Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS PHAN TRỌNG THƯỞNG
Thái Nguyên, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn :
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học
trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên.
- Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội,
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dậy
trong suốt khoá học.
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 10
5. Đóng góp của luận văn.......................................................................... 10
6. Cấu trúc của luận văn............................................................................ 10
Phần nội dung
Chương I
Bối cảnh lịch sử
và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975- 1985
1. Bối cảnh lịch sử, xã hội........................................................................ 12
1.1. Tình hình đất nước sau chiến tranh...............................................12
1.2. Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng
chủ nghĩa xã hội....................................................................................... 13
1.3. Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc............................................................. 14
2. Tình hình phát triển của văn xuôi......................................................... 15
3. Diện mạo của truyện ngắn.................................................................... 19
3.1. Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con
người......................................................................................................... 19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2. Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng.............................35
3.3. Thành tựu của truyện ngắn.......................................................... 37
Những thay đổi về đề tài và cảm hứng
trong truyện ngắn việt nam 1975-1985
1. Những thay đổi về đề tài ở truyện ngắn sau 1975..................... ........... 41
Sự tiếp tục đề tài chiến tranh.......................................................... 41
. Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư..................... 51
2. Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn 1975- 1985..... 62
2.1. Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư...... 63
2.2. Cảm hứng đạo đức giữ vị trí quan trọng....................................... 65
2.3. Sự trở lại của cảm hứng bi kịch............................................... ... 69
2.4. cảm hứng phê phán........................................................................71
2.5. Cảm hứng nhân văn.......................................................................72
1
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
5 khẳng định thì giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ đầu những năm 80 là
thời kỳ chuẩn bị tích cực, là bước khởi động tạo đà cần thiết cho công cuộc
đổi mới văn học. Có thể coi văn học giai đoạn 1975 -1985 là thời kỳ tiền trạm
cho cái mới. Chính vì vậy, khi tìm hiểu tiến trình đổi mới của văn xuôi nói
chung, truyện ngắn nói riêng không thể không tìm hiểu bước đầu xây nền đắp
móng trong giai đoạn tiền đổi mới. Dẫu đó là sự chuẩn bị âm thầm nhưng rất
tích cực và cần thiết, là bước tạo đà cho quá trình đổi mới văn học hôm
nay.Truyện ngắn không phải là thể loại duy nhất nhưng lại tập trung nhiều
nhất những yếu tố của một nền văn học đang đổi mới như văn học Việt Nam
sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Chính những điều đó đã giúp tôi lựa chọn
đề tài : Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1. Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của
truyện ngắn sau 1975.
Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt
Nam từ sau 1975” (Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và
giảng dậy, Nxb Giáo dục, 2006), tác giả Nguyễn Văn Long nhận xét : Từ
1975- 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh
sang văn học thời hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề
tài, cảm hứng, các phương tiện nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn
học. Những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã giúp thu hẹp bớt khoảng
cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời
cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi
bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể coi đó là một nhận xét khái quát về đặc điểm
của văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, trong đó có truyện ngắn. Một thể loại luôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Đó cũng là nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh khi ghi
nhận công lao của truyện ngắn trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới văn
học. Truyện ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề
đạo đức thế sự nhanh chóng đạt đến một độ chín cả trong hình thức và nội
dung mà tiểu thuyết còn chưa kịp đạt đến (“Văn học Việt Nam hiện đại -
Nhận thức và thẩm định”, Nxb Khoa học xã hội, 2001). Thật ra, nhận định
của hai tác giả về vai trò hàng đầu của truyện ngắn chỉ đúng trong tình hình
văn học ở giai đoạn đầu những năm 80 khi văn học thực sự bước vào giai
đoạn đổi mới.
