ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TƯƠI
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ HUY ANH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2014 2
2.2.1. Nhân vật nữ tu sĩ 39
2.2.2. Những vị cha xứ 51
2.2.3. Những người giáo dân 54
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 65
3.1. Cốt truyện 65
3.1.1. Cốt truyện kép 66
3.1.2. Cốt truyện tâm lý 70
3.2. Không gian – thời gian nghệ thuật 72
3.2.1. Không gian nghệ thuật 72
3.2.1.1. Không gian thực 73
3.2.1.2. Không gian ảo 79
3.2.2. Thời gian nghệ thuật 81
3.2.2.1 Thời gian hiện thực 83
3.2.2.2. Thời gian tâm lý 85
3.3. Giọng điệu 88
3.3.1. Giọng điệu buồn thương – chia sẻ 90
3.3.2. Giọng điệu hài hước, châm biếm 93
3.4. Ngôn từ 96
3.4.1. Ngôn ngữ đậm màu sắc công giáo 96
3.4.2. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 98
3.4.3. Ngôn ngữ đối thoại 102
PHẦN III: KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
4
Anh là những thành công tiếp theo của mảng đề tài này. Tuy chƣa gây đƣợc
tiếng vang lớn nhƣng những tiểu thuyết viết về đề tài công giáo của ông đã có
những thành công riêng, để lại những ấn tƣợng tốt đẹp về ngƣời công giáo
trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc.
Vũ Huy Anh tập trung viết về đề tài công giáo – một mảng đề tài đặc
biệt. Tuy đây không phải là đề tài mới nhƣng đó vẫn là con đƣờng mà không
nhiều ngƣời bƣớc chân vào. Hơn ba mƣơi năm sống và làm báo, viết văn tại
Hà Nội, ông đã xuất bản 15 cuốn tiểu thuyết và truyện. Đó là một con số đáng
kể đối với một đời lao động nghệ thuật. Trong đó, có nhiều cuốn tiểu thuyết
đã đƣợc dƣ luận chú ý và đặc biệt tiểu thuyết Cuộc đời bên ngoài đƣợc giải
thƣởng chính thức của Hội nhà văn năm 1984. Đó thực sự là những tác phẩm
mang thông điệp chính trị và văn hóa sâu sắc.
Đi vào khám phá thế giới nghệ thuật của Vũ Huy Anh cũng là để bạn
đọc biết thêm, yêu mến thêm một cây bút tiểu thuyết mới tràn đầy lòng nhiệt
huyết với nghiệp văn, với cuộc đời đồng thời cũng để khẳng định sự đa dạng
của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong
tiểu thuyết của Vũ Huy Anh.
2. Lịch sử vấn đề
Vũ Huy Anh là một gƣơng mặt tiểu thuyết mới nổi trên văn đàn hiện
nay, vì vậy những tác phẩm của ông chƣa đƣợc khám phá nhiều. Các cuốn
tiểu thuyết tiêu biểu của ông nhƣ: Cuộc đời bên ngoài, Trăm năm thoáng
chốc, Dang dở, Cách trở âm dương đã thu hút đƣợc sự chú ý, bình luận của
giới nghiên cứu và một số nhà văn. Song, hầu hết các sáng tác này còn khá
mới mẻ với nhiều bạn đọc.
Trong số bốn tác phẩm trên, Cuộc đời bên ngoài giành đƣợc nhiều sự
quan tâm hơn cả. Viết về tác phẩm này, các nhà nghiên cứu, phê bình đã tập
6
Nhìn chung, số lƣợng bài viết về tác phẩm của ông hiện nay còn khá ít
ỏi và chủ yếu mang tính khái quát, đƣa ra đôi điều cảm nhận về nội dung cũng
nhƣ nghệ thuật trong từng tác phẩm, chƣa có sự liên hệ giữa các tiểu thuyết
trong chuỗi tác phẩm viết về đề tài tôn giáo của Vũ Huy Anh. Các bài viết
mới chỉ dừng lại ở những bài báo lẻ tẻ, không mang tính chất chuyên sâu.
Nhƣ vậy, cho đến nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể,
những đóng góp nghệ thuật của Vũ Huy Anh trong lĩnh vực tiểu thuyết. Đa số
các nhà phê bình đều chỉ đi vào một khía cạnh hoặc một tác phẩm cụ thể mà
mà chƣa hề có một công trình nghiên cứu nào hệ thống lại những đặc điểm
nổi bật trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Vũ Huy Anh.
