chính là sự phản ánh sinh động nhất bức tranh hiện
thực cuộc sống trong những giai đoạn lịch sử đặc biệt của từng dân tộc và của cả
loài ngƣời. Soi chiếu vào cả hai nền văn học phƣơng Tây và phƣơng Đông chúng
ta đủ thấy sự chi phối lớn lao của đề tài quen thuộc này. Văn học phƣơng Tây với
hàng loạt tên tuổi tiêu biểu đã để lại cho văn học thế giới những tác phẩm đồ sộ và
có giá trị nhƣ Lep Tônxtôi với Chiến tranh và hoà bình, Sôlôkhốp với Sông Đông
êm đềm, E.M Remarque với hàng loạt tác phẩm Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh,
Một thời để yêu, Một thời để chết, Đêm Lisbone, Ba người bạn, Khải hoàn môn
và Hêmingway với Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai Chỉ chừng đó cũng đủ
để thấy đề tài chiến tranh trong văn học phƣơng Tây đã vƣơn tới đỉnh cao của nó.
Tất nhiên sự lớn mạnh và những thành tựu của đề tài này trong văn học
phƣơng Đông cũng không hề thua kém. Điển hình là văn học Trung Quốc với
những pho tiểu thuyết chƣơng hồi nổi tiếng nhƣ : Tam quốc diễn nghĩa của La

chuẩn bị cho công cuộc đổi mới (1986 ) lại chƣa đƣợc quan tâm một cách đầy đủ.
Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Đề tài chiến tranh trong
tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985” với mục đích làm rõ những nét mới
trong diện mạo, khuynh hƣớng cũng nhƣ mảng hiện thực chiến tranh trong giai
đoạn văn học có tính chất “giao thoa”, “bắc cầu” này.
2. Lịch sử vấn đề.
Văn học Việt Nam sau 1975 đã bƣớc sang một chặng đƣờng mới của tiến
trình hiện đại hoá. Trong đời sống văn học, văn xuôi đạt đƣợc nhiều thành công cả
về số lƣợng và chất lƣợng sáng tác. Cho nên không có gì lạ khi văn xuôi thời kì
này trở thành đối tƣợng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu. Dù trực tiếp hay
gián tiếp, khi nhận định về văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng, nhiều
ngƣời đã quan tâm đến những sáng tác về đề tài chiến tranh.
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và ngƣời lính không nằm ngoài sự vận động
chung của văn xuôi. Trƣớc khi bàn đến những ý kiến trực tiếp đề cập đến vấn đề
chiến tranh và ngƣời lính trong tiểu thuyết, cần thiết phải kể đến những nhận định
khái quát về sự vận động đổi mới của văn xuôi sau 1975. Nhìn chung, văn xuôi
Việt Nam sau 1975 đã đƣợc phân tích ở những phƣơng diện cơ bản, thể hiện quy
luật phát triển cuả văn học và hầu hết các ý kiến nghiên cứu phê bình đều gặp nhau
ở sự khẳng định thành tựu cách tân của văn xuôi thời kì này. Hà Xuân Trường
nhận định: “có sự đổi mới thực sự trong văn học” , “dƣ luận rộng rãi tập trung
đánh giá mặt tích cực của văn học, chủ yếu là văn xuôi trong những năm gần đây.
Chính mặt tích cực đó đại diện cho sự đổi mới văn học” (trả lời P.V Lễ tưởng niệm
và hội thảo về Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ Quân đội số 3/1994). Nguyên Ngọc
viết: “Tình hình sáng tác văn học hiện nay theo tôi có hai mặt: một mặt, mặt chính
là rất tốt. Sáng tác văn học của chúng ta đang hay dần lên. Hình nhƣ sáng tác về
đại thể đang chuyển lên một bình diện mới cao hơn, sâu sắc hơn, văn học hơn,
ngƣời hơn. Tính xã hội rất mạnh mẽ, nhiều khi đến gay gắt, tính nhân văn ngày
càng sâu, không dễ dãi, [105]. Nguyễn Quang Thân hào hứng: “Chƣa bao giờ văn
xuôi phát triển mạnh nhƣ bây giờ”, “chƣa bao giờ nhà văn đƣợc thành thật nhƣ bây
giờ”, [52]. Bàn về văn học từ 1975 đến 1990, Hoàng Ngọc Hiến nhận xét: “Điều

những biến động phức tạp tinh vi của thế giới tinh thần, [25].
