THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CHU LAI - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN ĐỨC HẠNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA CHU LAI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Mã Số: B2005 - 03 - 65

Thái Nguyên, 2006

1

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

SUMMARY
Project title: The world of art in Chu Lai's novels
Code number: B 2005 - 03 -65
Coordinator: Dr. Nguyen Duc Hanh tel: 0280 857 229.
Implementing Institution: Thai Nguyen college of Education.
Durahion: From 2005 to 2006.
1. Objectiver:
+ Find out the world of Art in Chu Lai's novels.
+ Insirt the progresser and some dis advantager of Chu Lai's novel in changing
the novel's art program.
2. The main contents:
Chapter 1 : Some great featurer of world art in Chu Lai's novel's
Chapter 2: The feelings of art and a kind of characters in Chu Lai's novel's.
Chapter 3: The nalure and time of world art in Chu Lai's.
3. Results obtained:
This is department of ethnology's reference to research study, and teaching
literature subjecl for teachers and students at Thai Nguyen college of Education.

3
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA CHU LAI

tranh và người lính với cái nhìn sâu sắc, đau đớn và nhân bản. Các nhà phê bình văn
học đều khẳng định thành công của Chu Lai ở mảng đề tài này. Bùi Việt Thắng nhận
xét: “Tiểu thuyết của Chu Lai giới thiệu nhiều vấn đề đáng quan tâm trên đề tài chiến
tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử” [l02]. Nguyễn Hoà lại từ một tác phẩm cụ thể

4
của Chu Lai mà khẳng định những phát hiện mới của nhà văn: "Với khúc bi tráng mới
cùng Chu Lai muốn thể hiện cách nhìn của anh về chiến tranh qua những tình huống bi
kịch để chiêm nghiệm xem con người đã làm thế nào để vượt thoát ra khỏi những tình
huống bi kịch ấy ...” [48].
2. Thành tựu ở đề tài số phận người tính thời hậu chiến: Có khá nhiều bài viết về
vấn đề này và đều khẳng định lòng trung thực, sự dũng cảm và khả năng “đào sâu” tận
cùng hiện thực của nhà văn phát hiện những "mảnh đời" còn khuất lấp, từ đó rút ra
những triết lí nhân sinh sâu sắc. Đó là Bùi Việt Thắng [101], Nguyễn Hương Giang
[42] , Hồng Diệu [29] , Nguyễn Thanh Tú [115] , Theo nhà văn Ma Văn Kháng, tiểu
thuyết của Chu Lai đã “đối mặt trực tiếp với những vấn đề bức bối của đời sống xã hội
hôm nay” [l17].
3. Vấn đề đổi mới quan niệm về hiện thực và con người.
Ở vấn đề này, chúng tôi bắt gặp ý kiểm của nhà phê bình Lê Thành Nghị; "Chu
Lai đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay còn bị dấu kín" [85].
Trong luận văn, thạc sĩ "Tiểu thuyết Chu Lai thời kì đổi mới", tác giả Nguyễn Văn
Chung đã khẳng định Chu Lai "Từ cái nhìn sâu sắc về hiện thực chiến tranh" đã đi đến
"cái nhìn đa diện về hiện thực thời bình”, từ "thân phận con người trong chiến tranh"
đến "thân phận con người trong cuộc sống đời thường"v.v...
4. Vấn đề đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của Chu Lai.
Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu phê bình đề cập đến nhiều nhất. Đó là ý
kiến của GS. Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết của Chu Lai "không chỉ đa dạng trong các
phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm,
“dòng ý thức”, “nghệ thuật đồng hiện ...” [38]. Các ý kiến của Nguyễn Hương Giang.
[42], Đỗ Văn Khang [118], Hồng Diệu [29]... cũng khẳng định những thành công

1. Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
2. Phương pháp nghiên cứu theo thi pháp thể loại tiểu thuyết
3. Phương pháp lịch sử
4. Phương pháp thống kê, so sánh...
V - Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, cấu trúc của đề
tài gồm 3 chương:
1- Chương 1 : Hành trình sáng tác tiểu thuyết và quan niệm nghệ thuật về hiện
thực và con người trong tiểu thuyết của Chu Lai.
2- Chương 2: Cảm hứng nghệ thuật họ ứng và tương giao với kiểu nhân vật trung
tâm trong tiểu thuyết của Chu lai.
3- Chương 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai.
6
Chương 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI CỦA CHU LAI.

1. Hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai:
Một hành trình đi từ mô hình tiểu thuyết sử thi đến mô hình tiểu thuyết "phi sử
thi". Điểm qua hành trình sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai từ 1978 đến nay, qua hàng
loạt tác phẩm xuất thiện dồn dập trên văn đàn của ông, chúng tôi tạm phân chia hành
trình sáng tác ấy làm hai chặng đường tương ứng với hai mô hình tiểu thuyết có tính
kế thừa - tiếp biến:
1.1. Chặng đường thứ nhất với mô hình tiểu thuyết sử thi (1978 - 1985). Ở chặng

suốt. Hình tượng người lính sau chiến tranh vượt tên trên thử thách và bi kịch mang vẻ
đẹp bi tráng, có sức lay động và ám ảnh mạnh mẽ đối với người đọc. Có thể kể tên
hàng loạt tiểu thuyết của Chu Lai mang đặc điểm và sức mạnh lay động ấy:
- Sông xa (1986)
- Bãi bờ hoang lạnh (1990)
- Vòng tròn bội bạc (1990)
- Ăn mày dĩ vàng (1992)
- Phố (1993)
- Ba lần và một lần (2000)
- Cuộc đời dài lắm (2002)
- Khúc bi tráng cuối cùng (2004)
- Người im lãng (2005)
Qua hành trình sáng tác của Chu Lai, chúng ta có những minh chứng để khẳng
định: - hai mô hình tiểu thuyết sử thi và sử thi khác biệt nhau nhưng không loại trừ
nhau. Trong mô hình tiểu thuyết sử thi vẫn có những
đặc điểm được mô hình tiểu thuyết phi sử thi kế thừa, tiếp biến và phát triển.
Chúng tôi sẽ chứng minh cho luận điểm này ở các chương - phần tiếp theo.
2. Khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết.
2.1. Khái niệm thế giới nghệ thuật:
Trong Từ điển Thuật ngữ văn học nhóm tác giả biên soạn đã định nghĩa về Thế
giới nghệ thuật: " Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật ( một tác phẩm,
một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật
nhấn ngạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên
tắc tư tưởng và nghệ thuật (...) khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc
đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan văn
hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ" [1 - 201, 202] .
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: thế giới nghệ thuật là toàn bộ các
phương diện nội dung và hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mĩ, được xây dựng bằng
một hệ thống nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật vừa bị chi phối bởi cá tính sáng tạo của
người nghệ sĩ, vừa bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hoá và cảm hứng thời đại

khác nhau ít nhiều đều xây dựng mô hình thế giới theo nguyên tắc phân tuyến - đối lập
"địch - ta" của loại hình tiểu thuyết sử thi.
Trong hàng loạt tiểu thuyết sử thi hiện đại Việt Nam xuất hiện trước 1975 như:
Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Vùng trời (Hữu Mai ), Của biển (Nguyên
Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Bão biển (Chu Văn), mô hình thế giới phân tuyến -
đối lập "địch ~ ta" đã được xác lập rõ ràng. Các tiểu thuyết Nắng đồng bằng, Út Teng,
Đêm tháng hai, Gió không thổi từ biển của Chu Lai cũng xây dựng mô hình thế giới
nghệ thuật theo nguyên tắc ấy. Trong tiểu thuyết Nắng đồng bằng của Chu Lai, chúng
ta bắt gặp một bức tranh hiện thực với hai mảng Tối - Sáng đang giao tranh dữ dội.

9
Bên địch là những đồn bốt, ấp chiến lược ngột ngạt, tăm tối và thác loạn. Trong đó,
các nhân vật phản diện xuất hiện như: - quận trưởng Xầm đen đúa, cố vấn Mĩ, sĩ quan
và binh lính Nguỵ... Tất cả đều được xây dựng theo nguyên tắc "Biếm hoạ" để trở
thành những con người - quỷ xấu xa. Đây cũng chính là nguyên tắc nghệ thuật rất phổ
biến trong tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 - 1975, một nguyên tắc được sử dụng để
xây dựng các hình tượng nhân vật phản diện. Các nhân vật thằng Xăm (Hòn Đất của
Anh Đức) Ba Phổ (Gia đình má Bẩy của Phan Tứ) Ba răng vàng (Rừng U Minh của
Trần Hiến Minh)... là những minh chứng cho nguyên tắc nghệ thuật ấy. Tương phản
với mảng hiện thực đen tối kia là mảng hiện thực bi hùng đang ngày một rực sáng chủ
nghĩa anh hùng cách mạng và niềm tin chiến thắng. Đó là căn cứ của trung đội Đặc
công vùng ven Sài Gòn, là những cánh rừng Trường Sơn bất khuất: ở đó, những người
anh hùng mang vẻ đẹp lí tưởng xuất hiện: - Linh, Năm Thuý, Sáu Hoà, Út Cò Ngẳng...
Nhưng ngay trong mô hình thế giới nghệ thuật phân tuyến - đối lập đậm chất sử
thi này đã xuất hiện những dấu hiệu của chất tiểu thuyết đích thực. Nhữmg dấu hiệu
mới hé lộ này sẽ trở thành phổ biến trong các sáng tác ở chặng đường sau của Chu Lai:
Đó là sự khốc liệt của chiến tranh với những cái chết nhuốm màu bi thảm:
Cái chết của Tùng, Ma Ngọc Lang, hành động tự sát của Toàn, cảnh xử tử út
Hạnh... Đó là sự oan ức của Linh từ bệnh quan liêu và duy ý chí của một số cán bộ
lãnh đạo cấp trên... Tất cả những tín hiệu này mới thấp thoáng xuất hiện như khúc

