Tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn " Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985 " doc - Pdf 10


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGỮ VĂN
ĐỀ TÀI: “TRUYỆN NGẮN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985”
Tác giả luận văn: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975-1985
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS PHAN TRỌNG THƯỞNG
Thái Nguyên, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn :
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học
trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên.
- Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội,
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dậy
trong suốt khoá học.
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến
sĩ Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để
luận
văn có thể hoàn thành.

3. Diện mạo của truyện ngắn 19
3.1. Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con
người 19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2. Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng 35
3.3. Thành tựu của truyện ngắn 37
Những thay đổi về đề tài và cảm hứng
trong truyện ngắn việt nam 1975-1985
1. Những thay đổi về đề tài ở truyện ngắn sau 1975 41
Sự tiếp tục đề tài chiến tranh 41
. Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư 51
2. Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn 1975- 1985 62
2.1. Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư 63
2.2. Cảm hứng đạo đức giữ vị trí quan trọng 65
2.3. Sự trở lại của cảm hứng bi kịch 69
2.4. cảm hứng phê phán 71
2.5. Cảm hứng nhân văn 72
Chương III
Những đổi mới bước đầu
trong nghệ thuật truyện ngắn việt nam 1975-1985
1. Đặc điểm kết cấu cốt truyện 75
1.1. Khái niệm và vai trò của cốt truyện 75
1.2. Sự vận động trong việc xây dựng cốt truyện của truyện ngắn sau
1975 76
1.3. Các đặc điểm kết cấu cốt truyện 80
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn 1975-1985 87
Các kiểu nhân vật mới 89
1.5 . Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật 96
3. Nghệ thuật trần thuật 103

cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời
cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học
khi bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể coi đó là một nhận xét khái quát về đặc
điểm của văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, trong đó có truyện ngắn. Một thể
loại luôn luôn có mặt nhiều, khi lại nhận lãnh trách nhiệm dò lối, mở đường
(Vương
Trí Nhàn) ở những giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Đi sâu vào những vấn
đề của thể loại truyện ngắn ở giai đoạn này, có nhiều ý kiến đánh giá trên cả
hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Những năm liền ngay sau khi cuộc
kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển
theo quán tính từ trong thời kỳ chiến tranh. Đề tài về chiến tranh và người
lính vẫn bao trùm lên hầu hết các sáng tác.Tuy nhiên, trong truyện ngắn (và
cả truyện vừa) thấy rõ nét một hướng đi vào những khoảnh khắc thưòng
nhật của chiến tranh, đi sâu hơn vào diễn biến tâm lý của nhân vật, vào
những cảnh ngộ và xung đột nội tâm: truyện ngắn cũng có ưu thế trong việc
đặt nhân vật trong mối tương quan hôm qua và hôm nay, để làm nổi bật lên
những vấn đề có ý nghĩa đạo đức nhân sinh (Nguyễn Văn Long, “Văn xuôi
những năm 1975-1985 viết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ”- Văn
nghệ quân đội, tháng 4-1985).
Cùng quan điểm với nhận định trên, tác giả Phan Cự Đệ (trong văn học
Việt nam 1975 -1985, Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn, 1997) cho
rằng cách khai thác những vấn đề chiến tranh trong mối tương quan quá khứ
- hiện tại như thế làm cho truyện ngắn của ta sau 1975 có một bước phát
triển mới, ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng tốt
hơn. Bởi nó không dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào tâm lý, tiềm thức.
Nhà văn Nguyên Ngọc còn khẳng định vai trò hàng đầu của truyện
ngắn trong quá trình tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của văn học giai đoạn
này. Theo Nguyên Ngọc, truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết.
Nó sớm đạt đến tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề
than phận con người, thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh,

cứu
hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa
dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực. Tính chất phức tạp của đời sống
tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống
kinh
tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào. Nhìn
chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
viết về sự thật. Chuyện đời thường vì thế nổi trội trong đa số truyện ngắn
trong giai đoạn này, thậm chí đã hình thành một quan niệm văn học đời
thường (“Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb
Đại học quốc gia Hà nội, 2000).
Về hình thức truyện ngắn 1975 - 1985 cũng có rất nhiều ý kiến. Tuy
nhiên, mỗi ý kiến bước đầu đưa ra sự đánh giá về một hay một vài phương
diện nghệ thuật. Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện
ngắn sau 1975” (Tạp chí Văn học tháng 9 - 1996) cho rằng: trong một thời
gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa
kịp
làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng. Xét trong hệ
thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được
những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách
nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ. Theo tác giả,
truyện
ngắn có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt… Có sự
tác động, hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ người kể truyện. Lý
giải về những thay đổi này, theo tác giả là do những biến động khác nhau
trong đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc
sống,
sự đa dạng của tính cách con người, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đòi

