Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết nguyễn bình phương luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐÀO CƯ PHÚ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học

Hà Nội - 2011

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐÀO CƯ PHÚ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học
Mã số: 60 22 32

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Đoàn Đức Phương

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, chúng tôi mong
muốn tìm ra những nét mới trong nghệ thuật sáng tác tiểu thuyết của nhà văn về
tất cả các mặt như: Từ khuynh hướng tiếp cận cuộc sống đến các dạng thức con
người, các yếu tố không gian – thời gian, cốt truyện, kết cấu và các thủ pháp nghệ
thuật khác...., để từ đó chỉ ra vị trí cũng như những nỗ lực đóng góp của tác giả
trên hành trình làm mới nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

3


2. Lịch sử vấn đề
Như trên đã đề cập, Nguyễn Bình Phương là nhà văn có nhiều cách tân mới mẻ
trong tiểu thuyết nhưng sáng tác của anh vẫn chưa được nghiên cứu thỏa đáng,
mặc dù số lượng tác phẩm của anh không nhỏ với 7 cuốn tiểu thuyết và một số tập
thơ, truyện ngắn. Chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả này
mà chủ yếu là những bài viết được đăng tải trên báo điện tử và báo cáo, tạp chí
chuyên ngành… Đáng chú ý là những bài viết sau:
Đầu tiên phải kể đến là trên website http://chimviet.fr.free và trên trang web cá
nhân của Thụy Khuê: http://thuykhue.fr.free đã đăng tải khá nhiều các bài viết
nghiên cứu về các yếu tố huyền ảo, tâm linh trong từng tiểu thuyết của Nguyễn
Bình Phương như: Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Những
đứa trẻ chết già; Tính chất hiện thực tâm linh ảo âm - dương trong tiểu thuyết
Người đi vắng; Những yếu tố tiểu thuyết mới trong tác phẩm Trí nhớ suy tàn;
Những đặc trưng của bút pháp huyền ảo trong tiểu thuyết Ngồi… Những bài viết
này chỉ ra những nét nổi bật nhất của từng tác phẩm trong sáng tác của nhà văn.
Mỗi bài viết là những nhận xét, đánh giá xác đáng, tinh tế và những phát hiện có
tính chất gợi mở cho những người nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương sau này.
Tuy nhiên, những bài viết này vẫn còn thiếu tính hệ thống và nhất quán trong
phương diện tiếp cận, những nghiên cứu vẫn mang tính nhỏ lẻ, chỉ nghiên cứu
được khía cạnh nào đó trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương.

trong tiểu thuyết, bởi lẽ nó còn khiên cưỡng và thiếu màu sắc đặc trưng.
Ngoài Thụy Khuê, Đoàn Cẩm Thi cũng là nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận
với những sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Cách tiếp cận của ông được xuất
phát từ cái nhìn phân tâm học để chỉ ra chất vô thức sáng tạo và chất tình dục
trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương với những bài viết khá sắc sảo: Sáng tạo
văn học: giấc mơ và điên hay Người đàn bà nằm: từ Thiếu nữ ngủ ngày đọc
Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương. Qua những bài viết này, Đoàn Cẩm Thi
đã đưa ra những lời nhận định tinh tế. Trong đó, nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến
hệ thống nhân vật và phương diện ngôn ngữ của một số nhân vật điên.
Bên cạnh những bài nghiên cứu mang tính hệ thống của Thụy Khuê và Đoàn
Cẩm Thi là những bài viết quy mô nhỏ được in trên các diễn đàn và tạp chí. Tiêu
biểu trong số đó phải kể đến bài báo: Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác
Nguyễn Bình Phương của Trương Thị Ngọc Hân. Bài viết chỉ ra ba đặc điểm nổi
bật nhất trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương: cách lựa chọn hiện thực là
những mảng tự sự phân mảnh; sử dụng kết cấu xoắn kép nhiều mạch truyện song
song; sử dụng yếu tố kì ảo. Tiếp đó phải kể đến bài viết được đăng trên báo Văn
nghệ ra ngày 25/11/2006 của Phạm Xuân Thạch đánh giá về những điểm đặc sắc,
cách tân trong tiểu thuyết Ngồi. Ở đó, Phạm Xuân Thạch đã dành những lời khen