với duyên tắc phân tuyến - đối lập xây dựng hệ mô hình thế giới nghệ thuật ở hai
chặng đường sáng tác của Chu Lai, chúng ta thấy chất sử thi ngày mờ nhạt đi cùng với
kinh nghiệm cộng đồng, chất tiểu thuyết ngày một đậm lên cùng với sự chiếm lĩnh vị
trí chủ đạo của kinh nghiệm cá nhân. Quá trình chuyển đổi quan niệm nghệ thuật này
của Chu Lai có sự gặp gỡ và tương đồng với nhiều nhà văn khác: -
Nguyễn Minh Châu từ dấu chân người tính đến Bức tranh; Nguyễn Khải từ
Chiến sĩ đến Gặp gỡ cuốií năm, Lê Lựu từ Mở rừng đến Thời xa lắng.v.v...
3.1.2. Cái nhìn phản ánh - miêu tả với chiến tranh dần chuyển sang cái nhìn hồi
ức - phân tích về chiến tranh:
Trong các tiểu thuyết của Chu Lai xuất hiện ở chặng đường thứ nhất, chất sử thi
vẫn đậm nét dù chất tiểu thuyết đã manh nha xuất hiện. Hiện thực chiến tranh trở thành
đối tượng miêu tả, việc thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực sẽ dẫn đến sự thay
đổi cái nhìn về chiến tranh.
Trong các tiểu thuyết của Chu Lai ở thời kì này, kinh nghiệm cộng đồng và cảm
hứng thời đại mang tính anh hùng ca trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan niệm nghệ
thuật của Chu Lai. Quan niệm nghệ thuật quy định nội dung và định hướng cái nhìn
phản ánh - miêu tả về chiến tranh: - một hiện thực chiến tranh được tái hiện theo trục
sự kiện - mà ở đây là các trận đánh. Hệ thống sự kiện nổi lên hàng đầu còn số phận
những người lính chỉ ở vị trí thứ hai. Họ tham gia vào các sự kiện và qua đó bộc lộ
phẩm chất hoặc anh hùng hoặc hèn nhát của mình. Trong tiểu thuyết "Nắng đồng
bằng" của Chu Lai, cốt truyện được triển khai theo dòng sự kiện: - Hành quân (tr.7);
Vượt sông (tr.19); Về đồng bằng (tr.29 - 33); Vào ấp chiến lược (tr.33-35); Đi lấy gạo
bị thương vong (tr.39 - 5l); Đánh ổ phục kích Mĩ (tr.57 - 58)...Với hệ thống sự kiện ấy,
nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách bằng ngôn ngữ và hành động, độc thoại nội tâm
cũng đã xuất hiện nhưng còn thưa thớt, đặc biệt các lời độc thoại nội tâm chủ yếu là lời
nửa trực tiếp, giọng điệu của người trần thuật và giọng điệu của nhân vật luôn song
trùng, thống nhất với nhau, tính cách nào thì ngôn ngữ hành động và suy nghĩ như thế
ấy, không hề có sự so le khập khiễng như trong các tiểu thuyết ở chặng đường sáng tác
thứ hai của Chu Lai. Nhân vật Linh với những phẩm chất anh hùng của mình đã luôn


thời chiến tranh và thời “hậu chiến”. Những "mảng" hiện thực có được từ kinh nghiệm
cá nhân của nhà văn ( có thể là điển hình hoặc không điển hình) không còn phải né
tránh mà được phơi bầy trần trụi trên mặt giấy. Trong cảnh xử tử tên gián điệp út Hạnh
[1,304 - 307], cây gậy trên tay Linh vung lên sắp quật vỡ đầu nó thì vướng vào cành
cây nên phải dừng lại. Thực ra "cây gậy" kinh nghiệm cá nhân của nhà văn đã vướng
phải "cành cây" chuẩn mực nghệ thuật của loại hình tiểu thuyết sử thi: - người anh
hùng cách mạng không được phép được miêu tả với hành động "phản thẩm mĩ" (dù có
thật trong chiến tranh) như thế. Nhưng trong tiểu thuyết ăn mày dĩ vãng, nhân vật Hai
Hùng đã ra lệnh cho Tuấn đập chết sáu tên chiêu hồi, tình báo Nguỵ: "Một trong sáu ụ
đất ấy, trên bề mặt vẫn còn vương lại mấy lọn tóc dài của đàn bà (...) - con Phượng