Bích Thu đã phân tích sự vận động đổi mới theo từng chặng và cho rằng văn
học từ sau 1975 có thể chia thành hai giai đoạn: Từ 1975 đến 1986 văn học vẫn
phát triển theo quán tính cũ, đầu những năm 80 văn học đã có một số tín hiệu đổi
mới nhƣng phải từ 1986 trở đi văn học mới khởi sắc và đổi mới ở nhiều lĩnh vực.
Nhà nghiên cứu cũng khẳng định về sự chuyển mình từ tƣ duy sử thi sang tƣ duy
tiểu thuyết; theo đó, đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần
nhƣờng chỗ cho đề tài thế sự - đời tƣ, [145]. Vũ Tuấn Anh trong bài viết Văn học
đổi mới và phát triển [1], đã đƣa ra nhận định tính chất dân chủ hoá nhƣ một xu
hƣớng vận động của văn học sau 1975 và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản
và chủ nghĩa yêu nƣớc là những thƣớc đo cơ bản nhằm đánh giá văn học suốt một
thời gian dài đƣợc vận dụng một cách uyển chuyển và mở rộng hơn, chủ nghĩa
nhân văn cũng tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những thể nghiệm nghệ
thuật theo khuynh hƣớng dân chủ hoá.
Khi nhận xét về tiểu thuyết Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), nhà phê bình
Đặng Quốc Nhật nhận xét: “Đất trắng gợi ra cho chúng ta những suy nghĩ mới cho
tiểu thuyết về đề tài chiến tranh lúc này. Ở đây ngƣời đọc thấy đƣợc sự dữ dội của
cuộc chiến đấu giữa ta và địch, những thiệt hại nặng nề của ta, những vùng đất
trắng, sự chịu đựng đế mức ghê gớm, cái giá của chiến công và chiến thắng cuối
cùng.”. Có lẽ nhận xét này không chỉ đúng với trƣờng hợp của tiểu thuyết Đất
trắng mà còn là đặc điểm nội dung của đa số các tiểu thuyết mƣời năm đầu sau
1975.
Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương được giải, [79];
Tôn Phƣơng Lan đã nhận xét: “văn học viết về đề tài chiến tranh trong những năm
chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thƣờng nhật, ít nói về những đau
thƣơng, mất mát, hi sinh trên chiến trƣờng, ít quan tâm đến số phận con ngƣời mà
tập trung quan tâm đến số phận đất nƣớc. Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài
này mới có “xu hƣớng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn, ác liệt,
những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của ngƣời lính trong chiến tranh cũng nhƣ trƣớc
sự cám dỗ của cuộc sống đời thƣờng”; hiện thực chiến tranh đã đựơc nhìn nhận

Đúng nhƣ Giáo sƣ Phan Cự Đệ đã tự tin khi đánh giá: “Văn xuôi chúng ta đang
bƣớc vào một chặng đƣờng mới với những thành tựu đáng phấn khởi. Nó đang tập
trung giải quyết hàng loạt vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đƣờng đầu
tiên của thời kì quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến
tranh vĩ đại của dân tộc. Văn xuôi cũng đang có những tìm tòi, khám phá đáng kể,
đáng khích lệ những đóng góp mới về mặt thể loại và phong cách thể hiện”, (Mấy
vấn đề lí luận văn xuôi hiện nay – Tạp chí văn học, 1986 – số 5).
Tƣơng tự nhƣ vậy, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng tổng kết trong “Mấy
ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn
học ta thập kỉ qua” rằng: “Nhìn chung có thể khẳng định đƣợc là nền văn học
nƣớc ta thập kỉ vừa qua đánh dấu sự biến đổi đáng kể của tƣ duy văn học và đang ở
vào thời kì mới, thời kì hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tƣợng con
ngƣờinhiều mặt trong tất cả chiều sâu phong phú của nó”.