Điều này cũng được tác giả Phạm Mạnh Hùng thừa nhận trong cuốn
sách “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX” (Nxb Đại học quốc gia
Hà nội, H, 1999): Truyện ngắn vẫn xuất hiện đều đặn trong các báo, tạp chí
văn nghệ trong Nam ngoài Bắc với một số lượng không nhỏ. Trong khoảng 5
năm đầu của thời kỳ hoà bình, truyện ngắn vẫn tiếp tục những đề tài và chủ
đề, phong cách, bút pháp và các giọng điệu như đã thấy trong văn học trước
đó. Nhưng từ những năm 80 bắt đầu xuất hiện nhiều truyện ngắn có dấu hiệu
mới về tư tưởng, về nghệ thuật. Theo tác giả, cái mới trong những truyện ngắn
này là việc đi vào những đề tài mới của cuộc sống sau chiến tranh, hay vẫn
viết về chiến tranh nhưng với cách nhìn mới với những mối quan tâm, suy tư,
trăn trở mới. Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc
độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cả cái bình thường.
Xu thế mới này ở truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 được tác giả Bùi
Việt Thắng khẳng định và lý giải: truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu
hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa
dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực. Tính chất phức tạp của đời sống
tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh
tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào. Nhìn
chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách
tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự
nói lên quan điểm, thái độ của mình và để có các ý thức cùng có quyền phát
ngôn, cùng đối thoại. Bên cạnh đó sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng
trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một thời
gian duy nhất là những nét mới trong nghệ thuật biểu hiện. Tất cả những thủ
pháp ấy đều nhằm tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mới để đáp ứng xu thế của
thời đại.
Nhà văn Ma Văn Kháng lại rất chú ý đến ngôn ngữ của truyện ngắn.
Theo ông, đó là thứ ngôn ngữ vừa dung dị, vừa ma quái thêm, nó sử dụng đến
sức mạnh tổng hợp của câu chữ (“Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn
nghệ quân đội, Tháng 7,1992).
Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 có xu hướng
vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều
hình thức khác nhau để tái tạo đời sống.Vì thế, truyện ngắn ở giai đoạn tiền đổi
mới này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của truyện
ngắn dân tộc suốt cả thế kỷ XX (Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn những vấn đề lý
thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2000).
2. 2. Những bài nghiên cứu về tác giả
Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là: Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Ma Văn Kháng. Bởi trong những
điều kiện cực kỳ khó khăn của đất nước, sáng tác của họ đã đốt lên nhiệt tình
tìm kiếm chân lý, báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam
khi nó dám sòng phẳng với quá khứ bất chấp trở lực cản ngăn (Lã Nguyễn,
“Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật”, Tạp
chí văn học số 2-1989).
Tuy nhiên các tác giả Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng lại
miêu tả thậm chí là có phần ác quá. Song ta đã chấp nhận phong cách này, thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
để cho nó đi hết sự phát triển vốn có, không dừng lại nửa vời (Vương Trí Nhàn
trong “Văn học 1975-1985- Tác phẩm và dư luận”, Nxb hội nhà văn, 1997).
Đúng là ở chặng đầu của hành trình đổi mới, các tác giả của văn xuôi
nói chung và các cây bút viết truyện ngắn nói riêng mới chỉ khoan những mũi
thăm dò đầu tiên trên những vùng đất mới. Có mũi thăm dò thành công nhưng
cũng không ít thất bại. Song những nỗ lực của họ đã được ghi nhận. Vì chính
họ đã góp phần chuẩn bị để tạo ra một vụ mùa lớn của thể loại ở giai đoạn
sau.
2.3. Những bài viết về tác phẩm
Trong khoảng 10 năm (từ 1975 đến 1985) số lượng truyện ngắn in trên
các báo quả là không nhỏ. ở đây chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu
một số tác phẩm được giải trên các tạp chí, các tập truyện có tác động không
nhỏ đến diện mạo văn học giai đoạn này hoặc đánh dấu sự đổi mới trong sự
nghiệp của các cây bút viết truyện ngắn. Có thể kể đến các tập truyện của các
tác giả: Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
(1983), Bến quê (1985); Xuân Thiều với Gió từ miền cát (1985); Dương Thu
Hương với Những bông bần li (1981); Ma Văn Kháng với Ngày đẹp trời
(1986); Lê Minh Khuê với Đoạn kết (1983), Một chiều xa thành phố
(1986)…và các tập truyện ngắn được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân
đội: Có một đêm như thế (1981), Thời gian (1985)…
Số lượng các bài viết này rất nhiều, đăng tải cả trên báo trung ương và
báo địa phương dưới dạng thức điểm sách hoặc phê bình. Loại bài viết này
phần lớn đều nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận về nội dung hoặc nghệ thuật,
về những phương diện đổi mới của từng truyện ngắn hay tập truyện ngắn cụ
thể. Qua đó góp phần khẳng định xu thế đổi mới tất yếu của thể loại cũng như
của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
thống kê, nghiên cứu những truyện ngắn của một số tác giả đã định hình và có
thể xem là tiêu biểu cho xu hướng đổi mới; những truyện ngắn được giải
thưởng trong các cuộc thi ở các báo trung ương, những tập truyện ngắn có
tiếng vang hoặc gây dư luận trong quần chúng.
