TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
MAI THỊ TÂM
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CÔI CÚT GIỮA CẢNH
ĐỜI CỦA MA VĂN KHÁNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. DƢƠNG THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2014
Khóa luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Những gì được triển khai trong khóa luận không trùng khít với bất cứ một công trình
nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm. Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Tâm
Khóa luận tốt nghiệp MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích chọn đề tài 2
3. Lịch sử vấn đề 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Đóng góp của khóa luận 5
8. Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 7
Chƣơng I. Giới thiệu chung 7
1.1. Sự chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 7
1.2. Ma Văn Kháng – hành trình sáng tạo – quan niệm sáng tác 10
1.3. Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời 13
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày
1/12/1936 ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Ông là một trong số ít các
nhà văn Việt Nam viết khoẻ, viết đều, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào. Đến
nay, Ma Văn Kháng đã có đến 20 tập truyện ngắn, 12 cuốn tiểu thuyết và 4 truyện
viết cho thiếu nhi từ đó ông tạo ra cho mình phong cách riêng, chỗ đứng riêng
trong nền văn học nước nhà.
Đặc biệt, Ma Văn Kháng là một cây bút có đóng góp rất nhiều trong sự
nghiệp đổi mới văn xuôi sau 1986. Với những tác phẩm mở đường như Mưa mùa
hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Ma Văn Kháng được coi là người “đi
tiền trạm” trong sự nghiệp này. Ông không chọn cách đưa ra những tuyên ngôn
nghệ thuật mang tính chất “gây chấn động” như những nhà văn khác (Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải) mà chọn cho mình cách “chiến đấu” thầm lặng với
từng bước đi vững chắc với những tác phẩm của mình từ đó góp sức, góp thành
tựu cho sự nghiệp đổi mới văn xuôi sau 1986 nói riêng và cho nền văn học dân tộc
nói chung. Theo Phong Lê thì Ma Văn Kháng xứng đáng là một trong những
“gương mặt tiêu biểu đóng vai trò tiền trạm báo hiệu cho công cuộc đổi mới chính
thức mở ra từ nửa cuối những năm 80 thế kỉ 20”.
1.2. Đối với Ma Văn Kháng thì “Văn chương là một công việc nặng nhọc.
Nó luôn đòi hỏi sự huy động hết mình, nội lực và năng lực tiềm ẩn, sự thăng hoa
và hứng khởi bất chợt, niềm tâm thức và tâm linh bảng lảng, ám ảnh đến dai
dẳng, những ẩn ức bức xúc bất thần dội lên từ gan ruột”. [6] Vì thế ông đi vào
nghiệp văn chương với quan niệm về tư liệu để viết “không phải đi đâu tìm mà nó
có sẵn trong cuộc sống hàng ngày. Tôi luôn tâm niệm sống rồi mới viết, quan
trọng là sự trải nghiệm của bản thân, của suy nghĩ trước cuộc sống”. [7] Thế nên
những gì ông viết đều là những chiêm nghiệm rất thật của mình trước cuộc sống
muôn màu muôn vẻ. Chính vì điều đó mà ông hay hướng tới những cảnh đời. Chính
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 2 Lớp: K36C – SP Văn
Sinh viên: Mai Thị Tâm 3 Lớp: K36C – SP Văn
định rằng “với Ma Văn Kháng, văn là đời, văn là người; viết văn là để giãi
bày những suy nghĩ về số phận, về con người”. [8] Từ đây lại cho thấy Ma
Văn Kháng là cây bút thấm đẫm tình người và sự triết lí về cuộc đời.
Để là một nhà văn mà được giới nghiên cứu phê bình nhận xét tốn
nhiều giấy mực như trên thì ắt hẳn Ma Văn Kháng là một tác giả có hành trình
khám phá hiện thực và viết văn hết sức đặc biệt. Hành trình sáng tạo ấy đã
được nghiên cứu như thế nào? Đã có những công trình, ý kiến của những nhà
phê bình nào? Ta hãy cùng ngược dòng thời gian để đi từ những ngày đầu ông
“chập chững” vào nghề và những ý kiến nhận xét xung quanh ấy.
Xuất thân là một nhà giáo nghèo, Ma Văn Kháng nhanh chóng lên
miền ngược và có cuộc “gặp gỡ kì lạ” với nơi mà ông gọi là “mảnh đất vàng”.