Nhà văn Ma Văn Kháng lại rất chú ý đến ngôn ngữ của truyện ngắn.
Theo ông, đó là thứ ngôn ngữ vừa dung dị, vừa ma quái thêm, nó sử dụng
đến
sức mạnh tổng hợp của câu chữ (“Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn
nghệ quân đội, Tháng 7,1992).
Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 có xu hướng
vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều
hình thức khác nhau để tái tạo đời sống.Vì thế, truyện ngắn ở giai đoạn tiền
đổi
mới này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của truyện
ngắn dân tộc suốt cả thế kỷ XX (Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn những vấn đề

thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2000).
2. 2. Những bài nghiên cứu về tác giả
Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là: Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Ma Văn Kháng. Bởi trong những
điều kiện cực kỳ khó khăn của đất nước, sáng tác của họ đã đốt lên nhiệt
tình
tìm kiếm chân lý, báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam
khi nó dám sòng phẳng với quá khứ bất chấp trở lực cản ngăn (Lã Nguyễn,
“Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật”,
Tạp
chí văn học số 2-1989).
Tuy nhiên các tác giả Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng lại
chủ yếu thành công ở thể loại tiểu thuyết. Với truyện ngắn, bên cạnh Nguyễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
6
Minh Châu - người mở đường tinh anh và tài hoa - còn phải kể đến nhiều
cây

truyện ngắn viết về những khía cạnh xấu của người đời có ý kiến cho rằng
đã
làm xô lệch đi vẻ tự nhiên bình thường của con người, dẫu đó là những mẫu
hình tiêu cực trong đời sống chúng ta (Bích Thu, “Truyện ngắn Dương Thu
Hương. Tạp chí Văn học . số 2. 1983) nhưng lại có ý kiến ủng hộ cách viết
này
dù cho ngòi bút của tác giả ở đây thật đã đi đến những chỗ cùng cực trong
cách
miêu tả thậm chí là có phần ác quá. Song ta đã chấp nhận phong cách này,
thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
7
để cho nó đi hết sự phát triển vốn có, không dừng lại nửa vời (Vương Trí
Nhàn
trong “Văn học 1975-1985- Tác phẩm và dư luận”, Nxb hội nhà văn, 1997).
Đúng là ở chặng đầu của hành trình đổi mới, các tác giả của văn xuôi
nói chung và các cây bút viết truyện ngắn nói riêng mới chỉ khoan những
mũi
thăm dò đầu tiên trên những vùng đất mới. Có mũi thăm dò thành công
nhưng
cũng không ít thất bại. Song những nỗ lực của họ đã được ghi nhận. Vì
chính
họ đã góp phần chuẩn bị để tạo ra một vụ mùa lớn của thể loại ở giai đoạn
sau.
2.3. Những bài viết về tác phẩm
Trong khoảng 10 năm (từ 1975 đến 1985) số lượng truyện ngắn in trên
các báo quả là không nhỏ. ở đây chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên
cứu
một số tác phẩm được giải trên các tạp chí, các tập truyện có tác động

tác
phẩm tiêu biểu cụ thể nhưng chủ yếu nghiêng hẳn về giai đoạn từ sau 1986,
giai đoạn phát triển rực rỡ của truyện ngắn. Còn với truyện ngắn ở giai
đoạn
1975- 1985, các ý kiến đánh giá chủ yếu ở dạng phác thảo sơ bộ, hoặc là
những nhận định khái quát hay đi vào từng khía cạnh cụ thể của thể loại.
Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể sâu sắc những đặc điểm
của truyện ngắn ở giai đoạn phôi thai của tiến trình đổi mới.
Trên tinh thần tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước đã gợi
ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-
1985.
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc khảo
sát
những dấu hiệu mới của truyện ngắn nói riêng đặt trong tiến trình phát triển
của văn xuôi nói chung.
3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu diện mạo và những đổi mới bước đầu của
truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong quan hệ thống nhất giữa nội dung

hình thức biểu hiện. Từ đó thấy được sự vận động của truyện ngắn sau
chiến
tranh trong bức tranh chung của truyện ngắn hiện đại.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung khảo sát các truyện ngắn trong giai đoạn từ 1975-
1985. Tuy vậy, truyện ngắn thực sự thay đổi là từ những năm 1980 trở đi.
Hơn nữa số lượng truyện ngắn trong khoảng 10 năm này rất nhiều, luận văn
sẽ không thể bao quát được hết. Để khoanh vùng phạm vi khảo sát, luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn

1985.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
10
Phần nội dung
Chương I
Bối cảnh lịch sử và diện mạo
truyện ngắn Việt nam 1975 - 1985
1. Bối cảnh lịch sử xã hội:
1.1. Tình hình đất nước sau chiến tranh:
Với thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước đã thu về một mối,
Nam - Bắc một nhà. Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về một nền tự do,
độc lập phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến đấu kiên cường đã trở thành
hiện
thực. Chiến tranh khốc liệt đã qua đi, đất nước hào hứng bước vào công
cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay sau niềm vui chiến thắng, cả
dân
tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất. Đó là thời kỳ chúng ta
lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội. Cơ chế quản lý cũ bộc lộ
nhiều bất cập đòi hỏi phải có sự đổi mới. Đất nước hoà bình nhưng cuộc
sống
lại vận hành một cách khó nhọc, nặng nề.
ở miền Bắc, những cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải
quân Mỹ đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài. Gần như toàn bộ các
thành
phố thị xã đều bị đánh phá. Thậm chí có thị trấn bị phá huỷ hoàn toàn. Tất
cả
các khu công nghiệp đều bị đánh phá, nhiều khu bị đánh tới mức huỷ diệt.
Với miền Bắc, dù chiến tranh đã chấm dứt sau hiệp đinh Pari năm 1973

gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong
phạm vi cả nước. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng
lao
động Việt Nam lần thứ IV nêu rõ: Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công
nhân giữ vai trò vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng
dân
tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa,
sự
bắt đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Điều đó đã được cụ thể hoá trong hai kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 -
1980 và 1981 - 1985. Việc thực hiện những kế hoạch này đạt được những
kết
quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Đời sống của đại bộ
phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
12
nhân còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều lao động chưa có việc làm. Nhiều nhu
cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hoá chưa được
đảm
bảo. Mặt khác các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã
hội bị vi phạm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một sổ cán bộ
chưa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời.
Thực trạng kinh tế xã hội đó đã làm lay động dữ dội mọi suy nghĩ, niềm
tin của mọi tầng lớp nhân dân. Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn
Khải:
Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó. Hoà bình
yên
tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên

2. Tình hình phát triển của văn xuôi
Sự phát triển của một nền văn học nói chung, văn xuôi nói riêng bao
gồm nhiều vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. ở đây chúng tôi chỉ đi
vào lĩnh vực sáng tác của văn xuôi trong giai đoạn 1975 - 1985 để từ đó có
được cái nhìn khách quan, tổng thể về diện mạo của truyện ngắn trong giai
đoạn này.
Với dân tộc Việt Nam, dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử
đất nước: chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống với những quy
luật
không bình thường của chiến tranh sang cuộc sống bình thường, hàng ngày
của
nhân dân. Tuy nhiên, văn học lại không sang trang cùng lúc với lịch sử. Nền
văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật, những cảm
hứng
chủ đạo trong chiến tranh cho đến khoảng đầu những năm 1980. Điều này
đúng
với lý luận của Mác: ý thức thường chậm hơn so với thực tại xã hội.
Sự chạy theo quán tính này của văn học dẫn đến tình trạng mất độc giả.
Sau chiến tranh, các nhà văn có điều kiện, có nhiều thời gian hơn để viết thì
bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất thắm thiết máu thịt giữa văn học và công
chúng, giữa sáng tác và người đọc lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi. Người
đọc quay lưng lại với những sáng tác hiện tại. Đó cũng chính là khoảng thời
gian mà Nguyên Ngọc gọi là khoảng chân không trong văn học. ở đó, âm
không truyền đi được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
14
Nền văn học chững lại, không ít người viết lâm vào tình trạng hoang
mang, bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác. Nhưng dần dần họ
cũng tìm ra nguyên nhân: cuộc sống thay đổi rất nhiều mà văn học vẫn giữ