5


sôi nổi, nhiệt thành được đưa ra từ những căn cứ mà nhà nghiên cứu phát hiện rất
sắc sảo. Với Nguyễn Bình Phương, lục bình giang tiểu thuyết được in trên tạp chí
Nghiên cứu văn học số tháng 4 năm 2008, Đoàn Ánh Dương đã có sự nghiên cứu
công phu, có cái nhìn hệ thống và cách tiếp cận độc đáo. Tác giả ví mỗi tiểu thuyết
là một dòng sông chi lưu, hợp lưu lại để cùng đổ ra biển rộng. Bài viết chủ yếu đi
sâu vào phương diện cấu trúc và phương thức huyền thoại, chỉ ra nét đặc trưng
nhất của mỗi chi lưu trong dòng hợp lưu chung. Bài viết đã nêu được cả những
thành công cũng như hạn chế một cách khách quan. Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng

nhiều người không đồng tình với ý kiến này bởi đối với tiểu thuyết hiện đại, sự
dồn nén thông tin là một đặc điểm nổi bật. Hay Nguyễn Đình Chính trong bài: Sẽ
chẳng có ma nào đọc Ngồi đánh giá Ngồi là một bước thụt lùi trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương và cho rằng nhà văn đã xây dựng nên những nhân vật nửa
người, nửa ngợm.
Ngoài ra còn có một số luận văn Thạc sĩ như Nguyễn Bình Phương với việc
khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết của Hồ Bích Ngọc. Luận
văn nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Bình Phương ở phương diện thể loại và
cũng có những thành công đáng kể. Tuy nhiên, luận văn chỉ khảo sát ở 4 tiểu
thuyết Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thủy, Ngồi, Trí nhớ suy tàn nên chưa có
cái nhìn toàn diện về hệ thống tiểu thuyết nói chung của Nguyễn Bình Phương.
Tiếp đó là luận văn Thạc sĩ với nhan đề: Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương, Nguyễn Thị Phương Diệp mặc dù lấy đối tượng nghiên cứu là cả 7 cuốn
tiểu thuyết nhưng chỉ đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức
không gian, thời gian và nghệ thuật tự sự. Vũ Thị Phương với đề tài luận văn Thạc
sĩ: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng nghiên
cứu tổng thể cả 7 cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương nhưng tác giả lại
nhấn mạnh và làm nổi bật những cách tân về mặt kết cấu và lý giải việc Nguyễn
Bình Phương sử dụng yếu tố kì ảo như là một thủ pháp nghệ thuật. Ngoài ra, còn
có một số luận văn so sánh Nguyễn Bình Phương với một số nhà văn cùng thời
khác như Trần Thị Hoài Phương với: Biểu tượng như một phương thức phản ánh
của văn xuôi đương đại đã so sánh những đặc điểm chung cũng như những cách
tân, mới mẻ trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái và Nguyễn
Bình Phương ở phương diện sử dụng các biểu tượng, hư cấu nghệ thuật và phương
thức sử dụng ngôn ngữ.
Ngoài một số luận văn có những cái nhìn khá toàn diện về tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương, còn rất nhiều khóa luận cùng các báo cáo khoa học của sinh viên về
tác giả này... Tuy chỉ nghiên cứu trên phạm vi quy mô nhỏ nhưng cũng ít nhiều đề
cập đến một khía cạnh nào đó trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, như:
Nguyễn Thúy Hằng với đề tài: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn

phương thức biểu hiện như: nghệ thuật tổ chức cốt truyện, kết cấu, yếu tố không –
thời gian và các thủ pháp nghệ thuật khác trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương. Từ đó, tạo tiền đề và cơ sở để chỉ ra cả những thành tựu cũng như hạn
chế trong tiểu thuyết của nhà văn.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn

8


Luận văn hướng tới mục đích tìm ra được những điểm mới, những sáng tạo
và đóng góp của Nguyễn Bình Phương trong dòng chảy tiểu thuyết, từ đó khẳng
định vị trí và vai trò của Nguyễn Bình Phương trong dòng tiểu thuyết đương đại
Việt Nam.
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là 7 cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương, bao gồm: Bả giời; Vào cõi; Thoạt kì thủy; Những đứa trẻ chết già; Trí
nhớ suy tàn; Người đi vắng; Ngồi.
Bên cạnh đó, luận văn cũng tiến hành so sánh với một số tiểu thuyết đương
đại có những nét tương đồng và khác biệt ở một vài phương diện nghệ thuật, như:
Bến không chồng (Dương Hướng); T mất tích (Thuận); Thiên thần sám hối, Lão
Khổ (Tạ Duy Anh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Tấm
ván phóng dao (Mạc Can); Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt
Hà)… nhằm so sánh để chỉ ra được những cách tân mới mẻ về thế giới nghệ thuật
trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng những phương pháp chính như:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích nhân vật
- Phương pháp so sánh

tận ăn mãi không hết trong truyện Thạch Sanh… Trong văn học lãng mạn, quan
hệ nhân vật thường xây dựng trên cơ sở cảm hóa; trong văn học cách mạng nhân
vật thường chia thành hai tuyến địch – ta, người chiến sĩ cách mạng và quần
chúng. Như thế, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc
phản ánh thế giới. Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá
và lí giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng
với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không,
mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư
tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Các yếu tố của hình
tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó.
Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một “quan niệm về thế giới”, một cách cắt
nghĩa về thế giới. Chẳng hạn, thế giới nghệ thuật của thần thoại gắn với quan niệm
về các sự vật có thể biến hóa lẫn nhau; thế giới nghệ thuật truyện cổ tích, đặc biệt
là cổ tích thần kì gắn với quan niệm về thế giới không có sức cản; còn thế giới
nghệ thuật của sáng tác hiện thực chủ nghĩa gắn với quan niệm tác động tương hỗ
giữa tính cách và hoàn cảnh. Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình
dung tính độc đáo về “tư duy nghệ thuật” của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn

10


trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của
người nghệ sĩ, [16; tr.222].
Luận văn hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật ở góc độ: tất cả các yếu tố cấu
tạo nên tác phẩm như: nhân vật, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn
ngữ, các thủ pháp nghệ thuật... Thế giới nghệ thuật trong những sáng tác tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phương muôn màu và đa sắc, chính điều này tạo nên
những giá trị trong những tiểu thuyết của nhà văn.
1.2 Tiểu thuyết và tiểu thuyết đương đại
1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết

thực tại cùng thời, đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố
ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm
túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ. Chất văn xuôi như vậy thể hiện rõ
trong tiểu thuyết của Balzac, Flober, Tonstoy, Stedhal, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng…
Thứ ba, cái làm cho nhân vật tiểu thuyết khác với các nhân vật sử thi, nhân
vật kịch, nhân vật truyện trung cổ là ở chỗ: nhân vật tiểu thuyết là “những con
người nếm trải”, tư duy, chịu đau khổ, dằn vặt của cuộc đời trong khi các nhân vật
kia thường là nhân vật hành động. Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người
đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành trong xã hội.
Thứ tư, thành phần chính của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện và
tính cách nhân vật như ở trong truyện vừa và truyện ngắn trung cổ. Ngoài hệ thống
sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách, tiểu thuyết miêu tả suy tư của nhân vật
về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, trình bày tường
tận tiểu sử nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, về đồ vật, về
môi trường.
Thứ năm, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật và
nội dung trần thuật của anh hùng ca, để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương
thời của người trần thuật. Chính đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một
thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật, thậm chí
suồng sã với các nhân vật của mình.
Cuối cùng, với các đặc điểm nêu trên, ta có thể nói rằng tiểu thuyết là một
thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các
thể loại văn học khác. Chính hiện thực tổng hợp này làm cho thể loại tiểu thuyết
cũng đang trên đà vận động, không đứng yên. Nhà nghiên cứu M. Bakhtin cho
rằng “tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” [16;
tr.224].
Nói tóm lại, giữa tiểu thuyết với các thể loại trữ tình, kịch và các thể loại tự
sự khác, sự phân chia ranh giới giữa chúng chỉ mang tính tương đối, bởi ở đặc