12
hoàng tóc dày quá - Đập mãi không chết..." [3 - l99]. Cái nhìn hồi ức phân tích trong
loại hình tiểu thuyết phi sử thi đã khái quát một bộ mặt chiến tranh nói riêng, bộ mặt
cuộc sống nói chung phong phú đa dạng hơn, "thật hơn" theo góc nhìn từ kinh nghiệm
cá nhân của nhà văn. Trong tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, cuộc chiến
tranh Biên giới 1979 đã được tái hiện trong hồi ức, không phải là cảnh chiến trận đẫm
máu mà là một kỉ niệm thấm đẫm nhân tính: - Vũ Nguyên và Bằng đã cố tình "phạm
luật, khi thả A linh - một nữ tù binh. Ranh giới Địch - Ta đã mờ đi bởi tình người. Các
tiểu thuyết sử thi Việt Nam trước 1975 và các tiểu thuyết của Chu Lai ở chặng đường
sáng tác thứ nhất sẽ không chấp nhận tình tiết đó.
3.2. Sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai:
3.2.1. Từ cái nhìn sử thi với con người "đơn phiến" chuyển sang cái nhìn tiểu
thuyết với con người lưỡng diện - đa tạp.
Trong loại hình tiểu thuyết sử thi Việt Nam hiện đại 1945 - 1975. Nguyên tắc
phân tuyến đối lập đã "chia đôi" thế giới nhân vật thành "hai nửa" chính diện và phản
diện. Đó là những con người "đơn phiến" mang phẩm chất đạo đức định sẵn và bất
biến. Cơ sở để phân tuyến là ý thức hệ chính trị, là lập trường giai cấp. Bởi vậy, nhân
vật chính diện nhất định phải tối đẹp. Nhân vật phản diện dứt khoát phải xấu xa. Các
tiểu thuyết của Chu Lai ở chặng đường sáng tác thứ nhất tuy không "rập khuôn"

xuất hiện với phẩm chất đạo đức không phải bao giờ cũng trùng khít với chính nó: -
Hai Tính cứa đứt dây võng để hại Sáu Nguyện vì thù hằn (Ba lần và một lần); Huấn
giết chết Trung đội trưởng Thành để trả thù riêng (Vòng tròn bội bạc)... Những con
người lưỡng diện - đa tạp này hoặc tha hoá trước thử thách hoặc "nếm trải" thử thách
rồi trưởng thành nhờ cuộc đời dạy bảo. Chính vì thế, họ trở thành nhân vật đích thực
của tiểu thuyết chứ không phải là nhân vật của các “Sử thi mới”.
3.2.2. Từ những người anh hùng - hợp thời trở thành những người anh hùng - lạc
thời.
Đây không phải là phát hiện mới của Chu Lai. Nhiều nhà văn lớp trước và cùng
thời với Chu Lai đã phản ánh hiện tượng mang tính quy luật này. Những người anh
hùng rực rỡ vinh quang trong chiến trận, khi trở về với những thương tật cả trên thân
thể và tâm hồn đã không dễ hoà nhập vào cuộc sống đời thường. Một số người trở lên
lạc lõng bơ vơ, vật vã trong cả bi kịch vật chất và tinh thần. Bảo Ninh trong Thân phận
tình yêu đã viết thật xúc động và ám ảnh về hiện tượng đó. Nhân vật Kiên cô độc đi
giữa cuộc đời với những vết thương khủng khiếp trong tâm hồn. Những ác mộng đêm
đêm kéo anh trở về với Trường gọi hồi, đồi Xáo thịt... đầy xác chết và máu. Tỉnh dậy
trong đêm, Kiên thấy gối đầm đìa nước mắt. Chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả của
nó để lại thật nặng nề và tàn bạo trên từng mảnh đất, từng số phận con người. Và
những người lính trở về đời thường đã trở thành những anh hùng - lạc thời hay nói
chính xác hơn là hết thời. Họ không thể tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và hạnh
phúc trong cuộc sống.
Hoà vào “dàn đồng ca” hát bài hát bi thảm thời hậu chiến, Chu Lai đóng góp
giọng hát riêng của mình, làm phong phú và sâu sắc hơn những tìm tòi, khám phá về
thân phận người lính sau chiến tranh. Đó là số phận của Sáu Nguyện trong Ba lần và
một lần, Lãm với cuộc sống trên hè phố trong Phố và đặc biệt là Hai Hùng trong Ăn
mày dĩ vãng. Người đội trưởng đội đặc nhiệm lừng lẫy một thời, người anh hùng trận
mạc từng khiến kẻ thù khiếp sợ và gọi anh bằng cái tên "ác ôn Việt cộng", giờ đây trở
thành một kẻ ăn mày đặc biệt : - ăn mày dĩ vãng. Bản chất trung thực và thẳng thắn
của một người lính đã khiến anh không thể hoà nhập với mặt trái của cơ chế thị
trường. Ngoài 40 tuổi mà nhàu nát, già nua như ông già ngoài 50 tuổi, không gia đình,

3.2.3. Thất vọng và hi vọng - hai “gam mầu” tối - sáng trên bức chân dung người
lính thời hậu chiến.
Bên cạnh những người anh hùng - lạc thời, những người lính lạc lõng hay bầm
dập trong bi kịch thời hậu chiến, chúng ta vẫn gặp trong tiểu thuyết Chu Lai những
người lính vượt lên và chiến thắng thử thách của đời thường - những thử thách không
kém phần ác liệt so với thử thách của chiến tranh. Có thể coi đó là những "gam mầu
sáng" đầy hi vọng xuất hiện bên những “gam mầu” tối thấm đậm nỗi đau và thất vọng.
Với những hình tượng nhân vật khoẻ khoắn ấy, người đọc có quyền hi vọng rằng: -
những người lính giữ vững phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ đã dũng cảm chiến đấu và
chiến thắng ở chiến trường sẽ chiến đấu và chiến thắng ở "mặt trận không tiếng súng"
này.
Đó là nhân vật Lãm trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai, người lính ấy từ cuộc

