Tài liệu LUẬN VĂN: Công nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Công nghiệp Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Mở đầu
Trong các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân thì công nghiệp là một
ngành sản xuất vật chất rất quan trọng. Nó bao gồm tất cả các ngành như: khai thác và chế
biến các tài nguyên thiên nhiên, các loại sản phẩm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp
thành các loại sản phẩm công nghiệp khác nhau. Sản phẩm của công nghiệp là loại toàn bộ
công cụ lao động, vật phẩm tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của
nhân dân trong xã hội.
“Công nghiệp trở thành một ngành sản xuất vật chất to lớn và độc lập. Đó là kết quả
của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội”.
Trong nền kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay có nhiều thành phần kinh tế cùng nhau
tham gia hoạt động đan xen nhau theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì
vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan của lịch sử nước
nhà. Quá trình này diễn ra trong điều kiện nước ta là một nước có nền kinh tế nông nghiệp

đề cập tới một vấn đề vô cùng quan trọng cần phải được quan tâm, nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng
(4)
.
Nguyện vọng chân thành và tha thiết của em khi làm bài viết cũng giống như bao
người làm sách đó là mong muốn có được những cuốn sách hay góp phần vào sự trao đổi
kiến thức cùng thế hệ trẻ - những người chủ của đất nước bước sang thế kỷ 21.
N
N


i
id
d
u

Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp dưới hình thức nghề thủ công độc lập. Nền
sản xuất đó là nền sản xuất hàng hóa nhỏ. Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất
hàng hóa nhỏ lên nền đại công nghiệp cơ khí qua 3 giai đoạn đó là: hợp tác giản đơn, công
trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí. Quá trình phát triển của công nghiệp vừa thể hiện sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội vừa thể hiện trình độ phát triển của nền sản
xuất hàng hóa trong sản xuất công nghiệp cũng như ảnh hưởng của sự phát triển sản xuất
công nghiệp đến trình độ phát triển sản xuất hàng hóa nói chung của nền kinh tế quốc dân .
Nghiên cứu lịch sử phát triển công nghiệp cho thấy: “Công nghiệp không chỉ tái sản
xuất cơ sở vật chất cho xã hội mà còn tái sản xuất ra các quan hệ sản xuất khác nhau trên
bước đường phát triển của mình. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa".
Tóm lại, công nghiệp là một phạm trù kinh tế với nhiều hình thức phát triển ở mức độ
khác nhau như: công nghiệp gia đình, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp, công nghiệp hiện
đại, công nghiệp tư bản chủ nghĩa, công nghiệp xã hội chủ nghĩa.
Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp cả về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như kinh
tế xã hội đã khẳng định vai trò chủ đạo và từng bước phát huy vai trò chủ đạo của công
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân .
Thực chất vai trò chủ đạo của công nghiệp là sự ảnh hưởng quyết định của công
nghiệp đến việc phát triển lực lượng sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân đồng thời
công nghiệp có khả năng tạo ra những hình mẫu để các ngành kinh tế khác phát triển theo
hướng sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp là một hình mẫu chỉ ra con đường
cho các ngành khác phát triển theo vì công nghiệp có lực lượng sản xuất tiên tiến và quan
hệ sản xuất tiên tiến hơn các ngành kinh tế quốc dân khác. Vai trò chủ đạo của công
nghiệp được bắt nguồn từ chỗ nó tập hợp và không ngừng phát triển giai cấp công nhân đội
quân tiên phong trong công cuộc đổi mới quản lý kinh tế, đổi mới xã hội. Do đó mà công
nghiệp có quan hệ sản xuất luôn được củng cố và hoàn thiện cho phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Công nghiệp thường xuyên tác động vào quá trình phát triển
của các ngành với tư cách là hình mẫu về sử dụng tư liệu sản xuất tiên tiến, hiện đại về