thuyết thời kì đổi mới càng mang xu hướng đời tư thế sự, góc độ tiếp cận bám sát
hiện thực đời sống hơn, chính vì vậy nghệ thuật tiểu thuyết cũng có nhiều cách tân
đổi mới hơn cho phù hợp với xu thế và cảm quan của thời đại mới.
Những trang viết trong văn chương đương đại ngày càng ám ảnh con người
bởi nó ngồn ngộn những vùng đau, vùng mờ tối khuất lấp bên trong miền tâm linh

13


mỗi người, nó ám ảnh độc giả về những ảo tưởng, những mộng mơ và ác mộng
của chính “Tôi” – cái tôi sâu thẳm trong tiềm thức của mỗi con người. Trong thời
đại mở cửa và thời đại công nghệ thông tin bùng phát, thời đại đó cho phép đón
nhận những luồng văn hóa khác nhau trên thế giới. Tiểu thuyết đương đại đang
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học hậu hiện đại thế giới, đặc biệt là trong cảm
quan đời sống. Tuy nhiên, sự cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại chưa
đạt đến mức độ triệt để như tiểu thuyết đương đại thế giới, những cách tân đó mới
chỉ giới hạn ở mức độ những biểu hiện, những mầm mống của chủ nghĩa hậu hiện
đại chứ chưa có một chủ nghĩa hậu hiện đại thực sự theo ý nghĩa đầy đủ của thuật
ngữ này.
Về đại thể có thể ghi nhận một thực tế: do chỗ thay đổi cấu trúc mà tiểu
thuyết đương đại có xu hướng giản lược cốt truyện và nhân vật. Thực tế đó cho
thấy tiểu thuyết đang ngắn lại, còn truyện ngắn đang dài ra. Cần giải thích thế nào
về hiện tượng này? Nếu quan sát tiểu thuyết trong hai thập kỉ cuối thế kỉ XX và 5
năm đầu của thế kỉ XXI, ta sẽ thấy các nhà văn nghiêng về viết tiểu thuyết ngắn.
Các tiểu thuyết của Lê Lựu như Hai nhà, Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối có
dung lượng ngắn chưa đầy 200 trang. Tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh
(xuất bản năm 1999) chỉ có 190 trang, đây là một trong ba cuốn tiểu thuyết đoạt
giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 1998 –
2000; tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (80 trang); Mạc Can với Tấm ván
phóng dao (193 trang)... Nguyễn Bình Phương cũng có hàng loạt tiểu thuyết có

“Người mở đầu tiên phong bao giờ cũng là người lạc hậu nhất” vì “anh là vật hi
sinh cho cái mới”. Người mở đầu tiên phong xây dựng, những người đi sau mới là
người hoàn thiện, nhưng vẫn rất cần các nhà văn như thế, họ chính là người có
công tạo tiền đề cho các nhà văn đàn em kế thừa, phát triển và hoàn thiện nó. Các
nhà tiểu thuyết đương đại Việt Nam vẫn còn quan tâm đặc biệt tới thân phận con
người, quan tâm đến con người trong tính nhân loại phổ biến. Văn học thông qua
con người để thể hiện lịch sử, con người trở thành phương tiện để khám phá lịch
sử, từ con người theo kiểu sử thi đến con người theo kiểu đời tư thế sự, từ con
người lịch sử đến con người cá nhân lúc nào cũng là mục đích hướng tới của
người nghệ sĩ, đó mới chính là nhà nhân học đích thực. Về mặt nhân bản, con
người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là tổng hòa của những mối quan hệ xã
hội, con người hành động có khi chỉ theo sự chỉ huy của ý thức, có lý trí tỉnh táo,
có khi bị chi phối bởi tiếng nói tâm linh vô thức bản năng, rất khó có thể định tính
hay định lượng cho con người mà không làm tổn thương đến bản chất người của
nó. Chính vì vậy, việc tiếp cận tác phẩm với vấn đề nhân vật và cốt truyện sẽ cho
chúng ta thấy rõ hơn tư tưởng tình cảm và nghệ thuật phản ánh chân thực cuộc