Tuy nhiên đó cũng chỉ là sự khoanh vùng có tính chất tương đối để luận
văn có thể tập trung hơn vào những vấn đề đổi mới của truyện ngắn trong một
giai đoạn khá phong phú và phức tạp này.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp
sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
5. Đóng góp của luận văn:
Luận văn cố gắng đi sâu làm nổi bật những dấu hiệu đổi mới của truyện
ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong cái nhìn tổng thể và toàn diện. Hy vọng luận
văn sẽ góp phần vào việc nhìn nhận quá trình vận động của thể loại truyện
ngắn trong đời sống văn học và là bước tạo đà, gợi mở cho việc nghiên cứu
truyện ngắn ở những giai đoạn sau.
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương:
Chương I: Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt Nam
giai đoạn 1975- 1985.
Chương II: Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn Việt
Nam giai đoạn 1975- 1985.
Chương III: Những đổi mới bước đầu về nghệ thuật truyện ngắn 1975-
1985.
11
gọi những người từng làm việc trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình
diện đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ ngoan cố chống đối. Các hoạt
động văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội cũng được tiến hành khẩn trương. Đài
phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được sử dụng kịp thời vào công tác
thông tin tuyên truyền cổ động.
Những hoạt động trên ở hai miền Nam Bắc bước đầu đã ổn định tình
hình khinh tế xã hội của đất nước ngay sau chiến tranh.
1.2. Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng
chủ nghĩa xã hội
Nhiệm vụ giành lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc đã
hoàn thành. Nhưng về thể chế chính trị, chúng ta vẫn chưa có một nhà nước
chung. Do đó yêu cầu hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước được
đặt ra một cách bức thiết. Ngày 25- 4- 1976, cuộc tổng tuyển cử Quốc hội
chung được tiến hành trong cả nước. Ngay sau đó Quốc hội khoá VI đã họp
kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội. Quốc hội đã quyết định nhiều lĩnh vực quan trọng
của đất nước trong thời kỳ mới. Từ đây, nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành thống
nhất đất nước trên các lĩnh vữc chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội sẽ
gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong
phạm vi cả nước. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng lao
động Việt Nam lần thứ IV nêu rõ: Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công
nhân giữ vai trò vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự
bắt đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Điều đó đã được cụ thể hoá trong hai kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 -
1980 và 1981 - 1985. Việc thực hiện những kế hoạch này đạt được những kết
quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Đời sống của đại bộ phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Chấm dứt hai cuộc xung đột biên giới phía Bắc và Tây Nam, nước ta đã
bảo vệ toàn vẹn lành thổ và khôi phục, giữ vững tình đoàn kết hữu nghị hợp
tác với các nước láng giềng.
Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước 10 năm sau chiến tranh có
nhiều chuyển biến phức tạp. Điều này có tác động không nhỏ đến đời sống
của văn học nước nhà.
2. Tình hình phát triển của văn xuôi
Sự phát triển của một nền văn học nói chung, văn xuôi nói riêng bao
gồm nhiều vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. ở đây chúng tôi chỉ đi
vào lĩnh vực sáng tác của văn xuôi trong giai đoạn 1975 - 1985 để từ đó có
được cái nhìn khách quan, tổng thể về diện mạo của truyện ngắn trong giai
đoạn này.