chất và văn hóa của nhân dân góp phần bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đồng đều giữa các
vùng: vùng miền núi - đồng bằng, thành thị - nông thôn, lao động trí óc - lao động chân
tay, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.
Ngoài ra trong các lĩnh vực khác: công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển của lĩnh vực đó. Trong quá trình chuyển hóa nền kinh tế từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì vai trò chủ đạo của công nghiệp thể hiện ở các mặt sau:
Công nghiệp là cơ sở tái sản xuất mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân thông
qua việc công nghiệp tạo ra và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các ngành.
Công nghiệp tạo điều kiện không ngừng cho việc đổi mới các phương tiện vật chất kỹ
thuật cho nền kinh tế quốc dân góp phần vào việc CNH-HĐH đất nước.
Sự phát triển công nghiệp tạo điều kiện phân bổ hợp lý hơn lực lượng sản xuất, phát
triển các vùng kinh tế của đất nước, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, lao động và
truyền thống nghề nghiệp của địa phương, vùng lãnh thổ.
Công nghiệp là cơ sở củng cố quốc phòng của đất nước, sản xuất ra các loại phương
tiện kỹ thuật quân sự hiện đại.
Công nghiệp là cơ sở quyết định cho việc sản xuất tư liệu sản xuất trước hết là công
cụ lao động để trang bị kỹ thuật mới cho tất cả các ngành của nền kinh tế.
Công nghiệp sản xuất ra một bộ phận cơ bản của tổng sản phẩm quốc dân và một
phần lớn quỹ tích lũy.
Liên hệ vai trò chủ đạo của công nghiệp ở Việt nam.
ở nước ta trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị tường, nông nghiệp giữ vai trò hàng
đầu do đó vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với nông nghiệp càng có ý nghĩa to lớn biểu
hiện:
Trang bị cơ cở vật chất kỹ thuật, công cụ sản xuất ,máy móc hiện đại, đáp ứng kịp
thời và thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Thu hút lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp bằng cách đưa công nghiệp vào nông
nghiệp phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn để tổ chức chế biến sản

Cơ cấu ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phát huy vị trí chr đạo của
công nghiệp. Do đó, kế họach cơ cấu ngành công nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong kế
hoạch hóa công nghiệp. Vì vậy để kế hoạch hóa kinh tế ngành công nghiệp cần phải có sự
nhận thức đầy đủ về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu ngành công nghiệp .
Nhân tố ảnh hưởng quyết định là tiến bộ KHKT. Nhân tố này làm xuất hiện các
ngành sản xuất công cụ lao động mới, làm xuất hiện nhiều ngành hiện đại như: chế tạo công cụ, sản xuất phương tiện tự động hóa , sản xuất máy vô tuyến, sản xuất vật liệu cao
cấp.
Trình độ và tính chất phát triển của công nghiệp thể hiên ở mối quan hệ gắn bó lâu
đời giữa hai ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế. Nông nghiệp cung cấp
lương thực, thực phẩm, lao động, nguyên liệu cho công nghiệp và là thị trường tiêu thụ sản
phẩm cho công nghiệp.
Cơ cấu ngành công nghiệp phụ thuộc vào tình hình tài nguyên thiên nhiên của đất
nước. Nhân tố này tạo điều kiện tiên quyết hay hạn chế việc hình thành các ngành công
nghiệp - Trên cơ sở đó xây dựng một cơ cấu công nghiệp phong phú và cũng thể hiện được
tính riêng biệt, tính mũi nhọn của công nghiệp một nước.
Điều kiện lịch sử kinh tế xã hội sẽ để lại những đặc điểm riêng về cơ cấu công nghiệp
mỗi nước, đồng thời cũng tạo ra những thay đổi cơ cấu công nghiệp trong thời kỳ. Phong
tục, tập quán, truyền thống sản xuất công nghiệp ở mỗi nước cũng được thể hiên rõ nét
trong cơ cấu. Nhân tố này tác động gián tiếp qua nhu cầu và là nhu cầu có khả năng thanh
toán của dân cư.
Trình độ phân công lao động quốc tế , tính đa dạng của nhu cầu, sự khác nhau về
diều kiện thuận lợi trong sản xuất ở các nước đòi hỏi bất kể nền kinh tế nào cũng cần có sự
trao đổi kết quả hoạt động lao động, Chính vì vậy cần phải mở rộng mối liên hệ kinh tế
giữa các nước, mở rộng thị trường thế giới.
Các nhân tố trên tạo thành một hệ thống phức tạp có quan hệ mật thiết với nhau và
đồng thời phát huy tác dụng ảnh hưởng đối với cơ cấu ngành công nghiệp. Quá trình xây
dựng và phát triển công nghiệp nước ta cũng là quá trình cải tiến cơ cấu công nghiệp nói

hóa là một quá trình mà các xã hội ngày nay chuyển từ một kiểu kinh tế về chủ yếu dựa
trên nông nghiệp với các đặc điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực kỳ thấp hay bằng
không sang một kiểu kinh tế về cơ bản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất
cao và tăng trưởng tương đối cao”.
Encyclopedic Francie”
(15)
có định nghĩa vắn tắt sau: “Công nghiệp hóa, Hoạt động
mở rộng tiến bộ kỹ thuật với sự lùi dần của tính chất thủ công trong sản xuất hàng hóa và
cung cấp dịch vụ"
Định nghĩa của UNIDO đi sâu hơn vào khái niệm “công nghiệp hóa": "công nghiệp