15


sống con người ở mỗi nhà văn cũng như những đóng góp của họ cho nền văn học
đương đại, nhất là tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, cụ thể là sau năm 1975
kết đọng những thành tựu nổi bật của những tác giả đi tiên phong trong công cuộc
cách tân thể loại này như: Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Bình Phương… Đây là những cây bút đã đóng góp cho nền tiểu thuyết
đương đại Việt Nam những tác phẩm giàu giá trị, với những cách tân về thể loại,
được giới phê bình đánh giá cao ở cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.
Văn học Việt Nam thời kì đổi mới không chỉ là những sáng tác về thời kì
hậu chiến như những sáng tác của Chu Lai, Nguyễn Minh Châu… viết về những
người lính vừa bước chân ra khỏi chiến trường. Văn học đương đại hôm nay gần

của các tiểu thuyết gia thời hiện đại, đổi mới để không lặp lại chính mình, không
đi theo lối mòn cũ. Tiếp đến phải kể đến sự đổi mới của văn chương hiện đại thế
giới về phương diện cảm quan đời sống và thủ pháp xây dựng tác phẩm, hơn nữa
sự thay đổi trong những quan niệm nhân sinh, cách nhìn nhân vật và đánh giá con
người cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội mới, sự thay đổi trong quan
niệm nghệ thuật về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là lãnh địa của những cuộc chơi” đã
ảnh hưởng đến sự thay đổi, cách tân tiểu thuyết trong thời đại mới.
Có người cho rằng văn học hôm nay có cái nhìn bi quan về con người và
cuộc sống, con người và cuộc sống vốn rất phức tạp nên không thể dùng một tiêu
chí cố định mà đo đếm nó, mọi sự lí tưởng hóa đều làm cho nó trở nên giả dối và
không thật. Tuy nhiên, thể hiện những mặt trái của xã hội và con người không phải
là cái nhìn bi quan, mà bên cạnh đó là tiếng nói thẳng thắn, đầy lạc quan và tin
tưởng vào thiên lương, vào những hạt mầm tốt đẹp ở đời, đấy mới là điều cao cả
mà nhà văn hướng tới, để mỗi nhà văn tự hoàn thiện mình, hoàn thiện ngòi bút của
mình, đóng góp hơn nữa cho nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam.
1.1.2.2

Những khuynh hướng chủ đạo của tiểu thuyết đương đại Việt Nam
Theo 150 thuật ngữ văn học thì khuynh hướng là khái niệm dùng để chỉ

những hiện tượng của quá trình văn học. Khuynh hướng là cộng đồng các hiện
tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định
hướng thẩm mĩ – tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật. Khuynh
hướng văn học mang tính chất mở chứ không khép kín; việc chuyển biến từ một
khuynh hướng khác thường tạo ra những hình thức trung gian. Ví dụ khuynh
hướng tiền Phục Hưng ở châu Âu thế kỉ XIII – XIV, khuynh hướng tiền lãng mạn
cuối thế kỉ XVIII…
Sự chuyển đổi và kế tiếp theo trình tự giống nhau của các khuynh hướng tại
những nước khác nhau cho phép xem các khuynh hướng ấy như những hiện tượng
có tính quốc tế; mỗi khuynh hướng ở một nền văn học có thể được xem như dạng

biến chuyển to lớn mà trước hết đó là sự biến đổi quan niệm về tiểu thuyết.
Tiểu thuyết đương đại Việt Nam vẫn là những pho tự sự cỡ lớn về đời tư,
thế sự, về con người nhưng gần đây chúng ta thấy xuất hiện những khuynh hướng
như khuynh hướng huyền thoại, huyễn hoặc, khuynh hướng mảnh vỡ hay khuynh
hướng hậu hiện đại. Đặc biệt là khuynh hướng hậu hiện đại, nó được coi là một