Ở đây, ông cũng tìm thấy cho mình những cảm hứng đầu tiên từ Truyện Tây
Bắc của Tô hoài và năm 1969 với tập truyện ngắn đầu tay Xa Phủ đã có bài
nhận xét của Nguyễn Đại được đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 5/10/1950.
Những năm từ 1975 – 1985 Ông sáng tác những tiểu tuyết như: Đồng
bạc trắng hoa xòe, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn cũng gây được sự
chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình đặc biệt là với Trần Đăng
Xuyền qua những bài báo như: Một cách nhìn cuộc sống hôm nay, Báo văn
nghệ số 15, ngày 9/4/1983, Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe, Báo văn nghệ số 49
ngày 8/2/1979. Ông đã có nhận xét rằng: “Đồng bạc trắng hoa xòe có những
nhân vật được Ma Văn Kháng xây dựng khá công phu. Bằng hình tượng nghệ
thuật, Ma Văn Kháng đã chứng minh rằng đồng bào dân tộc ít người chìm
đắm trong đau khổ, tăm tối những đều có mầm mống cách mạng”. [15, 12]
Những năm đổi mới ông xuất bản Côi cút giữa cảnh đời (1989) và cho ra
mắt tiểu thuyết Võ sĩ lên đài (2012) cũng đã nhận được nhiều lời nhận định, khen
có, chê có nhưng ông luôn chấp nhận lắng nghe tất cả. Đây cũng là lí do vì sao ta
lại có một Ma Văn Kháng khiêm nhường và lặng lẽ cống hiến cho nghệ thuật.
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 5 Lớp: K36C – SP Văn
Tuy nhiên những đề tài, công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở
những nhận định chung nhất hoặc nghiên cứu về mặt nghệ thuật của tiểu thuyết
này chứ chưa có thật sự đi sâu vào nghiên cứu thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Vì vậy tôi đi đến việc lựa chọn đề tài này, nhằm làm rõ những yếu tố có
liên quan tới thế giới nghệ thuật của Côi cút giữa cảnh đời để cung cấp thêm
những tư liệu và cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết này.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận hướng tới nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết
Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi tiểu thuyết Côi cút giữa
cảnh đời Ma Văn Kháng và tiến hành so sánh đối chiếu với một vài tác phẩm
của ông.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đặt tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời trong bối cảnh chung của đổi
mới tiểu thuyết sau 1986.
- Phân chia các nhân vật theo các hình tượng nhân vật và phân tích kĩ
các nhân vật theo hình tượng đó trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời.
- Chỉ ra và phân tích kĩ lưỡng về tác dụng của một số yếu tố về hình
thức nghệ thuật trong tiểu thuyết này.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận tập trung sử dụng những phương pháp nghiên cứu phù hợp
như: Phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp phân loại,
phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp chứng minh…
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 6 Lớp: K36C – SP Văn
những luồng ý kiến, có những bộ óc cách tân táo bạo rồi bằng tâm huyết của
mình với sự nghiệp văn chương nói chung và về tiểu thuyết nói riêng đã
không ngại thay đổi cách tư duy của mình để đi theo những ngã rẽ mới, tách
khỏi những lối mòn xưa cũ mà khám khá ra những chân trời rộng lớn hơn.
Tiêu biểu như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Điều này
cũng chứng tỏ tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của các nhà văn ấy.
Sự đổi mới tiểu thuyết diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau nhưng
chủ yếu diễn trên những phương diện sau đây.