(1) Trang 33- Văn kiện Đại hội Đảng VIII
(13)
(14) (15)
: Tài liệu tham khảo hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các
nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong
nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến
luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm
cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -
xã hội" (dẫn theo Nguyễn Kế Tuấn l6). Định nghĩa này đặt công nghiệp hóa trong bối cảnh
chung của phát triển kinh tế với nội dung cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở
công nghệ hiện đại nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế đồng thời hướng vào việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Kết luận : Có thể hiểu “Công nghiệp hóa" là một quá trình mà các xã hội chuyển từ
một kiểu kinh tế về chủ yếu dựa trên nông nghiệp với đặc điểm năng suất thấp và tăng
trưởng cực thấp hay không tăng trưởng sang một kiểu kinh tế về cơ bản dựa trên công
nghiệp với đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương đối cao, sự chuyển đó cũng là sự

thêm một cách đơn giản tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền KTQD mà
là cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ tạo nền tảng cho sự
phát triển sản xuất bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền KTQD, CNH phải biết đi
đôi với HĐH kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp vận dụng phát triển chiều
rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ lao động hiện nay với việc tranh thủ những
cơ hội đi tắt, đón đầu phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ tiến triển
của khoa học công nghiệp thế giới.
Nói đến HĐH là nói đến một quá trình lâu dài đầy gian khổ của việc cải biến một xã
hội cổ truyền thành xã hội hiện đại có trình độ văn minh cao hơn thể hiện đầy đủ hơn
những giá trị chung mà nhân loại vươn tới. Các nước khác thì có thể tiến hành CNH theo
hình thức khác nhau bằng con đường không hoàn toàn giống nhau. Trong quá trình CNH
gắn với HĐH ở nước ta hiện nay một vấn đề cần phải được nhận thức một cách đúng đắn
là vừa phải đi vào công nghiệ hiện đại. Phải coi trọng cả khu vực công nghệ truyền thống
và cơ khí thông thường lẫn khu vực công nghệ. Đối với khu vực công nghệ truyền thống và
cơ khí thì khuyến khích chủ yếu bằng chính sách kinh tế, chính sách công nghệ, bằng các
hoạt động thông tin phổ biến, khoa học và công nghệ, bằng chính sách khuyến khích việc
thâm nhập của công nghệ truyền thống. Còn về mặt đầu tư của nhà nước để phát triển tiềm
lực khoa học và định hướng cho các hoạt động nghiên cứu triển khai chủ yếu là phải tập trung vào công nghệ cao như: điện tử, tin học, công nghệ tin học, vật liệu mới, cơ khí
chính xác và tự động hóa, để tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc đi nhanh, đi thẳng vào
các ngành công nghệ cao không tự hạn chế trong phạm vi các điệu kiện, tiền đề hiện có.
Để tìm hiểu sâu hơn về CNH ta tìm hiểu bản chất của CNH :
Công nghiệp hóa là một quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất
cả các ngành kinh tế quốc dân. Trước hết, là những ngành chiếm vị trí trọng yếu, do vậy
phải gắn liền quá trình CNH với HĐH cả phần cứng và phần mềm của công nghệ là quá
trình xác định xã hội văn minh công nghiệp và cải tiến các ngành kinh tế hoạt động theo
phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại .HĐH là cái đích vươn tới trong quá trình
CNH - sự vươn lên về trình độ công nghệ lại bị ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả

của mỗi nước phụ thuộc quan điểm của hệ thống chính trị lãnh đạo, quy mô phương
hướng, nhịp độ CNH phụ thuộc vào quan điểm chính trị xã hội của đất nước.
Từ những hiểu biết về CNH ta thấy được tính tất yếu phải CNH, HĐH. Công nghiệp
hoá, hiện đại hóa là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn với các nước xung
quanh, thoát khỏi cảnh một nước kém phát triển nghèo đói, giữ được ổn định chính trị xã
hội, bảo vệ được độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa; CNH là một quá trình
tất yếu của lịch sử nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất
nước trên cơ sở khai thác các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế, nhiều ngành với nhiều trình độ khoa học công nghệ ngày
càng hiện đại.
Bước vào những năm 60 thì các nước công nghiệp mới, châu á mới chỉ là nước kém
phát triển điển hình là thu nhập quốc dân thấp (Nam Triều Tiên năm 1961 đạt 87USD thua
xa Việt Nam). Thế nhưng tới năm 1988 các nước này đã trở thành các nước phát triển
cùng Nhật và châu á. Giá trị tổng sản phẩm chung các ngành công nghiệp mới châu á năm
1988 là 396 tỷ USD và dự tính tới năm 2000 là 1039 tỷ USD lớn hơn giá trị sản phẩm của
phần châu á còn lại. Tốc độ phát triển công nghiệp của các nước ngày càng cao:
Singapore: 12,2% từ năm 1965-1980 và hơn 6% từ năm 1980-1987; Nam Triều Tiên:
16.6% từ năm 1965-1980 và hơn 10% từ năm 1980 -1985. Sự phát triển kinh tế của các
nước này là do đã nhanh chóng CNH đất nước.
Do vậy, tất yếu phải CNH-HĐH để đưa đất nước đi lên thoát khỏi tình trạng yếu kém về kỹ thuật, lạc hậu về mọi mặt nhất là đối với những nước kém phát triển như nước ta.
Trong quá trình CNH-HĐH đất nước không thế thiếu được ngành sản xuất công
nghiệp. Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn trong nền KTQD, là ngành cung cấp
công cụ lao động cho tất cả các ngành khác nên các ngành khác không thể phát triển nếu
thiếu ngành công nghiệp. Chính vì lẽ này, trong quá trình CNH-HĐH đất nước, phát triển
công nghiệp luôn chiếm vị trí hàng đầu, luôn được ưu tiên phát triển. Không thể CNH-
HĐH đất nước nếu không phát triển ngành công nghiệp vì không thể CNH-HĐH trên cơ sở
nền kinh tế kém phát triển. Hai quá trình luôn đi liền nhau và bổ trợ cho nhau.3. Kinh

thuật cao. Đạt được kết quả này là nhờ hai phương pháp chủ yếu:
Bảo hộ hầu hết các nước ASEAN (trừ nước Singapo) đều áp dụng biện pháp bảo hộ
cả thị trường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu.
Chính sách tích cực thâm nhập thị trường nước ngoài.
Có chính sách thu hút vốn đầu tư: Lý luận CNH chỉ ra là sự thành bại của quá trình
CNH là ở vấn đề vốn đầu tư và con người. Trong bối cảnh những năm 50 đến cuối thập kỷ
90 xu hướng vận động của vốn đầu tư có sự thay đổi. Do nhiều lý do khác nhau mà vốn
đầu tư chuyển sang các nước công nghiệp phát triển. Song ở hoàn cảnh đó các nước
ASEAN đã thực hiện chính sách khuyến khích cho đầu tư chảy vào nước mình:
Mở cửa không hạn chế đầu tư nước ngoài
Tạo môi trường đầu tư thuận lợi
Khuyến khích vật chất để thu hút vốn đầu tư
Đặc biệt phát triển các khu chế xuất để phát triển ngoại tệ thu hút vốn, giải quyết
công ăn việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu và khuyến khích khu vực kinh tế dân tộc.
Chú trọng giáo dục văn hóa truyền thống và giáo dục hướng nghiệp cho người lao
động. Trước hết chính phủ chú trọng giáo dục luật pháp và truyền thống dân tộc. Đặc biệt
quan tâm đến giáo dục hướng nghiệp từ phổ thông đến đại học, thúc đẩy áp dụng khoa học
kỹ thuật nhằm nâng cao trình độ cho người lao động. Cho phép phát triển rộng rãi mạng
lưới giáo dục đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
Chú trọng công nghiệp hướng về xuất khẩu đồng thời quan tâm đến phát triển công
nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình này đòi hỏi phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp có kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Các ngành công nghiệp nhỏ chiếm tỷ trọng nhỏ bé tuy vậy
thị trường phát triển lại đòi hỏi quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ vì nhiều lý do và để
khuyến khích phát triển công nghiệp nhỏ các nước đã:
Từng bước xóa bỏ quan niệm chưa đúng về vai trò của công nghiệp nhỏ.
Tăng cường vai trò của chính phủ để hỗ trợ việc cung cấp thông tin thị trường cho
doanh nghiệp nhỏ.
Hỗ trợ đào tạo cho công nghiệp nhỏ