18


hiện tượng văn hóa, văn học ở nhiều nước, nhất là các nước phát triển, tuy vậy,
với Việt Nam nó vẫn là một mảnh đất màu mỡ nhưng có quá ít người cày xới.
Ảnh hưởng từ khuynh hướng văn học hậu hiện đại, tiểu thuyết hậu hiện đại
bị ám ảnh trong sự khủng hoảng niềm tin nơi con người, mọi thứ đều không tuân
theo quy luật trật tự như nó vốn có nữa, những thang bậc giá trị bị đảo lộn, không
còn theo một trật tự nhất định nào, các nhà văn phản ánh cuộc sống như những
mảnh vỡ và tiểu thuyết chính là sự lắp ghép của những mảnh vỡ đó. Khuynh
hướng tiếp cận con người và cuộc sống cũng được thay đổi. Trước đây, khuynh
hướng tiếp cận con người của Nam Cao là khai thác những mâu thuẫn giằng xé
trong nội tâm con người, Nguyễn Công Hoan lại thiên về miêu tả những hành
động, xung đột quyết liệt bên ngoài, Vũ Trọng Phụng có biệt tài phơi trần những
xấu xa, kệch cỡm và đáng cười trong xã hội cũ, còn Nguyễn Minh Châu lại thể
hiện nét đẹp tâm hồn sâu kín của con người Việt Nam với tâm niệm: “Đi tìm hạt
ngọc ẩn giấu bên trong tâm hồn con người”, Nguyễn Huy Thiệp lại tiếp cận con
người ở những góc độ đa chiều, nhìn thấy những vấn đề nhức nhối của cuộc sống,
sự lạnh lùng đến vô cảm của con người hiện đại.
Việc thay đổi những khuynh hướng văn học cho thấy được sự thay đổi
quan niệm nghệ thuật của nhà văn về hiện thực và con người, nó thể hiện chiều
sâu nhận thức, sự nhạy cảm và khả năng của nhà văn trong việc nắm bắt những
vấn đề cốt lõi của đời sống. Chúng tôi có thể thâu tóm tiểu thuyết đương đại Việt
Nam chủ yếu đi vào ba khuynh hướng sau:

cho rằng thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiện đại do sử gia Anh Arnold Joseph Toynbee
nêu ra vào năm 1947, và từ năm 1950 trở đi mới được vận dụng vào lí luận phê
bình nghệ thuật. Nhưng sự thật là từ năm 1934, trong Tuyển tập thơ Tây Ban Nha
và các nước châu Mỹ phụ thuộc, nhà phê bình P.D Onise đã sử dụng thuật ngữ
này, và từ cuối những năm 40 trở đi, cũng có một số nhà phê bình sử dụng để đối
trọng và phê phán lại chủ nghĩa hiện đại. Dù sao, thì cũng từ những năm 60 trở đi,
thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiệu đại được sử dụng rộng rãi ở cả trên ba cấp độ: văn
hóa, nghệ thuật và văn học.
Ngày nay trên thế giới, trong giới khoa học nói chung và giới văn học nói
riêng, có một khái niệm, tuy chưa có được một nghĩa nhất quán, nhưng vẫn thuộc
loại được sử dụng và bàn đến nhiều nhất, đó là khái niệm Chủ nghĩa hậu hiện đại.
Ở nước ta hiện nay, thuật ngữ này cũng được lưu truyền trong một số bản dịch,
trong các tọa đàm, chuyện trò, nhưng chưa có một công trình nào bàn về nó một
cách triệt để; chưa có một cuộc thảo luận nào đặt ra vấn đề về việc chúng ta có nhu
cầu “phải áp dụng nó không và nếu có thì phải áp dụng nó như thế nào” trong
nghiên cứu văn học.