Với dân tộc Việt Nam, dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử
đất nước: chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống với những quy luật
không bình thường của chiến tranh sang cuộc sống bình thường, hàng ngày của
nhân dân. Tuy nhiên, văn học lại không sang trang cùng lúc với lịch sử. Nền
văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật, những cảm hứng
chủ đạo trong chiến tranh cho đến khoảng đầu những năm 1980. Điều này đúng
với lý luận của Mác: ý thức thường chậm hơn so với thực tại xã hội.
Sự chạy theo quán tính này của văn học dẫn đến tình trạng mất độc giả.
Sau chiến tranh, các nhà văn có điều kiện, có nhiều thời gian hơn để viết thì
bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất thắm thiết máu thịt giữa văn học và công
chúng, giữa sáng tác và người đọc lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi. Người
đọc quay lưng lại với những sáng tác hiện tại. Đó cũng chính là khoảng thời
gian mà Nguyên Ngọc gọi là khoảng chân không trong văn học. ở đó, âm
không truyền đi được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
của cuộc kháng chiến ở tầm vóc và quy mô lớn như Ông cố vấn (Hữu Mai).
Độ lùi của thời gian cũng đã cho phép các nhà văn đi vào những mặt trái,
những góc khuất của chiến tranh. Đó là sự hy sinh mất mát, cả những lầm lạc,
hèn nhát, phản bội của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ - những người trong văn
học cách mạng thường chỉ được phản ánh ở sự dũng cảm, ở mặt tốt, mặt phi
thường (Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh).
Tuy nhiên do bối cảnh xã hội đã thay đổi, càng về sau, khuynh hướng
sử thi càng có xu hướng co hẹp lại nhường chỗ cho sự phát triển của khuynh
hướng thế sự. Lúc này, văn xuôi thực sự bước sang địa hạt của những vấn đề
trong đời sống thường nhật. Đứng trứơc hiện thực này đòi hỏi người nghệ sĩ
phải thay đổi cách nhìn nhận, cách tiếp cận cuộc sống. Nếu trong chiến tranh
mọi việc đều được nhận thức theo một chiều (trắng - đen, tốt – xấu), ngay cả
việc đánh giá con người cũng thông qua những chuẩn mực toàn dân thì giờ
đây trong hoà bình, khi quy luật của chiến tranh đã hết hiệu lực, những chuẩn
mực cũ không đáp ứng được hiện tại mới. Con người cần xây dựng những
chuẩn mực mới.
Trên mảnh đất sôi động của cuộc sống hiện thực sau chiến tranh, văn
xuôi có những điều kiện để phát triển. Nguyễn Khải viết: Tôi thích cái hôm
nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu
đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật làmột mảnh đất phì
nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ[25/74-75]. Trong ngổn ngang hiện thực
đó, nổi lên những vấn đề được nhiều cây bút quan tâm như: đạo đức xã hội,
tiêu cực trong quản lí sản xuất, nhận thức lại một số vấn đề trong qúa khứ...
Với Hai người trở lại trung đoàn (1976), Thái Bá Lợi là người mở đầu
báo hiệu cuộc đấu tranh phức tạp chống lại sự sói mòn trong đạo đức của con
người. Những bông bần li (1981) của Dương Thu Hương lại đặt ra vấn đề
đạo đức và số phận con người trong một xã hội tiêu dùng. Sau những năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Nguyễn Minh Châu... là những tác phẩm viết theo hướng này. Các tác phẩm
đó đã đặt ra vấn đề nhận thức lại quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con
người và hoàn cảnh nhưng quan trọng hơn là con người tự nhận thức lại chính
mình. Viết theo xu hướng này nhà văn cần có cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt và
một tấm lòng chân thành, như lời tâm sự của tác giả Võ Văn Trực viết lại
chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý đồ xấu xa moi móc những sai lầm chúng
ta đã vấp phải để rồi đổ lỗi cho người này hay người kia mà cốt để chúng ta
đừng lặp lại những sai lầm ấy[74/5]. Do đó, trên lối đi mới này, các nhà văn
đã đem lại cho bạn đọc những kiến giải thú vị, có khả năng thanh lọc tâm hồn
con người.