Thứ nhất là trên phương diện đề tài. Có thể nói, trong từng tiến trình
phát triển của văn học, đề tài mà tiểu thuyết đề cập đến rất khác nhau do nó
phải tồn tại trong những giai đoạn khác nhau. Nguyễn Minh Châu khẳng định
“Một thể loại văn học phải chứng tỏ sức sống của nó ở tính đa dạng và không
ngừng cách tân. Nhất là đối với tiểu thuyết, một thể loại có một sức chứa và
sức chở rất lớn”. [2, 2] Nếu trước đây tiểu thuyết như là một trong những vũ
khí tinh thần phục vụ cho cách mạng, tính tư tưởng chính trị đậm đặc thì giờ
đây tiểu thuyết được trả về với đúng bản thân nó và sống như những gì nó
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 8 Lớp: K36C – SP Văn
muốn. Không còn chỉ là những đề tài đơn điệu như những thời kì khác nữa,
tiểu thuyết trong thời đại đổi mới hướng tới nhiều đề tài khác nhau và các đề
tài luôn tồn tại song song với nhau. Tiểu thuyết giờ đây có sự tiến triển mạnh
dạn tới kì lạ và sâu sắc. Nó dám “nhìn thẳng” vào những éo le, bi đát hay
những bi kịch của cuộc đời, của con người. Nó dám “nhìn thẳng” một cách
trung thực và táo bạo vào những bất công, vào những góc khuất của con
người mà trước đây tiểu thuyết còn e ngại. Từ đây nó chứng minh cho sức
phát triển mạnh mẽ và không ngừng của bản thân dựa trên sự kế thừa trong
quá khứ và tiếp nối sự phát triển trong tương lai mà Tô Hoài và nhiều tác giả
khác cùng có một nhận định chung rằng: “Tôi không phủ nhận giá trị tiểu
thuyết thời trước, nhưng thật là không thể cho tiểu thuyết một nghĩa cố định.
Nguyễn Xuân Khánh)
Tiếp đến, cốt truyện - yếu tố được coi là xương sống trong việc tạo ra
trong một tác phẩm đặc sắc- cũng có những đổi mới rất cơ bản. Ở những giai
đoạn trước, chúng ta biết đến những tiểu thuyết nổi tiếng với cốt truyện gay
cấn, li kỳ như Tắt đèn – Ngô Tất Tố, Giông Tố - Vũ Trọng Phụng… Tất cả
đều được gây dựng trên một cốt truyện đặc sắc và gay cấn đến nghẹt thở. Đến
thời kì đổi mới, cốt truyện trong các tiểu thuyết có những hình thái vô cùng
khác nhau. Ở nhiều tác phẩm, kết cấu cốt truyện không còn giữ vai trò chủ
chốt cho thành công của một tác phẩm. Cốt truyện ngày càng trở nên mờ nhạt
đi và thậm chí là không còn những tình tiết li kì, gay cấn và dồn dập, thay vào
đó là các sự kiện, chi tiết như muốn “giễu nhại” bạn đọc bởi sự phi lí, bất cần.
Lại có những tiểu thuyết có kết cấu rất rõ ràng rành mạch, giàu kịch tính.
Ngôn ngữ của tiểu thuyết thời kì đổi nới cũng có nhiều đặc điểm mới
lạ và sáng tạo. Trong các tiểu thuyết rất mới như: Thời xa vắng, Ngày hoàng
đạo, Ngược dòng nước lũ, Ăn mày dĩ vãng, Cơ hội của Chúa, Cõi người rung
chuông tận thế, Cơn giông, Thoạt kỳ thuỷ, Đi tìm nhân vật, Mười lẻ một đêm,
Luật đời và cha con Ngôn ngữ được sử dụng là những chất liệu đời thường
và mang đậm tính khẩu ngữ. Nó khác hẳn với ngôn ngữ thơ mộng của tiểu
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 10 Lớp: K36C – SP Văn
thuyết lãng mạn. Nó lại càng khác với thứ ngôn ngữ hào hùng của thời tiểu
thuyết những năm kháng chiến.
Ngôn ngữ trong tiểu thuyết hiện nay được trả về với đời sống hàng
ngày mà ở đó các nhà văn như “chụp nguyên si” những khoảng khắc ngôn
ngữ được sử dụng thật.
Như thế, tiểu thuyết sau năm 1986 đã có những bước phát triển vượt
bậc và mạnh mẽ, chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sức cách tân không ngừng
để tạo nên sự phù hợp với thời đại mới. Và một trong những nhà văn giữ vai
trò “đi tiền trạm” trong sự nghiệp ấy là nhà văn Ma Văn Kháng với những
Văn Kháng đã cảm nhận một cách tinh tế cuộc sống của người dân nơi đây. Dần
dần nhà văn càng khám phá ra những vẻ đẹp riêng rất độc đáo của con người và
thiên nhiên ở miền sơn cước này. Những vẻ đẹp hồn nhiên, thơ mộng dường như
lúc nào cũng hiện lên lung linh trước mắt ông, khiến ông không thể không cầm bút.