Những đánh giá về văn xuôi sau 1975, cụ thể từ 1975 - 1985, rất phong phú,
thậm chí còn có phần bề bộn. Ở đây, chúng tôi không hi vọng bao quát đầy đủ mà
chỉ dừng lại ở những ý kiến tiêu biểu, phục vụ trực tiếp cho đề tài. Trên tinh thần
đó, có thể tóm lƣợc lại thành một số điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, nhận định về văn học sau 1975 nói chung hầu hết các ý kiến đều
thống nhất là: văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985 đã có sự chuyển biến trên
nhiều phƣơng diện, trong đó sự đổi mới cách tiếp cận, khai thác hiện thực là điểm
quan trọng, thể hiện sự đổi mới trong tƣ duy nghệ thuật.
Theo đó, các ý kiến đều nhấn mạnh đến sự thay đổi trong cảm hứng: từ sự quan
tâm đến mảng đề tài mang tính sử thi chuyển sang hứng thú đặc biệt tới những đề
tài thuộc phạm vi thế sự, đời tƣ; tiểu thuyết nhờ vậy có diện mạo mới, thể hiện
đúng bản chất thể loại của nó.
Thứ hai, phần lớn các ý kiến bàn về vận động đổi mới của văn xuôi 1975 –
1985 đều lấy những sáng tác về đề tài chiến tranh làm cứ liệu, xem những dấu hiệu
đổi mới từ mảng sáng tác này là biểu hiện nổi bật của sự đổi mới toàn diện của văn
xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng. Nhƣ vậy, trong tƣơng quan với văn học trƣớc
1945 – 1975, hiện thực chiến tranh trong tác phẩm sau 1975 thể hiện tập trung

thuyết của những tác giả tiêu biểu, đã tƣơng đối thống nhất trong sự đánh giá
chung của dƣ luận. Hơn nữa, “tiểu thuyết giai đoạn 1975 – 1985” là một giai đoạn
ngắn ngay sau khi chiến tranh kết thúc, một giai đoạn có tính chất “giao thoa”,
“bắc cầu” từ thời kì chiến tranh sang thời kì đổi mới cho nên diện mạo và khuynh
hƣớng vận động của tiểu thuyết chƣa thật sự ổn định và nổi bật, thành tựu cũng
chƣa nhiều. Vì vậy, trong phạm vi của luận văn chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu
một số sáng tác điển hình của tiểu thuyết trong giai đoạn này. Tuy nhiên, để có thể
hình dung đƣợc sự vận động cũng nhƣ tính chất “cầu nối” của giai đoạn 1975 –
1985 thì cần có sự đối chiếu, so sánh với một số tiểu thuyết giai đoạn trƣớc 1975
và cả những tác phẩm thời kì sau đổi mới.
4. Nhiệm vụ và đóng góp mới của luận văn.
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện việc khảo sát và nhận diện đối tƣợng, luận văn đặt ra những
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Khái quát diện mạo và các khuynh hƣớng của tiểu thuyết về đề tài chiến
tranh giai đoạn 1975 – 1985.
- Phân tích một số vấn đềvề hiện thực chiến tranh và hình tƣợng ngƣời lính
trong tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1975 – 1985.
- Tìm hiểu một số đặc trƣng nghệ thuật của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
giai đoạn 1975 – 1985.
4.2. Đóng góp mới của luận văn.
Trên cơ sở kế thừa những ý kiến, quan điểm văn học của những nghiên cứu
trƣớc đây, luận văn sẽ hệ thống hoá những biểu hiện đặc sắc của tiểu thuyết về đề
tài chiến tranh trong dòng chảy chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Chúng tôi vận dụng các thao tác của thi pháp học, loại hình học, văn bản
học trong quá trình xử lí các nội dung nghiên cứu.
Ngoài ra, các phƣơng pháp cụ thể nhƣ thống kê, so sánh, phân loại, phân
tích, tổng hợp cũng đƣợc kết hợp sử dụng.


ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH GIAI ĐOẠN 1975 - 1985
1.1. Nhìn lại chặng đường của tiểu thuyết những năm chống Mĩ cứu nước.
Nói đến chiến tranh là nói đến máu lửa, chết chóc, sự tàn phá, sự hi sinh và
muôn ngàn hậu quả đau đớn khác. Đất nƣớc Việt Nam, con ngƣời Việt Nam, hơn
ai hết đều cảm nhận rõ ràng và sâu sắc điều này; bởi lẽ, lịch sử dân tộc ta đã phải
trải qua biết bao cuộc chiến tranh để bảo vệ đất nƣớc. Song cũng chính từ những
năm tháng “khổ nhục nhƣng vĩ đại ” ấy, đội ngũ những nhà văn - những “thƣ kí
trung thành của thời đại” đã kịp thời phản ánh một cách chân thực và xúc động
những hình ảnh khác nhau về đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam trong chiến tranh.
Chúng ta không thể nào quên sự kiện ngày 5 tháng 8 năm 1964, tiếng súng
chống Mĩ ở miền Bắc đã nổ và đóng một dấu mốc quan trọng của thời kì cả nƣớc
có chiến tranh. Và trong khoảnh khắc ấy, tiếng gọi thiêng liêng của của Tổ quốc
nhƣ cùng trỗi dậy trong muôn vàn trái tim của thanh niên Việt Nam, thôi thúc họ
lên đƣờng vào tuyến lửa. Trong đội ngũ trùng trùng điệp điệp của những đoàn quân
đang “Xẻ dọc Trƣờng Sơn đi cứu nƣớc”, có không ít những nhà văn mà họ vừa
cầm súng chiến đấu vừa cổ vũ động viên chiến sĩ bằng những trang viết của mình.
Bên cạnh những thể loại đi đầu nhƣ kí sự và thơ ca, tiểu thuyết những năm chống
Mĩ cũng góp một tiếng nói riêng, âm hƣởng riêng tạo ra một dấu ấn đậm nét cho
thể loại tiểu thuyết về đề tài chiến tranh.
1.1.1 Sự mở rộng dung lượng phản ánh và qui mô của tiểu thuyết.
Trong khoảng hơn mƣời năm kể từ 1964, khi cả nƣớc bƣớc vào cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nƣớc, văn học của chúng ta luôn đứng ở mũi nhọn chiến đấu,
bám sát và phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Các sáng tác văn học đặc biệt là tiểu
thuyết đều cố gắng phản ánh những diễn biến cực kỳ mau lẹ cuả cuộc kháng chiến,
rút ngắn đƣợc khoảng cách vốn thƣờng có giữa văn học và sự kiện lịch sử. Những
nhà văn hầu hết đều là những ngƣời lính, họ có mặt ở các chiến dịch, các mặt trận;
họ vừa chiến đấu vừa cổ vũ đồng đội chiến đấu bằng những tác phẩm văn học của
mình. Họ đã viết bằng tất cả nguồn cảm xúc còn vẹn nguyên nơi chiến trƣờng với
mong muốn tái hiện thật đầy đủ, thật chi tiết những diễn biến của cuộc chiến đấu.
Chính vì thế, nhiều tiểu thuyết giai đoạn này còn mang tính kí sự, nặng về “kể”,

hùng vô cùng đẹp đẽ, những hi sinh to lớn, những chặng đƣờng vô cùng gian khổ,
những chiến công vang dội Nhận thức của con ngƣời thời kì chống Mĩ cũng phải
đặt trong tƣơng quan biện chứng với hiện thực đa dạng trên, tái hiện sinh động
những tác động qua lại hết sức tinh vi và phức tạp giữa con ngƣời và hiện thực.
Để làm đƣợc điều đó, văn học thời kì này không thể chỉ đơn thuần mở rộng
dung lƣợng phản ánh bằng tổng số những sự kiện, biến cố chiến tranh, tổng số
hành động mà cần phải vẽ cho ra đƣợc sự vận động biện chứng bên trong con
ngƣời và hành động. Tiểu thuyết những năm chống Mĩ đã phần nào cho thấy
khuynh hƣớng muốn tìm tòi, lí giải những vấn đề xã hội, nói cách khác là đã có sự
phát triển về chiều sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh, về xây dựng
tính cách nhân vật.