15
sống nghèo khổ vất vưởng trên hè phố đã vươn lên bằng nghị lực và danh dự của một
người chiến sĩ. Lãm đã làm giầu chân chính rồi cưu mang những đồng đội cơ nhỡ khó
khăn của mình. Anh sẵn sàng lấy cái chết của bản thân mình để cứu cho cái đẹp, cái
thiện không bị huỷ hoại. Cũng được xây dựng theo mô típ "xả thân vì lí tưởng" như
thế, Vũ Nguyên trong Cuộc đời dài lắm đã phấn đấu trở thành một giám đốc tài năng
và liêm khiết, đem lại cơm áo và hạnh phúc cho hàng ngàn người lao động. Trong
khoảng giao thời còn đầy hỗn tạp, trong thời điểm đất nước đói nghèo đang vật vã tìm
đường đi lên, những người anh hùng kiểu mới tài năng và dũng cảm như Vũ Nguyên
cần thiết và đáng quý biết chàng nào! Cởi bỏ áo lính nhưng các anh vẫn giữ nguyên
trái tim người lính anh hùng lao vào cuộc chiến đau mới. Ở đoạn kết tác phẩm, chúng
ta gặp một kết thúc bi tráng: Vũ Nguyên ra tù, trở về lâm trường cao su yêu quý của
mình và tắt thở với nụ cười mãn nguyện trên môi. Vũ Nguyên chết nhưng sự nghiệp và
lí tưởng của anh không chết. Bởi vậy, bi kịch cuộc đời Vũ Nguyên là một bi kịch lạc
quan cho phép chúng ta tin tưởng, hi vọng vào tương lai tươi sáng.
Như vậy, với quá trình chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về thế giới và con
người, qua hai chặng đường sáng tác tiểu thuyết của Chu Lai, chúng ta bắt gặp hai thế

Từ điển Thuật ngữ Văn học: "Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác
phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây
tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm. Bê - lin - xki coi cảm hứng
chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó
"biến sự chiếml lĩnh thuần tuý trí óc đối với tư tưởng thànhl tình yêu đối với tư tưởng,
một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành"[123- 44].
1.2. Khái niệm kiểu nhân vật trung tâm:
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả biên soạn không sử dụng khái
niệm “nhân vật trung tâm” mà gọi đó là nhân vật chính: "nhân vật then chốt của cốt
truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tường của tác phẩm"
[123 - 156]. Còn trong giáo trình Lí luận văn học, nhóm tác giả biên soạn lại phân chia
tỉ mỉ hơn trong mục loại hình nhân vật văn học, nếu dựa vào tiêu chí vai trò và vị trí
của nhân vật trong kết cấu và cốt truyện của tác phẩm, chúng ta có ba loại nhân vật: -
nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Trong đó, nhân vật trung tâm là:
“Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt
của cốt truyện hoặc tuyến cất truyện. Đó là con người liên quan đến các sự kiện chủ
yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình (...). Trong các
nhân vật chính của tác phẩm lại có thể nhận thay nổi lên những nhân vật trung tâm
xuyên suất tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa. Đó là nơi quy tụ các mối mâu
thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung lâm của tác phẩm” [122 - 283]. Trong
hàng loạt tác phẩm của một nhà văn, chúng ta có thể gặp các nhóm nhân vật trung tâm
xuất hiện lặp đi lặp lại như một mô típ nghệ thuật. Và chúng tôi gọi đó là những kiểu
nhân vật trung tâm trong hệ thống tác phẩm của một tác giả. Trong các tiểu thuyết của
Chu Lai, chúng ta sẽ gặp một số kiểu nhân vật trung tâm vừa khác nhau về tính cá thể
hoá sinh động vừa có sự tương đồng về phẩm chất loại hình nhân vật.

17
1.3. Mối quan hệ tương giao - hô ứng giữa cảm hứng chủ đạo và kiểu nhân vật
trung tâm:
Cảm hứng nghệ thuật không chỉ là động lực thúc đẩy người nghệ sĩ cầm bút sáng

Cảm hứng lãng mạn hay còn gọi là chất lãng mạn luôn chấp cánh ước mơ cho
con người bay bổng lên trên hiện thực nghiệt ngã, tàn khốc, hướng về một tương lai tốt
đẹp với một niềm tin sâu sắc.
Như vậy, cảm hứng anh hùng là một tình cảm xã hội với ý thức hướng về chiến