Và những trang văn đầu tiên về mảnh đất mà ông xem như quê hương thứ hai của
mình đã đến với độc giả. Sự thành công của ông là kết quả của quá trình lao động
cần cù, chịu khó trong cuộc sống cũng như trong lao động nghệ thuật. Ma Văn
Kháng đã luôn muốn mình phải vận động, vật lộn với cuộc sống để cắt nghĩa hiện
tượng và tìm ra chân lý. Những gì ông từng trải, từng thấy, từng cảm nhận, khi đi
vào trang văn cũng sôi động như chính cuộc đời thực của nó vậy. Năm 1976, sau
khi nước nhà thống nhất, Ma Văn Kháng rời Lào Cai để trở về Hà Nội và hoạt động
như một nhà văn chuyên nghiệp. Từ đây, sáng tác của Ma Văn Kháng nở rộ,
những gì ông nung nấu, ấp ủ bấy lâu nay được trải dài trên những trang văn, các tác
phẩm ra đời nhanh chóng như một tất yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, những năm
đầu sau khi trở về Hà Nội, đề tài Ma Văn Kháng phản ánh vào trong tác phẩm vẫn
là cuộc sống và con người miền núi. Có thể nói, đây là giai đoạn chiêm nghiệm, là
sự hồi tỉnh của tiềm thức, nó thôi thúc nhà văn phải viết và viết bằng tất cả sự trải
nghiệm về cuộc đời.
Viết nhiều, viết khỏe và được bạn đọc đón nhận ở cả hai thể loại tiểu thuyết
và truyện ngắn, từ khi bước vào nghề văn cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần
năm mươi năm cầm bút. Cùng với thời gian, các tác phẩm của ông ra đời đã để lại
cho độc giả những ấn tượng thật khó quên. Sự nghiệp văn chương của ông được
đánh dấu bằng truyện ngắn đầu tay mang tên Phố cụt (1961) và tiểu thuyết đầu tay
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 12 Lớp: K36C – SP Văn
in năm 1976, nhưng ông bộc bạch rằng: “Tự coi là qua được kỳ tập dượt là từ
những năm 80”. Bởi vậy, sau những năm 80, nhiều tác phẩm có giá trị lần lượt ra
đời và Ma Văn Kháng đã dần khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn cũng
như trong lòng người đọc. Trong thể tài tiểu thuyết, một thể tài văn xuôi được Ma
Kháng, có thể nói, đã là một gạch nối, tiếp sau Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,
Nam Cao, ông là nhà giáo - nhà văn của thế hệ mới, để lại một mảng tác phẩm gây
ấn tượng sâu sắc, có sức hấp dẫn lâu bền đối với người đọc cho tới ngày nay.
1.3. Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời
Tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời được sáng tác năm 1989, tới nay đã được
xuất bản tới lần thứ 5. Tiểu thuyết này đã vinh dự đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về
Văn học nghệ thuật năm 2012. Điều đó là minh chứng chân thực nhất cho giá trị của
tác phẩm.
Tiểu thuyết kể về câu chuyện của gia đình họ Lã trước bao nhiêu sóng gió
của cuộc đời và trong những sóng gió ấy đã làm nên những con người cao cả. Đó là
người bà với tấm lòng bao dung nhân hậu, hi sinh hết mình để bao bọc cho các con
các cháu. Tấm lòng từ bi, yêu thương của bà trải rộng ra để cứu vớt lấy những mảnh
đời cơ cực. Bà là chân lí sống sáng ngời, là trái tim cao cả, tỏa ánh nắng ấm áp đến
những chân trời giá lạnh của cuộc đời.
Tấm lòng ấy được tác giả ca ngợi bằng những minh chứng điển hình nhất,
chân thực nhất để bà là trái tim, là mặt trời của tiểu thuyết này.
Côi cút giữa cảnh đời thì ắt hẳn cũng có những mảnh đời côi cút giống cái
tên của tiểu thuyết ấy. Những mảnh đời ấy là Duy và Thảm cùng những con người
khác cũng bị xoáy vào cuộc đời khổ cực và mang trong mình những vết thương.