20


Về mặt lí luận, nó là một thứ “hậu triết học” tuyên bố thiên chức và sứ mệnh
của mình không còn là đi tìm chân lí nữa. Bởi vì xã hội hậu hiện đại là xã hội do
“người khác dẫn đường”, lí luận không còn quyền uy để đưa ra những chuẩn mực,
không thảo luận những mệnh đề về giá trị, mà chỉ bàn bạc hiệu quả của ngôn ngữ
trong những “ngữ cảnh”, chỉ tranh luận về các biểu đạt của ngôn ngữ mà thôi.
Trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và trong văn học nói riêng, ngoài nghĩa
chỉ thời gian, chủ nghĩa hậu hiện đại còn chịu sự quy định của các thuộc tính biểu
đạt nghệ thuật, mặc dù sự quy định này phần lớn có lẽ vẫn là do các nhà lí luận và
phê bình áp đặt. Và tất nhiên như chúng ta thấy, các ý kiến chưa phải là đã thống
nhất. Từ các ý kiến khác nhau nói trên, chúng ta có thể phân ra ba nhóm quan

đó của chủ nghĩa hiện đại. Nó đề cao tính chất hỗn loạn và bất ổn, xem đó như bản
chất của thế giới, xem những đại tự chỉ như những câu chuyện có “tính chất thần
thoại” thiếu sự khả tín. Tinh thần hậu hiện đại sinh ra là để chống lại sự độc tài của
các đại tự sự và cho rằng không có một thứ nguyên lý nào phổ quát cho tất cả,
chống lại quan niệm cho rằng trật tự ổn định là luôn tốt và coi sự hỗn loạn bất ổn
luôn là bất hảo. Thời của hậu hiện đại là thời của lựa chọn không ngừng. Nó là hệ
quả của sự bùng nổ thông tin khi mọi người đều là công dân của thế giới. Trong
trào lưu chung đó, chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời, xuất hiện sau thế chiến thứ hai tại
phương Tây, đỉnh cao là vào những năm 70 – 80 với hàng loạt các kĩ thuật sáng
tác và tư tưởng văn nghệ mới để phản ứng lại các quy chuẩn văn học của chủ
nghĩa hiện đại. Một tác phẩm được coi là văn chương hậu hiện đại nói chung và
tiểu thuyết hậu hiện đại nói riêng chỉ khi nó hội đủ hai yếu tố: cảm thức hậu hiện
đại và kĩ thuật viết hậu hiện đại.
“Cảm thức hậu hiện đại xem bản chất của thế giới là hỗn mang. Con người
hậu hiện đại nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái
nhìn chính thống và các phát ngôn lớn (đại tự sự), sự bất định đảo lộn trong các
thang bảng giá trị đời sống, sự thất tín các loài vong thân, hồ nghi về tồn tại và tự
mình luôn cảm thấy bất an trước cuộc sống thiên biến vạn hóa” [43; tr.12].
“Những kỹ thuật thường gặp trong các tiểu thuyết hậu hiện đại là sự dịch
chuyển liên tục các điểm nhìn, cốt truyện lỏng lẻo, hiện thực trong tác phẩm là
những mảnh vỡ, cấu trúc phi đơn tuyến, không có nhân vật trung tâm điển hình,
lối kể nhảy cóc đa âm, lời thoại rời rạc, phi logic thủ pháp liên văn bản, bút pháp
huyền ảo, tính nguyên hợp trong thể loại, nhại ngôn ngữ các thể loại khác, làm
nhòe đi cái tinh tuyển và cái bình dân trong ngôn ngữ” [43; tr.13].
Với tiểu thuyết hậu hiện đại có thể tóm lược ở một số đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, tiểu thuyết hậu hiện đại mang một nhận thức mới
Theo Jacques Derrida trong cuốn La Gramatologie, tính không xác định
trong lòng văn bản văn học này sẽ là nguyên tắc chủ đạo trong nghệ thuật hậu hiện

