Trường…………….
Khoa……………….
………… o0o…………
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
Quá trình đổi mới tư duy kinh tế
ở Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
1
MỤC LỤC
A.LỜI MỞ ĐẦU 2
B. PHẦN NỘI DUNG 3
I.Tư duy kinh tế trước đổi mới(1975- 1986) 3
1.Thời kỳ 1976-1982 3
2.Thời kỳ 1982-1986 4
II.Tư duy kinh tế sau đổi mới(1987 đến nay) 5
C.KẾT LUẬN 14
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………….15
2
A.LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, chặng đường đổi mới cũng không phải là và không thể là
một lộ trình đã được tính trước tất cả, đồng thuận tất cả. Đó là sự chung đúc những trăn
trở, những ý tưởng, những sáng kiến của rất nhiều bộ óc, nhiều cơ sở, nhiều địa phương.
Đó cũng là một quá trình vừa đi vừa tìm đường, vừa đi vừa điều chỉnh, đấu tranh với cái
cũ, đấu tranh với chính mình, thuyết phục nhau, chờ đợi nhau, rồi từng bước đi tới đồng
thuận. Trên lộ trình đó, có những bộ óc bứt phá, vươn lên trước và lần lượt cuốn hút cả
tập thể tiến lên. Có cả những sức ỳ, những nghi kỵ, những cản trở do chưa kịp nhận thức
ra cái mới. Có những bộ óc đã từng trì trệ, bỗng bừng tỉnh, vượt lên, tỏa sáng. Có những
trường hợp sau khi vượt trội, tỏa sáng lại ngưng trệ, lu mờ, bị đà tiến chung vượt qua. Lại
có không ít bộ óc rất cấp tiến về mặt này, nhưng lại chưa chuyển biến kịp về mặt kia.
Nhưng tổng hợp lực của sự vận động là tiến tới, tiến tới trong sự đồng thuận ngày càng
tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tập thể, trí
thức xã hội chủ nghĩa và lao động khác), xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xoá
bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu.
Để thực hiện điều này, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống kinh tế trong đó:
• Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển,
• Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân
ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể,
• Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất.
• Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước xã
hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978.
Do sản xuất kém phát triển, hàng hóa không đủ,
nên việc phân phối bị kiểm soát bằng chế độ tem
phiếu.
4
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầm của các
cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế,
quản lý xã hội” dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế
hoạch nhà nước quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân
phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của; rất
bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của Trung
ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất nước kéo
dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề
cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, và cũng
không tập trung thích đáng những vấn đề mà Trung ương cần và phải quản lý duy trì
quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở sản xuất và không phát
huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của những người lao động chưa
nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếu những biện pháp có hiệu quả,"
Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thực thi "đánh tư sản mại bản",
(hay Khoán 100 gọi dựa theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng CSVN khóa
IV) và mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh (nghị
quyết 25/CP của Chính phủ) được Đảng và Chính phủ cho phép thí điểm và dần áp dụng
rộng rãi từ năm 1981. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số nhà nghiên cứu kinh
tế gồm cả những người được đào tạo thời Việt Nam Cộng hòa đã được lãnh đạo Đảng
triệu tập để nghiên cứu, chuẩn bị cho Đổi Mới.
Những thực tiễn “xé rào” và lý luận mới trên đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam
triển khai chính thức chương trình Đổi mới tư duy quản lý kinh tế mà thể hiện trước hết
là nghị quyết của Đại hội VI tổ chức vào giữa tháng 12 năm 1986.Đề cập tới sự cần thiết
đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải
đi đôi với đổi mới cơ chế quản lí kinh tế. Cơ chế quản lí tập trung quản lí tập trung quan
lieu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực động lực phát triển, làm suy yếu
kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác,
kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối
lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”.Chính vì vậy, việc đổi mới cơ
chế quản lí kinh tế quản lí kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách. Và, giai đoạn
Đổi Mới bắt đầu từ năm 1987.
II.Tư duy kinh tế sau đổi mới(1987 đến nay)
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta cũng được
đổi mới qua nhiều bước.
Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là kinh tế
thị trường. Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ không phải nói về
toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do đó, trong khi phê phán
nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới
quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định:
6
“thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển
thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị
7
chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các
thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản
nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX ra Nghị quyết: Tiếp tục đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
thời kỳ 2001 - 2010; khẳng định kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt
là Hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể liên kết rộng rãi
người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không giới hạn quy mô,
lĩnh vực, địa bàn; phân phối theo lao động, vốn và mức độ tham gia dịch vụ. Phát triển
kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN; kinh tế tư nhân được phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất kinh
doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô; những đảng viên đang làm
chủ các doanh nghiệp tư nhân chấp hành tốt Điều lệ Đảng và pháp luật, chính sách của
Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng; Đại hội IX cũng nhấn mạnh việc phát triển nền
kinh tế nước ta ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, phải tạo ra bước tiến rõ rệt về chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN, chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Những chủ trương chính sách kinh tế mới của Đại hội IX và các Nghị quyết Trung ương
(khóa IX) đề ra đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng tích cực tạo nhiều
cơ hội cho nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình
nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ là
những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng
chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất
cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của
lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa
bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng
của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy
9
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi
mới và phát triển với những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển
các thành phần kinh tế tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát
triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập
trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến
phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh;
chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn
chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của
kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ,
vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên
bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa
chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh.
- Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối
theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức
đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi
xã hội. Công bằng xã hội thể hiện không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở
chỗ phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi
người đến có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự
làm giàu mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật,
thổ và an ninh quốc gia được giữ vững. Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm, vị thế
quốc tế của đất nước được nâng lên rõ rệt.