Mặt khác, tác giả cũng không quên hướng tác phẩm của mình tỏa ánh
sáng vào những góc khuất của xã hội bằng việc đưa những nhân vật phản diện
(Luông, Hứng) vào tác phẩm như một cách để vạch trần sự thối nát, tha hóa
của một bộ phận chính quyền trong những ngày “tranh tối tranh sáng” của
thời kì đổi mới.
Đây là cái nhìn vừa bao quát lại vừa cụ thể lại vừa mạnh dạn của tác giả
vào vấn đề chính trị vốn nhạy cảm này. Cách nhìn như thế sẽ không có sự
“che đậy” hay “giấu giếm” sự thật để từ đó thay đổi sự thật và làm cho con
người được bảo đảm quyền hạnh phúc hơn. Đây chính là ý nghĩa sâu sắc mà
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 14 Lớp: K36C – SP Văn
con đường đi của họ trong xã hội. Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề phải thông
qua nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc. Một cuốn tiểu thuyết có đứng
được hay không là ở chỗ có tạo ra được những nhân vật làm cho bạn đọc nhớ được
hay không”. Các nhân vật được xây dựng để chuyên chở ý tưởng của tác giả, in đậm
cá tính sáng tạo của họ và bao giờ cũng mang dấu ấn thời đại. Sự ra đời của các loại
hình nhân vật tùy thuộc vào quan niệm sáng tác của mỗi nhà văn. Đối với Ma Văn
Kháng, hệ thống nhân vật đã phản ánh trung thành thế giới nghệ thuật cũng như
quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực trong hai chặng đường sáng tác của
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 16 Lớp: K36C – SP Văn
ông. Ở thời kỳ trước những năm 80, với nguồn cảm hứng sử thi, nhìn chung nhân
vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chủ yếu được nhà văn soi chiếu từ góc nhìn
chính trị - xã hội. Cuộc đời, số phận, tính cách từng nhân vật đều gắn liền với những
sự kiện, biến cố có quan hệ mật thiết đến vận mệnh chung của cộng đồng. Khi lòng
yêu nước trở thành một hệ quy chiếu để nhìn nhận đánh giá phẩm chất của con
người thì nhân vật trong tác phẩm cũng được tác giả thể hiện chủ yếu trên phương
diện ấy. Bởi thế, trong thời kỳ này, Ma Văn Kháng rất chú trọng việc xây dựng
tuyến nhân vật quần chúng, tuyến nhân vật là người cán bộ, chiến sỹ cách mạng
mang trong mình sự nhiệt tình, tận tụy gắn bó với sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc cũng như công cuộc xây dựng đời mới của các dân tộc anh em vùng cao.
Ở giai đoạn sau, trong các tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng, cảm hứng
chủ đạo là cảm hứng đời thường, cảm hứng sự thật. Hướng vào hiện thực cuộc sống
với những ngổn ngang, phức tạp của đời sống cư dân lao động ven thành thị và tầng
lớp công chức trí thức, Ma Văn Kháng đã xây dựng một thế giới nhân vật đa dạng.
Đó là những người lao động nghèo sống bằng nghề buôn bán nhỏ; những kẻ bất
lương chuyên lừa lọc; những cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan, xí
nghiệp, trường học; những anh bộ đội về hưu… Dù viết về ai, Ma Văn Kháng đều
làm cho người đọc không khỏi ngạc nhiên về một cảm quan tinh tế của ông.
Điều này sẽ được thể hiện trọn vẹn, sinh động qua việc xây dựng hệ thống
Không dừng lại ở đó, bi kịch vẫn cứ ghé thăm Duy khi cậu chập chững bước
chân vào cổng trường với những mảng đời tối sẫm. Bản thân Duy cũng thích tới
trường lắm. Nhưng sự thích thú của cậu đâu kéo dài được lâu như cậu tưởng bởi
những người xung quanh cậu hoặc là khinh bỉ cậu hoặc là miệt thị cậu. Đầu tiên là
sự xuất hiện của cô giáo Thìn với sự lạnh lùng:
“ - Điếc hả?
- Dạ, thưa cô.
- Không há miệng ra to hơn được nữa, hở?
- Thưa cô, tên em là Duy.
- Duy gì?
- Dạ, Duy ạ.
- Ngu thế, họ gì?
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 18 Lớp: K36C – SP Văn
- Dạ Lã Văn Duy ạ.