18
công và nhấn mạnh ý nghĩa của những chiến công đó đối với dân tộc và nhân loại. Chủ
thể của những chiến công đó là những con người anh hùng (cá nhân hoặc tập thể). Tất
nhiên, nhà văn thường không ca ngợi "chất anh hùng" (một khái niệm mang tính dân
tộc - lịch sử) một cách trực tiếp mà "lý giải bằng tư tưởng sáng tạo tính anh hùng ấy
dưới ánh sáng lý tưởng về sự dũng cảm, trung thực và nghĩa vụ công dân. Nghệ sĩ tái
tạo đời sống thành thế giới hình tượng của tác phẩm, trong đó thể hiện quan niệm của
tác giả về chiến công, về bản chất, số phận và ý nghĩa của tính cách anh hùng"
Không chỉ với nhân vật Linh trong Nắng đồng bằng được khắc hoạ bằng cái nhìn
sử thi, với các nhân vật trung tâm được khắc hoạ bằng cái nhìn tiểu thuyết trong các
tiểu thuyết khác của Chu Lai, các nhân vật anh hùng là nam giới khi xông pha trận
mạc đều mang một vẻ đẹp kiêu hùng - lãng tử, một vẻ đẹp chỉ có ở các nhân vật chính
diện của Chu Lai. Đó là các nhân vật anh hùng với vẻ đẹp ngoại hình đầy nam tính và
có tính lí tưởng hoá. Chúng ta cùng ngắm nhìn nhân vật Linh trong Nắng đồng bằng:
“Lúc nào cũng chỉ vận một chiếc quần cụt bằng nương, phía trên bàn chiếc áo rằn ri
chật căng, cúc mở phanh để lộ tảng ngực nâu bóng, vuông vức. Cái dáng ngang tàng,
vô tư của những tay súng cự phách vùng ven (...) vóc dáng hiên ngang của người chỉ
huy, khẩu "côn" bạc trắng để trần, giắt lệch bên hông, hai băng đạn M79 vàng chói
khoác chéo qua ngực kềnh kệch một dây lưng tạc đạn..." [1 - 273]. Người anh hùng
nổi tiếng dũng cảm trong trận mạc mang vẻ đẹp ngang tàng ấy đi vào các trận đánh,
lúc nào cũng đi đầu trước mọi hiểm ngay. Chàng trai Hà Nội hào hoa ấy có sức khoẻ
phi thường, từng ghé vai nâng một bên xe ô tô để thay lốp trước khi trở thành người
lính đặc công. Vẻ đẹp lãng tử - kiêu hùng của anh không chỉ được khắc hoạ trong các
trận đánh mà còn được biểu hiện qua một chi tiết đời tư: - cắn răng nén xuống những
xao động trong lòng trước Thuý vì mối tình còn gửi lại hậu phương. Chiến thắng chính

vật lí tưởng đến trước các thử thách khủng khiếp nhất, ác liệt nhất (ở cả ngoại cảnh và
ở trong chính bản thân mỗi con người). Tư thế chiến thắng thử thách của họ trong cuộc
chiến đấu chống quân xâm lược đã khẳng định phẩm chất anh hùng của các nhân vật
này. Nhưng tư thế chiến bại trước những thử thách đời thường vẫn không làm tan biến
vẻ đẹp anh hùng của họ nên họ không tha hoá trước hoàn cảnh. Bởi vậy, trong tiểu
thuyết của Chu Lai, cảm hứng anh hùng xuất hiện trong cả hai tư thế: - tư thế chiến
thắng của người anh hùng hợp thời (Ví dụ: nhân vật Linh trong Nắng đồng bằng); tư
thế chiến bại của người anh hùng - lạc thời những vẫn giữ vẹn nguyên những phẩm
chất cao đẹp của mình (Ví dụ: Nhân vật Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần).
2.2. Cảm hứng bi kịch và cảm hứng cảm thương tương giao hô ứng với kiểu
nhân vật bi kịch.
* Khái niệm cảm hứng bi kịch.
"Tình huống bi kịch bao hàm ở mâu thuẫn và đấu tranh của những nguyên tắc cá
nhân "siêu cá nhân trong ý thức con người(...) là mâu thuẫn giữa "những yêu cầu tất
yếu về mặt lịch sử, của đời sống và việc "không có khả năng thực hiện yêu cầu nói trên
của thực tiễn"( Pôxpêlốv - Dẫn luận nghiên cứu văn học) [tr l60].
Cảm hứng bi kịch luôn xuất hiện khi có sự đối kháng giữa hai lực lượng thù địch:
Tiến bộ và lạc hậu; Cách mạng và phản cách mạng...và trong cuộc đấu tranh không
cân sức ấy, cái đẹp, cái thiện tạm thời thất bại trước cái xấu, cái ác. Con người lý
tưởng ngã xuống nhưng cái chết ấy lại gieo mầm cho sự sống, thúc dục nhân dân đứng
lên tiếp tục thực hiện lý tưởng cao đẹp của người anh hùng.
* Khái niệm cảm hứng cảm thương.
"Cảm hứng cảm thương - là sự xúc động của tâm hồn, được gây nên bởi ý thức
về những phẩm giá đạo đức trong tính cách những con người bị hạn thấp về mặt xã hội
hoặc có liên quan với tầng lớp đặc quyền lợi thiếu đạo đức. Trong các tác phẩm văn
học tính thương cảm mang khuynh hướng tư tưởng khẳng định" [tr.162].