22

Thứ ba, tiểu thuyết hậu hiện đại: một thái độ khôi hài
Ngày nay, do ý nghĩa của cái khôi hài không nhằm vào việc phê phán một
hiện tượng xấu xa mà người ta nhân danh tư tưởng tiến bộ định khắc phục và sửa
chữa nó. Người nghệ sĩ hậu hiện đại không mơ ước một xã hội tiến bộ hơn mà họ

23


chỉ tham gia vào sự sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật song song với thế giới hiện
thực, ở đó họ quan chiêm đến những hình ảnh được thai nghén từ một thế giới
nguyên mẫu, trong đó những ấu trĩ của tính hiện đại vẫn được vận dụng một cách
nghiêm chỉnh.
Phù hợp với điều này, tác phẩm của nhà văn người Tiệp - Milan Kundera là
một dẫn chứng tuyệt vời. Tác giả luôn luôn phản ứng đối với những tín điều của
tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa. Với giọng điệu nhẹ nhàng trong tự do tuyệt đối
vốn thích hợp để đề cập tới cuộc phiêu lưu của con người, với những suy nghĩ độc
đáo thường làm nổi bật những đặc điểm của cái hài, nhà văn đã tạo ra được hiệu
quả của sự đảo lộn khôi hài mà có lúc gợi chúng ta nhớ tới thiên tài một Rabelais
của Cervantes.
Thứ tư, tiểu thuyết hậu hiện đại: một thứ văn học đầy sinh lực và khát vọng
Đặc điểm mà chúng tôi muốn chỉ ra ở đây là sự trở lại của tính năng động
không duy lý trong không khí văn chương. Các nhà hậu cấu trúc luận như Jean
Francois Lyotard và Gilles Deleuze đã chỉ ra rằng trong nền văn hóa hiện thời có
sự hiện diện thường xuyên tăng trưởng của những lực đầy sinh khí và khát vọng.
Chúng là kết quả của sự đề kháng trước những cơ chế chính trị vô cùng hùng hậu,
trước sự đam mê của nền văn hóa được quy chuẩn hóa, trước các quy chuẩn hóa
của ngôn ngữ.
Như vậy, với bốn đặc điểm được thâu tóm ở trên giúp chúng ta phần nào hình
dung được những nét đặc trưng tiêu biểu của trào lưu văn học hậu hiện đại, trong
đó các nhà văn thế hệ mới luôn khát khao tìm tòi nhằm đổi mới cho nền văn học

hiệu bất bình thường, tâm lí không ổn định, điều này có phần xa rời với cuộc sống
con người chiếm số đông trong xã hội. Đó là đại diện cho những con người hiện
đại cô đơn trong chính cộng đồng người của mình. Dường như mỗi con người đều
mang trong mình một bóng ma ám ảnh, họ đều có những nỗi ám ảnh riêng tư,
những ám ảnh ấy tạo nên nỗi sợ hãi, lo âu mơ hồ không xác định nhưng đồng thời
chúng lại tạo nên những khát khao. Phải chăng đó cũng là sự phức tạp của con
người thời hiện đại mà Nguyễn Bình Phương muốn phản ánh? Tuy vậy, chúng ta
có thể dễ dàng nhận ra Nguyễn Bình Phương miêu tả những con người hiện đại
bình thường ở ngay trong cuộc sống thường nhật, bản thân cuộc đời bình thường
của họ đã tạo nên một câu chuyện, sự tha hóa tiệm tiến đến từ nhiều phía, những
con người luôn cô đơn vùng vẫy trong dòng đời lạc lõng đến lạnh lùng giữa con
người với con người. Con người là nhân tố cấu thành xã hội, với những con người
như vậy nên xã hội xung quanh cũng không hơn, đó là một tập hợp của những
khối cô đơn bên cạnh nhau, xã hội cứ bao bọc lấy những con người như thế khiến
cho cuộc sống con người càng trở nên rời rạc và không hiểu được chính cuộc sống
cũng như xã hội mình đang tồn tại. Như vậy, có thể thấy, cảm thức hậu hiện đại đã

25


Trích đoạn Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đạ Khuynh hướng tiếp cận cuộc sống và con ngườ Khuynh hướng tiếp cận cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Các thủ pháp nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status