Cuộc chiến đấu của chúng ta là một sự sàng lọc nghiêm ngặt và vĩ đại những
con ngƣời. Không có sự lẫn lộn vàng thau, trắng đen, tốt xấu trƣớc những thử
thách quyết liệt trong chiến tranh. Những cặn bã, dối trá, hèn nhát, thoái hoá đã bị
sàng lọc ra từ chiến tranh; những cái anh hùng, cao cả, đẹp đẽ đƣợc bộc lộ với tất
cả tính chất và màu sắc của nó. Để đạt tới chiều sâu của tác phẩm, cần sự thống
nhất nhuần nhuyễn giữa việc miêu tả hiện thực với quá trình phân tích và lí giải
hiện thực. Chiến tranh là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, không bình thƣờng trong
tiến trình cuộc sống, vì thế hiện thực chiến tranh thƣờng không tƣơng đồng với
hiện thực đời sống sau chiến tranh và những vấn đề cụ thể đặt ra cho con ngƣời
trong chiến tranh cũng rất khác biệt với những vấn đề của con ngƣời trong đời
sống bình thƣờng. Để cho việc miêu tả chiến tranh thực sự có tác động đối với hiện
tại, các tác giả thƣờng xuyên phải xử lý những vấn đề “xuất phát từ những yêu cầu
của hiện tại, tìm ra trong hiện thực chiến tranh những vấn đề gặp gỡ với hiện tại,
những mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp giữa quá khứ chiến tranh và thực tại hiện
nay. Nếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề mặt của chiến tranh với tổng số những sự
kiện, biến cố và quá trình của nó thì chắc chắn rằng sẽ không tìm thấy sự gặp gỡ và
những mối liên hệ ấy” - (Đinh Xuân Dũng). Bởi vậy, sự đào sâu hơn nữa, sự tổng
hợp cao hơn nữa trong sáng tạo đã cho thấy sự phát triển về chiều sâu nhận thức và
phản ánh hiện thực chiến tranh. “ Cùng với việc tổng hợp diện phản ánh chiều rộng

chúng, con ngƣời hoà mình vào cái chung, thể hiện sức mạnh đoàn kết của toàn
dân tộc. Bức tranh đời sống trong các tác phẩm là cuộc sống, lao động của nhân
dân gắn với nhiệm vụ kháng chiến.
Tuy nhiên cần nhìn nhận những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1975 bằng một quan điểm toàn diện, linh hoạt, tránh xu hƣớng cực
đoan hoá khi đem đối lập giữa văn học trƣớc và sau 1975. Có thể nhắc tới ý kiến
của Giáo sƣ, Tiến sĩ Nguyễn Văn Long về vấn đề này:
“Cũng có cách nhìn khá phổ biến khi nhắc tới văn học ở giai đoạn trƣớc và
sau tháng 4 năm 1975 thƣờng đem sự đối lập tuyệt đối giữa sử thi và đời thƣờng,
giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lí tƣởng xã hội và ý thức nhân bản. Sự đề cao ý
kiến cá nhân, hƣớng tới khám phá cái tôi đôi khi đến đối lập và xem nhẹ ý thức
cộng đồng. Sự đề cao những tìm tòi khám phá vào tâm linh, vô thức đôi khi lại là
biểu hiện sự xem nhẹ đối với ý thức, nhất là ý thức xã hội. Mọi sự đối lập tuyệt đối
ở đây đều dẫn đến sự phiến diện trong cách nhìn nhận, khám phá xã hội và con
ngƣời ”.