Như vậy, thâm nhập vào đời sống văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, đặc
biệt từ nửa đầu những năm 80 trở đi có manh nha vật chất mới, còn rất loãng,
tất nhiên, đang vận động, đang hình thành, đang tụ lại dần, khó nhọc, chậm
chạp, nhưng về xu thế lâu dài là hứa hẹn[51/10]. Đó là sự đổi mới trong nhận
thức về hiện thực theo hướng nhìn sâu hơn hiện thực ấy. Đó cũng là cảm
hứng phân tích để chỉ ra nhiều mặt của hiện thực (bao gồm cả mặt sáng và
mặt tối), là khát vọng dân chủ và nhân đạo, hướng sự quan tâm vào con người
cá nhân. Những chuyển đổi trong nội dung phản ánh này cũng đòi hỏi sự đổi
mới trong hình thức thể hiện.
Sự khởi động của một thời kì văn học mới cũng ảnh hưởng bởi mảng
văn học dịch. Trước năm 1975, văn học nước ngoài đương đại được dịch và
giới thiệu ở Việt Nam chủ yếu là những sáng tác của các nước trong hệ thống
xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, hoạt động dịch, giới thiệu nền văn học đương đại
Âu- Mỹ diễn ra sôi nổi. Các tác phẩm đoạt giả Nôben, các tác phẩm thuộc
nhiều trường phái nghệ thuật khác nhau như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh,
hiện đại, hậu hiện đại... được dịch rộng rãi. Ngay cả một số tác phẩm văn học
các nước xã hội chủ nghĩa từng bị cấm như thơ Akhơmatôva, tiểu thuyết của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
đời sống xã hội được nâng lên tầm khái quát nhưng vẫn mang hơi thở của
cuộc sống và vẫn gắn bó máu thịt với cuộc đời thực. Quan niệm về hiện thực
thể hiện sự khám phá, sự lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn.
Và mỗi người thường có môt vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà tự nó đã ghi
đậm dấu ấn của chủ thể sáng tác.
Trong văn xuôi thời kì trước năm 1975, do yêu cầu của cách mạng nên
hiện thực được phản ánh trong tác phẩm chủ yếu là hiện thực chiến tranh. Đó
là hiện thực của cuộc sống chiến đấu họăc vừa chiến đấu vừa sản xuất nhiều
khi được tráng một lớp men trữ tình hơi dày. Nói như Nguyễn Minh Châu
hiện thực của văn học có khi không phải là hiện thực đang tồn tại mà là cái
hiện thực mọi người đang hi vọng, đang mơ ước .
Sau chiến tranh, khi hiện thực cuộc sống thay đổi, khi tư duy nghệ thuật
cũng dân chủ hơn thì biên độ của hiện thực ngày càng được mở rộng. Đó
không chỉ là hiện thực về đời sống chiến tranh được miêu tả dưới cái nhìn
mới mà còn là hiện thực về số phận của một cá nhân, một gia đình, một dòng
họ sau những tổn thất to lớn trong chiến tranh, hay là hiện thực cuộc sống
trong thời kì khủng hoảng, bế tắc của xã hội. Cuộc sống được phản ánh vào
trong tác phẩm không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà còn thấm thía nỗi
buồn của con ngưòi phần hậu chiến, là cuộc sống với tất cả cái sôi động
quyết liệt của cuộc đấu tranh cũng như cái đời thường vừa nhân hậu ấm áp,
vừa nhếch nhác lấm lem[36/12]. Sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực
như vậy giúp nhà văn phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn hơn, chân thực
hơn. Văn xuôi vượt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, vào một cái nhìn đã
định trước để mở ra khả năng phong phú vô tận trong việc khám phá và thể
hiện đời sống. Nhà văn cũng có thể đi đến những miền khuất, những mặt trái
của đời sống, đến với chiều sâu tâm tưởng, tâm linh của con người. Những
nơi mà trước đây trong chiến tranh họ ít có điều kiện để khai vỡ.