của nhiều nhà văn, đặc biệt ở đội ngũ nhà văn trưởng thành trong kháng
chiến. Nhiều cây bút văn xuôi hướng tới việc tạo dựng bức tranh toàn cảnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
15
của cuộc kháng chiến ở tầm vóc và quy mô lớn như Ông cố vấn (Hữu Mai).
Độ lùi của thời gian cũng đã cho phép các nhà văn đi vào những mặt trái,
những góc khuất của chiến tranh. Đó là sự hy sinh mất mát, cả những lầm
lạc,
hèn nhát, phản bội của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ - những người trong
văn
học cách mạng thường chỉ được phản ánh ở sự dũng cảm, ở mặt tốt, mặt phi
thường (Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh).
Tuy nhiên do bối cảnh xã hội đã thay đổi, càng về sau, khuynh hướng
sử thi càng có xu hướng co hẹp lại nhường chỗ cho sự phát triển của khuynh
hướng thế sự. Lúc này, văn xuôi thực sự bước sang địa hạt của những vấn
đề
trong đời sống thường nhật. Đứng trứơc hiện thực này đòi hỏi người nghệ sĩ
phải thay đổi cách nhìn nhận, cách tiếp cận cuộc sống. Nếu trong chiến
tranh
mọi việc đều được nhận thức theo một chiều (trắng - đen, tốt – xấu), ngay cả
việc đánh giá con người cũng thông qua những chuẩn mực toàn dân thì giờ
đây trong hoà bình, khi quy luật của chiến tranh đã hết hiệu lực, những
chuẩn
mực cũ không đáp ứng được hiện tại mới. Con người cần xây dựng những
chuẩn mực mới.
Trên mảnh đất sôi động của cuộc sống hiện thực sau chiến tranh, văn
xuôi có những điều kiện để phát triển. Nguyễn Khải viết: Tôi thích cái hôm
nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu
đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật làmột mảnh đất phì

khủng hoảng cũng là mảng hiện thực nóng bỏng trong đời sống văn học.
Khi
tiểu thuyết Đứng trước biển (1982), Cù lao chàm (1985) của Nguyễn Mạnh
Tuấn xuất hiện đã gây phản ứng khác nhau trong dư luận bạn đọc, làm xôn
xao văn đàn, kéo độc giả đến gần với văn học. Bởi đó là một minh chứng
hùng hồn cho quan điểm của Đảng ta: văn học là cuộc sống, là sự đấu tranh
của những nhà văn cho một cuộc sống tốt đẹp, cuộc đấu tranh bằng tác
phẩm văn học [81/439].
Nổi lên sóng gió dư luận hơn cả là khuynh hướng nhận thức lại một số
vấn đề của thời kì chiến tranh. Nhận thức lại không đồng nghĩa với việc xét
lại hay bắn súng đại bác vào quá khứ mà là nhờ vào kinh nghiệm, người ta
gạt bỏ cái sai lầm khỏi cái chủ quan nó bao để đi đến chân lí. Thời xa vắng
của Lê Lựu, Những tháng ngày đã qua của Xuân Thiều, Sống với thời gian
hai chiều của Vũ Tú Nam, Nguời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
17
Nguyễn Minh Châu là những tác phẩm viết theo hướng này. Các tác phẩm
đó đã đặt ra vấn đề nhận thức lại quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con
người và hoàn cảnh nhưng quan trọng hơn là con người tự nhận thức lại
chính
mình. Viết theo xu hướng này nhà văn cần có cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt và
một tấm lòng chân thành, như lời tâm sự của tác giả Võ Văn Trực viết lại
chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý đồ xấu xa moi móc những sai lầm
chúng
ta đã vấp phải để rồi đổ lỗi cho người này hay người kia mà cốt để chúng ta
đừng lặp lại những sai lầm ấy[74/5]. Do đó, trên lối đi mới này, các nhà
văn
đã đem lại cho bạn đọc những kiến giải thú vị, có khả năng thanh lọc tâm
hồn

nhỏ
tới quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam. Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ
thuật
của thanh niên. Nhiều nhà văn từng sáng tác trong thời kì chiến tranh nhận
ra rằng nếu tiếp tục sáng tác như cũ họ sẽ tự đánh mất độc giả. Nghĩa là
văn
học dịch đã làm cho các nhà văn Việt Nam thấy cần phải đổi mới cách
viết[40/56].
Tuy nhiên, khoảng mười năm sau chiến tranh, trong lĩnh vực sáng tác
việc đổi mới cách viết chưa trở thành một phong trào rầm rộ, chưa xuất
hiện
nhiều những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới. Nguyễn Minh Châu, Ma
Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn là những nhà văn đi tiên phong
trong giai đoạn văn học tiền đổi mới này. Những sáng tác của họ góp phần
mở đường cho văn học đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc từ sau 1986.
3. Diện mạo của truyện ngắn
3.1. Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người.
3.1.1. Quan niệm về hiện thực
Theo Trần Đình Sử, thuật ngữ quan niệm trong nghệ thuật là một
khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải, tầm
hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm
hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn
ra
sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có
thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả không chính xác về đời
sống[77/8].
Do quan niệm thuộc về chủ thể sáng tạo nên mỗi nhà văn có quan
niệm riêng về hiện thực. Đó là sự nhận thức, đánh giá về hiện thực cuộc
sống
của nhà văn theo một quan điểm thẩm mĩ nhất định. Như thế không có nghĩa