Ở đây, chúng tôi không có chủ ý bàn nhiều về đặc điểm của văn học Việt
Nam trong hai cuộc kháng chiến. Việc nhắc đến đặc trƣng của giai đoạn văn học
này chủ yếu trên tinh thần kế thừa những khái quát đã tƣơng đối ổn định và đƣợc
dƣ luận đồng tình. Để thấy đƣợc những biến đổi trong cảm hứng chủ đạo và nội
dung hiện thực trong các tác phẩm trƣớc và sau năm 1975; trong khi tiến hành so
sánh, một mặt phải tránh khuynh hƣớng tuyệt đối hoá giá trị của từng giai đoạn văn
học; mặt khác, theo chúng tôi, cần thiết phải có sự đối chiếu trên nét lớn những đặc
trƣng nổi bật giữa hai giai đoạn khác nhau này. Đồng thời với quan điểm không
cực đoan trong đánh giá thành tựu của mỗi giai đoạn văn học thì vẫn phải thấy
rằng: xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể, văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng
Tám lấy việc phục vụ chính trị, phục vụ Công – Nông – Binh làm nhiệm vụ nghệ
thuật với sự tự nguyện cao độ từ phía chủ thể sáng tạo. Nhà lý luận phê bình văn
học Hoài Thanh cũng đã từng nhận ra: “Cảnh tƣng bừng của cả dân tộc Việt Nam
đang trỗi dậy. Tôi cảm thấy khắp nơi ở xung quanh tôi và trong lòng tôi một cuộc
tái sinh màu nhiệm” - (Tạp chí Tiên phong, số 3, năm 1945). Nhà văn Nguyễn

Cảm hứng ngợi ca in đậm tính chất sử thi đƣợc thể hiện ở thái độ ca ngợi
quần chúng, ở việc xây dựng hình tƣợng đám đông sôi động, hào hứng đầy sức
mạnh của công nhân, nông dân, bộ đội, dân công trong các tác phẩm Cửa biển -
1961 (Nguyên Hồng), Vỡ bờ - 1962 (Nguyễn Đình Thi), Bão biển - 1969 (Chu
Văn), Mẫn và tôi - 1972 (Phan Tứ), Dấu chân người lính - 1972 (Nguyễn Minh
Châu) v.v. Tính chất sử thi còn thể hiện rõ nét trong việc xây dựng những hình
tƣợng nhân vật anh hùng, nơi hội tụ, kết tinh bao phẩm chất cao đẹp của giai cấp,
của nhân dân, của dân tộc trong Đất nước đứng lên - 1956 (Nguyên Ngọc), Hòn
đất - 1966 (Anh Đức), Người mẹ cầm súng- 1968 (Nguyễn Thi), Rừng xà nu -
1969 (Nguyễn Trung Thành), Bão biển - 1969 (Chu Văn) v.v.
Nhƣ vậy có thể thấy, hiện thực mang đậm tính sử thi là đặc điểm nổi bật về
phƣơng diện nội dung phản ánh của tiểu thuyết những năm chống Mĩ .
1.2. Sự vận động của văn học Việt Nam những năm 1975 – 1985.
Cùng với sự vận động tất yếu của lịch sử là sự vận động trong nhận thức của
con ngƣời, của các nhà văn, đặc biệt là những Nhà văn – Ngƣời lính vừa bƣớc ra từ
cuộc hành quân gian lao và vĩ đại. Trong chiến tranh, khi cầm bút viết về cuộc
chiến đấu đang diễn ra, nhà văn đồng thời là ngƣời tham dự, ngƣời trong cuộc,
ngƣời chiến sĩ; bản thân họ tự nguyện là ngƣời cổ vũ và tuyên truyền cho cuộc
chiến đấu đó. Sau khi chiến tranh kết thúc, đã lùi xa thì nhà văn lại trở thành ngƣời
có khát vọng đào sâu trực tiếp vào thực tế của cuộc chiến đấu để trình bày và phát
hiện mọi mặt của nó với chiều sâu phức tạp mà trong chiến tranh họ chƣa kịp nhận
ra.
Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985 đã có những chuyển biến nhanh
nhạy để bắt kịp với không khí chung của thời đại. Tiểu thuyết về đề tài
chiến tranh sau chiến tranh không nằm ngoài sự vận động chung đó.
1.2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau thời kì chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân
tộc. Chấm dứt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã giành đƣợc thành
quả to lớn: giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc, thống nhất đất nƣớc. Đất nƣớc hoà bình, cả nƣớc tập trung khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status