20
Với cảm hứng bi kịch, chúng ta thấy bi kịch là tiếng gọi đồng tình đứng trên quan
điểm của cái đẹp mà lên án và phỉ nhổ cái xấu. Trong những thời điểm lịch sử nhất

thẳng dậy, buông một tiếng nói thật chậm, thật nhỏ:- Rồi, Vậy đó! Và anh tắt thở”. [1-
224].
Bên cạnh tư thế hi sinh bi tráng đậm chất sử thi của Sáu Hoá, chúng ta còn chứng
kiến những cái chết bi thảm đậm chất tiểu thuyết, không hề lãng mạn hoá, phi thường
hoá như cái chết của Sáu Hoá, của Thuý. Đó là cái chết đau thương của Tùng, có lẽ lần
đầu xuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: "Chợt ánh đèn pin đậu lại trên một

21
vật trắng xác (...). Một con kì đà mầm mẫm bỗng vùng chạy khỏi tử thi. Linh bước
nhanh lại, quỳ xuống. Giữa miệng Tùng, một cái cọc cắm sâu lút gáy xuống đất (...)
Hài khom lưng, dùng cả hai tay rút bật cái cọc ra khỏi miệng Tùng. Ở chỗ đó, một chất
nước đen bật ra..."[l - 39]. Trong loại hình tiểu thuyết sử thi Việt Nam hiện đại, cái Bi
được giảm nhẹ tối đa và cái Đẹp, cái Cao cả được tô đậm lên nhiều lần. Những tư thế
hi sinh được lãng mạn hoá như tư thế hi sinh của Sáu Hoá đã biến bi kịch thành bi kịch
lạc quan. Nhưng trong loại hình tiểu thuyết phi sử thi, tất cả được miêu tả trần trụi và
chân xác như chính những gì đã và đang xảy ra trong cuộc sống, kể cái chết mang tính
bi kịch như cái chết của nhân vật Tùng kể trên. Có thể khẳng định Nắng đồng bằng
của Chu Lai mang tính trung gian và là một tác phẩm giao thoa - tiếp biến của cả hai
loại hình tiểu thuyết sử thi và phi sử thi. Bởi vậy, bên cạnh chất sử thi còn đậm nét,
chất tiểu thuyết đã bắt đầu xuất hiện với những tín hiệu thăm dò và dự báo. Ở những
tiểu thuyết sau này của Chu Lai, những “nốt nhạc” dạo đầu ấy sẽ trở thành cao trào.
Đây là một tư thế tư thế hi sinh mang tính bi kịch đích thực của Thu trong Ăn mày dĩ
lãng: "Thu chỉ còn là một cá; xác loã lổ, chân tay dẹo dọ nằm trong một tư thế kì dị.
Rừng xanh, đất xanh, trời xanh...Da thịt sao trắng thế? Mái tóc xoã dài, chấm ngọn
xuống suối, đen đến tức tưởi (...) giữa cặp đùi trắng nuốt hơi chảng ra của cô, ở chỗ
kín có một chiếc cọc sần sùi, vát nhọn cắm sâu vào xuyên tới đất... Máu đổ như sơn
nhểu xuống tận bắp chân, bắn từng giọt lên bụng, lên gò ngực vẫn no tròn sự sống..."
[8- 154]. Những cái chết bi kịch như thế xuất hiện ngày một nhiều hơn. Không còn
được bao phủ bởi ánh sáng lãng mạn của cái nhìn sử thi, nó trần trụi bi thảm và đau
đớn đến khủng khiếp trong cái nhìn liếc thuyết: - Tuấn lỡ tay để súng cướp cò khiến