hơn. Văn xuôi vượt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, vào một cái nhìn đã
định trước để mở ra khả năng phong phú vô tận trong việc khám phá và thể
hiện đời sống. Nhà văn cũng có thể đi đến những miền khuất, những mặt
trái
của đời sống, đến với chiều sâu tâm tưởng, tâm linh của con người. Những
nơi mà trước đây trong chiến tranh họ ít có điều kiện để khai vỡ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
20
Nhìn lại những sáng tác trong chiến tranh, chúng ta nhận thấy văn học
đã cố gắng bám sát cuộc sống chiến đấu oanh liệt của dân tộc. Điểm mạnh
trong những sáng tác của họ là giàu tính thời sự, có sức động viên và cổ vũ
lớn lao. Tuy nhiên sau chiến tranh xuất hiện những yêu cầu mới, yêu cầu tái
hiện lịch sử phải gắn liền với đòi hỏi đi sâu vào số phận và diễn biến của
con
người; viết về cuộc chiến tranh hôm qua phải đặt trong tương quan với
những
yêu cầu của cuộc sống hôm nay [39/209]. Với đặc thù của thể loại, truyện
ngắn đã chưng cất những mảng hiện thực của cuộc sống chiến tranh. Mặc

phần lớn truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 viết về chiến tranh vẫn bám
vào
các sự kiện, vẫn lấy sự kiện làm trục chính song cách triển khai vấn đề ở
những truyện ngắn này cũng không hoàn toàn giống trước. Những hoàn
cảnh
ngặt nghèo, những khúc bi thương nhất của chiến trận vẫn được khắc hoạ
đậm
nét trong nhiều truyện ngắn: Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi,
Chuyến xe đêm của Ma Văn Kháng, Ngày không bình thường của Phạm
Hoa, Người trong cuộc của Trung Trung Đỉnh ở đó, những phẩm chất

tuy không dài nhưng họ luôn phải đối diện với những bất hạnh khôn lường
bởi sự tấn công bất ngờ, hiểm ác của tàn quân Pôn pốt. Khi chiếc xe gần
đến
trạm gác cầu cuối cùng thì bị tấn công. Người lái xe bị trúng ba viên đạn
ngay
từ loạt tấn công đầu tiên. Trước khi bọn tàn quân sắp sửa phóng một quả
B41
để huỷ diệt cả xe thì anh nghển lên giống như quằn quại chân vẫn đặt hờ
trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái[54/427] đưa chiếc xe vuợt qua
cõi
chết, cứu sống vợ chồng người phóng viên. Hành động của anh khiến họ
hiểu
ra rằng một dân tộc vị tha, sống chết vì người khác, điều đó đã trở thành
một
đạo lí, một nguồn năng lượng vô tận[54/428], một sức mạnh diệu kì để vượt
qua mọi gian khổ. Điều mà nhà văn hướng đến không phải là sự mô tả chiến
tranh thông thường mà là sự cắt nghĩa cội nguồn đã làm nên chiến thắng.
Bảo Ninh lại xử lí hiện thực chiến tranh bằng cách đi vào những góc
khuất của tâm trạng, những bi thương của chiến trận trong những hoàn
cảnh
đặc biệt. Tryện ngắn Trại bảy chú lùn viết về cuộc sống của những người
lính hậu cần bị bỏ quên trong khi họ làm nhiệm vụ coi kho ở Trường Sơn.
Môi trường chiến tranh ở đây không có tiếng súng, không có kẻ thù cụ thể
nhưng giữa rừng già cô độc, họ đã phải chiến đấu với chính bản thân mình
để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-
tnu.edu.vn
22
giữ vững tấm lòng nhân bản của người lính cũng như tâm hồn nhân văn của
họ. Tư tưởng đó sau này còn được nhà văn tiếp tục ở một khía cạnh khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status