công nghiệp nhẹ”2. Chiến lược này được củng cố và bổ sung qua các thời kỳ đại hội IV
(12/1976) V(1981) và các hội nghị trung ương, đại hội Đảng.
Để thực hiện chiến lược này, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước và nước
ngoài, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài, tranh thủ sự viện trợ
và giúp đỡ của các nước bạn XHCN chú trọng một khoảng thời gian chúng ta đã hình
thành được một nền kinh tế đa ngành, có các ngành quan trọng như cơ khí, luyện kim, điện
năng, khai thác than
Trong thời kỳ 1961-1965 tốc độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng công nghiệp là
13,4%, của nông nghiệp là 4,1%. Do vậy, tỷ trọng của công nghiệp trong TNQD tăng 16%
Năm 1957 lên 18,2%, năm 1960 và 22,2% năm 1965. Còn tỷ trọng nông nghiệp giảm từ
44,3% năm 1957 xuống 42,3% (1960) và 41,7% (1965). Đến năm 1964 miền Bắc nước ta
đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và đáp ứng được 90% nhu cầu hàng tiêu
dùng và đồng thời bắt đầu tạo nguồn tích lũy trong nước. Trong những năm có chiến tranh
phá hoại của Đế quốc Mỹ với chi phí phát triển kinh tế vẫn tăng lên 5,7 lần so với năm
1955-1057, gấp 2,4 lần so với 1960 và 1,8 lần so với 1964. Nhà nước đã giành đến 80%
tổng số vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong năm 1960-1965. Vốn đầu tư cho công
nghiệp nhóm A tăng 11,2 lần, nhóm B: 6,9 lần trong thời kỳ 1960-1965. Giá trị xuất khẩu

1 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần III, 1960.
2 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần III, 1960. thấp nền kinh tế luôn ở tình trạng nhập siêu.
Những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng
và phát triển như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng. Tốc độ phát
triển của các ngành công nghiệp thuộc nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển chung của toàn
ngành công nghiệp. Năm 1975 so với 1955 giá trị sản lượng ngành điện lực gấp 22,3 lần,
của ngành cơ khí gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần, trong lúc toàn ngành công

Nhận thức về CNh còn đơn giản, phiến diện và đồng nhất cách đi với thực chất của
CNH, coi phát triển công nghiệp nặng chính là CNH, dập khuôn máy móc lý luận và mô
hình CNH ở Liên Xô.
Chiến tranh kéo dài, không có điều kiện tập trung trí lực đầu tư cho nghiên cứu lý
luận và chỉ đạo thực hiện chiến lược CNH.
Chưa xác định đúng vị trí, vai trò của công nghiệp trong suốt một thời gian dài, do đó
chưa tạo được những tiền đề cơ bản cho CNH.
- Nóng vội trong cải tạo XHCN, hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế tư
nhân và cá thể vì vậy không huy động được các nguồn lực trong nước tham gia vào CNH
đất nước. Trước tình hình đó Đại hội Đảng V (1981) đã xác định: “Nội dung chính của
CNH XHCN trong những năm 1981-1985 và những năm 80 là tập trung sự phát triển mạnh
nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn
XHCN, ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng
quan trọng”1. Sự thay đổi đó bước đầu đã có tác dụng đến phát triển kinh tế - xã hội và
CNH. Bình quân hàng năm sản xuất công nghiệp tăng 0,5%; TNQD tăng từ 20,5% năm
1980 lên 30% năm 1985.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Đây là thời kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức quan điểm và tổ chức
chỉ đạo thực hiện Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ quan điểm và chủ trương, phương
hướng đổimới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên
CNXH, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh

1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo”2 và “Trước mắt là kế hoạch 5 năm
1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được 3
chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”3.
Từ quan điểm và chủ trương mới trên Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng cơ
chế và bằng các chính sách biện pháp thực hiện cụ thể là: chính sách kinh tế nhiều thành