tạo thành xung đột bi kịch từ sự tương phản chua xót: - hào quang hôm qua và tủi nhục
hôm nay; được trân trọng trong quá khứ và bị coi rẻ trong hiện tại; Anh hùng trước đây
và "người thừa" hôm nay; khát khao tiếp tục được cống hiến cho đất nước và thực tế bi
thải loại vì không đủ điều kiện, không phù hợp với cơ chế thị trường. Tính bi kịch
càng sâu thẳm, da diết hơn khi những con người trong bi kịch ấy luôn tự ý thức về bi
kịch mang tầm thời đại của mình - một bi kịch khổng lồ thời Hậu chiến xảy ra do cả
nguyên nhân chủ quan và khách quan, tồn tại trong một "khoảng giao thời" nhốn nháo
và có quá nhiều nhọc nhằn của đất nước. Đó là Bi kịch của Sáu Nguyện trong Ba lần
và một lần. Một đại uý Quân báo tài năng và dũng cảm, thần tượng của bao đồng đội
và là nỗi khiếp sợ của kẻ thù. Do sự phi lí của chiến tranh, sự oan sai do chính các
đồng đội và cấp trên đem lại, Sáu Nguyện đi ra khỏi chiến tranh với rất nhiều thương
tật và hai bàn tay trắng hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Tình yêu với Tư Chao bị
phản bội đã là một vết thương lòng sâu hoắm. Tình cảm mơ hồ đành cho Út Thêm trở
thành một ảo ảnh đẹp đẽ để anh khắc khoải kiếm tìm. Phiêu bạt trong hoà bình, tìm
đến tình bạn của Tính như tìm một điểm tựa cho niềm tin, Sáu Nguyện lại phải ra đi vì
đồng tiền lạnh lẽo đã làm cho Tính tha hoá. Về lâm trường cao su, Sáu Nguyện cũng
không tìm được bến đỗ cho đời mình vì bị hiểu lầm, bị oan ức lần thứ hai. Tìm đến với
Ba Đẩu, hi vọng một nhóm đồng đội cũ đều là những con người thừa sẽ chụm vào
nhau xẻ chia hơi ấm của tình đồng chí thiêng liêng, nhưng lệnh cưỡng chế giải toả đất
đai thật phi lí lại ập đến hắt anh ra đường để trở lại với cuộc sống phiêu bạt. Nhưng
đau đớn nhất với Sáu Nguyện là phải đối mặt với Năm Thành - người bạn chiến đấu
chí cốt một thời đã ba lần phản bội, đã chà đạp lên những gì mà anh coi là thiêng liêng,
quý giá hơn cả hạnh phúc cá nhân, hơn cả mạng sống của mình:
"Mày nghe đây! Ngày ấy mày chiêu hồi, tao tha (...). Chiêu hồi rồi, mày còn
cướp đi người đàn bà mà tao yêu thương nhất, tao vẫn tha(...) Hai mươi năm sau, cuộc
đời dồn đẩy tao đến bước đường cùng. Còn mày ... mày thoá mạ, mày chà đạp lên tất
cả...Tao vẫn tha(...) Nhưng lần này, mày thản nhiên, mày còn đứng nhăn răng ra cười
khi một con đàn bà ngoại quốc(...) cầm dép đập vào giữa mặt công nhân của mày, cái
cô công nhân mà ngày trước mày đã từng ngủ với người ta...thì tao sẽ không tha nữa.


lên cười xệch xẹo...(....). Hết thảy đều chìm trong bụi thời gian mốc thếch. Càng buồn!
Biết vậy chả lên gặp lại, chả nên tìm đến làm gì chỉ tổ bẽ bàng, tan nát lòng dạ hơn..."
[8 - 7,8].
Trong bi kịch thời Hậu chiến này, có biết bao anh hùng một thời chiến tranh rực
rỡ trong vinh quang, giờ đây chỉ còn là những con người thừa lụi tàn dần bên lề cuộc
sống đang ồn ào, chuyển động đến giàu sang một cách chóng mặt. Anh Hùng kiêu
hùng một thủa trở thành con người thừa đã là bi kịch. Nhưng bi kịch còn thê thảm hơn
khi con người thừa ấy cố chạy đuổi theo một "bóng ma" hình như đội mồ sống dậy để
ăn mày dĩ vãng. Hai Hùng với trang phục, ngoại hình "dòm như cái đồ ăn mày" (tr.22)
đã đau khổ và hi vọng biết chứng nào khi tình cờ gặp lại Ba Sương - người yêu cũ đã

24
chết trong chiến tranh, giờ mang tên Tư Lan - một giám đốc Sở Nông Lâm làm ăn nức
tiếng Lục tỉnh Miền Tây Nam Bộ. Hai Hùng đi tìm Ba Sương không phải với ý nghĩa
đi tìm lại một người yêu lí tưởng. Anh di tìm sự cứu rỗi và thanh thản cho tâm hồn
mình: "Nếu đúng cô ấy không chết thì tôi sẽ được cứu rỗi. Còn cô ấy đúng là chết thật
rồi thì tôi sẽ tiếp tục bị ám ảnh như đã từng bị ám ảnh vì chính tôi, dù có biện minh thế
nào đi nữa, cũng là kẻ phần lớn gây nên cái chết ấy. Lúc đó đáng lẽ tôi có thể quay lại
có thể giúp cho cô ấy được phần nào nhưng tôi lại nằm im..."[8 - 95]. Với mục đích ấy,
Hai Hùng đã vượt qua bao đắng cay đau khổ để tìm lại Ba Sương, dù bị phủ nhận, xua
đuổi từ chính người con gái ấy. Nhưng khi xác định chính xác Tư Lan là Ba Sương thì
nỗi đau mới lại ập đến. Nỗi đau cũ với mặc cảm tội lỗi vừa tan đi thì nỗi đau mất mát
lại ùa đến: - mất đi niềm tin vào một con người, mất đi niềm tự hào về một quá khứ
đau thương nhưng hào hùng. Ba Sương đẹp đẽ anh hùng trong quá khứ đã sống lại về
thể xác nhưng đã chết thật rồi về nhân cách - cái chết lần thứ hai này của Ba Sương
mới thật sự là cái chết khi niềm tin sụp đổ: "Bây giờ mới là hết. Hết thực sự. Hết quá
khứ, hết những năm tháng trận mạc khổ mà vui, hết tình yêu, tình đồng đội và cả tình
đồng chí. Hết nhẵn! Tựu trung mọi sự chỉ là trò đùa của quỷ..." [8- 265].
Như vậy, ở dạng thức bi kịch lịch sử thứ nhất, chúng ta gặp những cái chết bi
hùng, thậm chí phi lí của những người lính anh hùng trong chiến trận. Ở dạng thức bi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status