Thực tế cuộc sống cho thấy, đang có xu hướng bằng lòng với những thành tựu đạt
được. Ngược lại với xu hướng trên, lại có biểu hiện nóng vội, quá chú trọng đến tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao mà chưa quan tâm, chú trọng đúng mức đến phát triển bền vững
và chất lượng. Hơn nữa, có nơi còn có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm cho lãnh đạo cấp
trên, xem đổi mới tư duy là trách nhiệm của những người lãnh đạo, của các nhà quản lý.
Đổi mới tư duy kinh tế của chúng ta chưa theo kịp với những biến đổi nhanh chóng của
thời đại, chưa giải quyết thỏa đáng những đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra. Do vậy, để giải
quyết tốt những vấn đề từ thực tiễn cuộc sống, cũng như lý luận kinh tế thì trong thời
gian tới cần phải tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế.
Trong bối cảnh mới, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu
vực và quốc tế, cần phải nhận thức được rằng: luôn luôn chủ động, sáng tạo và dựa vào
nội lực. Để từ đó thấy rằng: mọi chủ trương chính sách tiếp tục đổi mới kinh tế phải coi
ưu tiên số một là giải phóng lực lượng sản xuất và mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của xã
hội nhằm tất cả vì mục tiêu phát triển.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh,
phát triển bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng đại hàng đầu, là nhiệm vụ trung tâm.
11
Bên cạnh đó, phải lưu ý lãnh đạo thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ song song:
CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và phát triển mạnh nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Cần phải nhận thức sâu sắc rằng thành công của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước trước mắt, cũng như lâu dài không thể tách rời sự phát triển ngày
càng hiện đại của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đo, là một trong những
vấn đề có tính “hạt nhân” của sự tiếp tục đổi mới lãnh đạo kinh tế của Đảng là đề ra và
thực hiện được những chính sách kinh tế có tác động tích cực thúc đẩy mạnh nền kinh tế
thị trường phát triển theo định hướng XHCN và thực hiện có hiệu quả các chính sách
CNH, HĐH đất nước để từng bước thực hiện được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Cũng cần phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế với
quốc gia cùng hợp tác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Rõ ràng là, cho đến nay Đảng ta vẫn là lực lượng chính trị duy nhất đảm nhận vai
trò tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới đất nước giai đoạn mới từ nay về
sau - giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và phát triển bền vững hơn.
Chính sách “đổi mới” được xem là lối thoát cho cuộc khủng hoảng về chính sách
kinh tế ở nước ta kéo dài mấy thập kỷ. Nó khơi thông dòng chảy cho các hoạt động kinh
tế. Tuy nhiên, nó không phải là lời giải cho những vấn đề cơ bản của kinh tế Việt Nam,
của xã hội Việt Nam. Bàn về vấn đề nhạy cảm này cũng chính là chúng ta chúng ta đi tim
đáp án cho 1 loạt câu hỏi nhức nhối hiện nay:
- Với sự phát triển của kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu? Sẽ trở
thành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển ư? Làm thế nào hòa hợp được với định
hướng xã hội chủ nghĩa?
- Với kinh tế thị trường thì tránh sao được phân hóa giàu nghèo trong lớp người tiểu sản
xuất, tránh sao được “hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản”? Ai đó đã gắn chủ
nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường, nhưng chưa có ai chứng minh được chúng gắn
với nhau như thế nào!
- Với chính sách “đổi mới”, chúng ta đang ở vào thời điểm nào của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội? Những chính sách kinh tế đặc trưng của thời điểm ấy là gì? Đến lúc
nào thì chính sách “đổi mới” hết tác dụng và phải thay bằng chính sách khác?
- Với sự phá sản của mô hình xã hội chủ nghĩa Liên Xô, từ nay người ta phải hiểu chủ
nghĩa xã hội theo mô hình nào, theo những đặc trưng nào? Phải hiểu định hướng xã hội
chủ nghĩa theo những định hướng nào, đặc trưng nào?
- Đạt đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như Liên Xô, như Đông Âu, mà vẫn
13
thấy chưa đủ chín muồi để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, vậy thì Việt Nam sẽ phải rút
ra kết luận như thế nào cho con đường phát triển hướng tới chủ nghĩa xã hội của mình?
Việt Nam sẽ phải trải qua những “bước quá độ nhỏ” như thế nào để hướng tới mục tiêu
đó?
- Cuối cùng thì cũng vẫn phải quay về với những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mac-
Lenin. Những phát hiện của Mac-Lenin về chủ nghĩa tư bản có còn đúng nữa không?
trị, giữ vững lý tưởng XHCN, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh với vai trò là chủ thể tích cực, là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Để cùng đất nước vượt qua những khó khăn, trước mắt mỗi thanh niên phải nỗ lực
nhiều hơn, đặc biệt là phải mở rộng tầm hiểu biết của mình về tình hình thế giới để có tư
duy, hành động phù hợp hơn. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của
thanh niên, của tổ chức đoàn để cùng đất nước gặt hái được nhiều thành công trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Hoàn thành bài tiểu luận về “Quá trình đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam giai
đoạn 1975 đến nay”- một vấn đề quan trọng và xuyên suốt luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm hàng đầu nên chắc chắn em không tránh khỏi những thiếu sót do trình độ còn
hạn chế, thời gian không cho phép nghiên cứu sâu rộng, điều kiện để thu thập thông tin
còn khó khăn…Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài
tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đỗ Thị Yến đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành đề tài tiểu luận này./.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào
tạo chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản.
2. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Các Văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam
4. Website Đảng Cộng sản Việt Nam ()
16