lực lượng sản xuất CNH theo hướng hiện đại gắn liền với việc phát triển một nền nông
nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của XHCN không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân
dân”1. Đại hội Đảng VII cũng xác định mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm (1991-1995):
“Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất
xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế”2 .
Quá trình đổi mới đã tạo nên được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, thành
tựu CNH trong những năm 1991,1992,1993 cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực tế hơn
so với nhiều năm trước đây - lạm phát được kiềm chế, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu lớn hơn
tổng sản phẩm xã hội. Cán cân thanh toán chuyển từ thiếu hụt 9% GDP giữa năm 1980
sang thặng dư 2%GDP. Tổng sản phẩm trong nước 1991 tăng 6,1% so với năm 1990.
Trong đó giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 10,4%; nông nghiệp tăng 1,9%; xuất
khẩu tăng 13,2%.
Sự phát triển công nghiệp trong những năm đổi mới không chỉ thể hiện ở tốc độ tăng
trưởng mà quan trọng hơn là ở sự chú trọng đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh
của sản phẩm công nghiệp, và ở sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất gắn với thị
trường trong và ngoài nước, phát triển nhanh các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có
tác động đến sự phát triển chung của nền KTQD và đa dạng hóa các loại hình tổ chức kinh
doanh. Ngành dầu khí có sự phát triển vượt bậc, ngành than có khối lượng xuất khẩu vượt
1,6 triệu tấn, ngành sản xuất điện phát triển mạnh, ngành dệt và may mặc cũng phát triển
phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm đã
có bước tiến mới góp phần đưa sản lượng gạo xuất khẩu đạt 2 triệu tấn.

3 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

liệu gấp 2 đến 3 lần mức trung bình của thế giới. Nét nổi bật là thiết bị cũ, thiếu phụ tùng
thay thế, thiếu bảo dưỡng và sửa chữa nên thiết bị ngày càng xuống cấp nghiêm trọng.
Theo con số kiểm kê ngày 1-1-1990 TSCĐ của công nghiệp (chủ yếu là công nghiệp quốc
doanh) lên tới gần 29.000tỷ động, giá trị còn lại hơn 16.500 tỷ đồng. Trong đó máy móc
thiết bị được sử dụng trực tiếp để làm ra sản phẩm chỉ chiếm 26%, còn nhà cửa vật kiến
trúc chiếm tỷ trọng đến 36%.
Do chưa ý thức đầy đủ về giá thành và chất lượng, nhất là chưa có quan điểm rõ ràng
trang việc nâng cao đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và quy trình sản xuất nên giá thành sản
phẩm sản xuất thường cao, chất lượng kém, hình dáng xấu, vì thế sản phẩm khó tiêu thụ.
Trong thời gian qua chỉ có 70% sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhiều xí nghiệp đòi
hỏi được trang bị và HĐH nhưng lại gặp phải khó khăn về nguồn vốn đầu tư.
Phần lớn các xí nghiệp chỉ mới hoạt động 50%-60% công suất máy. Trình độ sử dụng
tài sản thấp phổ biến là làm việc 1 ca (36%). Hệ số sinh lợi của vốn cố định (lợi nhuận trên
1000đồng VCĐ) trong năm 1989: bình quân toàn quốc đạt 70 đồng trong đó công nghiệp
chỉ đạt 30 đồng.
Sự phát triển quá lớn về lượng của các xí nghiệp công nghiệp địa phương càng làm
gay gắt thêm tình trạng mất cân đối của nền kinh tế và gây lãng phí lớn trong sử dụng vốn
đầu tư, tài nguyên, nguyên vật liệu. Hiện nay bình quân mỗi tỉnh, thành phố có 60%-70%
xí nghiệp công nghiệp, quá khả năng cho phép của một địa phương.
Tuy nhiên cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế
theo đường lối Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra, nhiều cơ sở kinh tế, nhất là các xí
nghiệp quốc doanh trung ương đang thích ứng dần với môi trường kinh doanh mới, bước
đầu duy trì, ổn định và phát triển sản xuất. Nhiều loại sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng
nhanh và chất lượng nâng lên rõ rệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường như điện, than,
dầu thô, máy biến thế, xi măng, động cơ điezen Điểm nổi bật là hầu hết các xí nghiệp
dần dần gắn sản xuất với thị trường, chú ý đầu tư chiều sâu, đổi mới mặt hàng, quan tâm
đến chi phí giá thành. Một số xí nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi thực sự và tăng nhanh khoản
nộp cho ngân sách Nhà nước (như liên hiệp xí nghiệp xi măng năm 1990 nộp ngân sách
gấp 19 lần năm 1991). Nhiều điển hình tốt xuất hiện như liên hiệp xí nghiệp dệt Long An;

Trích đoạn Các giải pháp chủ yếu đã phát triển công nghiệp trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status