- Mẹ?
- Mẹ em tên là Đổng thị Thụy ạ.” [8, 54]
Đối với một môi trường học tập của một đứa trẻ thì người giáo viên không
chỉ là người dạy các em mà còn như một người mẹ thứ hai của con trẻ thế nên
“người mẹ” ấy nói gì, làm gì, đối xử với đứa trẻ ấy như thế nào sẽ ảnh hưởng tới
bản thân đứa trẻ ấy rất nhiều. Thế nhưng thay vì sự yêu thương, đùm bọc, thấu hiểu
cần phải có của một cô giáo mầm non thì cô Thìn lại dội thêm cho Duy những gáo
nước lạnh chứa đầy sự khinh bỉ:
“Hí hí không hiểu sao bỗng dưng cô giáo Thìn lại cất tiếng cười”. [8, 54]
Chao ôi! Một đứa trẻ thì làm gì có tội với cái tên, cái họ của nó để người ta dè bỉu,
người ta chê cười? Mà những người đang dè bỉu, chê cười cậu kia lại là những bậc
làm thầy, khác gì những người làm cha làm mẹ. Hơn nữa lại là chê cười vì cái họ
của Duy, của mẹ Duy giông giống họ bên Trung Quốc. Và tiếp theo là những trận
cười thích thú trên những gương mặt đầy ác ý của cô, của các bạn và của cái mặt
Trong lần viết văn với đề bài là viết về một câu chuyện dũng cảm mà em
biết, bằng tấm lòng của mình, cậu đã hồ hởi kể lại thật thà những gì mình biết về
câu chuyện của anh trung úy lái xe và cũng là bố Duy. Những tưởng cô sẽ đứng về
phía Duy và dành cho cậu số điểm xứng đáng thế nhưng cô đã đứng về phía những
bài văn mẫu. Không những thế, cô đã làm Duy phải ê chề với điểm một cùng lời
phê đầy sự chế nhạo. “Hoan hô nhà văn tương lai của nước Việt Nam ta. Em bịa tạc
một câu chuyện đến mức nực cười. Nhưng, em đã gặp may, vì em làm cô buồn cười
quá, nên cô đã không nỡ cho em điểm không”. [8, 248] Đọc tới đoạn này, ta tưởng
như đây không còn là một lớp học với ý nghĩa tích cực nữa, thay vào đó là một
khoảng không chứa đầy sự khinh bỉ. Xung quanh nó không còn là những người bạn
thân thiện, là người mẹ thứ hai đang yêu thương, chăm sóc nó mà là sự mỉa mai, ác
ý từ bạn bè tới thầy cô. Không phải nói gì thêm, ta cũng cảm nhận được cảm giác
của cậu bé đáng thương ấy vào lúc này. Cậu không thể như hồi mẫu giáo mà về nhà
trong sự hậm hực, bức bối hay khóc lóc như một đứa trẻ còn đang mẫu giáo nữa.
Giờ đây, một mình cậu phải tự chịu đựng tất cả như là một người lớn. Thương thay
cho số phận của những đứa trẻ, thay vì được nuông chiều, yêu thương bởi người
Khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên: Mai Thị Tâm 20 Lớp: K36C – SP Văn
lớn thì nó lại bị đối xử tệ bạc như thể người ta nghĩ nó có thể chịu đựng được rồi
vậy.
Thế nên, những lời lẽ cay nghiệt lại một lần nữa quất vào trái tim bé bỏng,
đầy vết thương của Duy. Rồi lợi dụng việc chú Dũng bị bắt, lũ bạn trong lớp ùa vào
với nhau và coi Duy như một tên tội phạm, bày trò bắt Duy:
“- Các đồng chí sĩ quan cấp úy, cấp tá! Các đồng chí hãy bắt tên phạm pháp
này lại”. [8, 250]
Sự nhục nhã, khinh bỉ mà những đứa trẻ xung quanh, cô giáo Thìn, cô giáo
Tuyết dành cho Duy đã hoàn tất một quãng đời được xem là hồn nhiên, vô tư nhất
trong cuộc đời của mỗi con người nhưng trong Duy lại chỉ còn sự ê chề, tủi hổ.
Đáng lẽ Duy phải được đối xử tốt hơn như thế nhiều chứ? Bởi duy vốn là