Và đây chính là khoảng trống để chúng tôi lựa chọn đối tƣợng nghiên
cứu là Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vũ Huy Anh nhằm giúp bạn
đọc có nhiều cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và yêu mến cây bút này hơn. Đồng thời,
đây cũng là cách tiếp cận những đặc trƣng cơ bản của tiểu thuyết và văn học
đƣơng đại.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là khám phá nội dung và một số phƣơng diện
nghệ thuật đặc sắc tạo nên thế giới nghệ thuật đặc sắc trong tiểu thuyết của
Vũ Huy Anh. Qua đó chỉ ra những nét đặc sắc của nhà văn, góp phần tạo nên
sự đa dạng của tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại. Từ đó, chúng ta có cái nhìn
khái quát về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
b. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng khảo sát chính là thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ
Huy Anh bao gồm: Cảm hứng nghệ thuật, Thế giới nhân vật, Các phƣơng
diện nghệ thuật đặc sắc.
c. Phạm vi nghiên cứu
8
Phƣơng pháp loại hình đi sâu vào tìm hiểu những đặc trƣng của thể loại
tiểu thuyết nhằm khu biệt, so sánh nó với những thể loại văn xuôi khác để từ
đó nhận thấy những nét độc đáo của tiểu thuyết.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Huy Anh: Cảm hứng
nghệ thuật, Thế giới nhân vật, Các phƣơng diện nghệ thuật tiêu biểu để khẳng
định vai trò, vị trí, tên tuổi, những đóng góp về sự cách tân nghệ thuật của Vũ
Huy Anh đối với văn học Việt nam thời kỳ Đổi mới về đề tài ngƣời công
giáo. Tử đó, có cái nhìn khái quát, đa diện về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chƣơng:
Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật
Chương 2: Thế giới nhân vật
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu
9
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG
TÁC CỦA VŨ HUY ANH
1.1. Khái niệm “cảm hứng nghệ thuật”
Từ trƣớc đến nay, có nhiều cách hiểu về khái niệm “cảm hứng nghệ
thuật”, song hầu hết các nhận định đều khẳng định vai trò quan trọng của cảm
hứng nghệ thuật trong sáng tác. Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đƣa ra khái
ni dung t tng v cu trỳc ngh thut hi hũa, lý trớ v tỡnh cm sõu sc.
1.2. Nhng cm hng ngh thut c bn trong tiu thuyt ca V Huy Anh
1.2.1. ụi nột v tiu s v s nghip vn hc ca V Huy Anh
Nh vn cũn cú cỏc bỳt danh khỏc: Huy Anh, Trung V, sinh ngy 29
thỏng 3 nm 1944 ti th trn Phỏt Dim, huyn Kim Sn, tnh Ninh Bỡnh.
Quờ gc huyn V Bn, tnh Nam nh.
Học xong phổ thông, Vũ Huy Anh làm kế toán tr-ởng cho hợp tác xã
nông nghiệp ở quê. Trong thời gian này, ông bắt đầu viết bài cho Chính nghĩa
thuộc ủy ban liên lạc công giáo Việt Nam. t lâu sau, Vũ Huy Anh đi học lớp
nghiệp vụ báo chí dài hạn tại Tr-ờng Tuyên huấn Trung -ơng. Ra tr-ờng, ông
về làm phóng viên báo Chính nghĩa, rồi làm chuyên viên Ban tôn giáo Chính
phủ. Sau đó, chuyển sang làm tr-ởng ban biên tập, th- kí tòa soạn báo Thanh
tra. Hiện nay làm việc tại Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Nhng tỏc phm chớnh ca ụng bao gm:
Mựa xuõn v (truyn di, NXB Ph n,1979); Cuc i bờn ngoi (tiu
thuyt, NXB Tỏc phm mi,1984, tỏi bn 1986); Trỏi cm vn a ng
(tiu thuyt, NXB Ph n, 1986); ng qua bin (tiu thuyt, NXB
Thanh niờn, 1988); Ai bn giỏo hong (truyn di t liu, NXB Cụng an Nhõn
dõn, 1988); Bn l b xa (tiu thuyt, NXB Lao ng, 1989); Mt th
Phatima (truyn di t liu, NXb Cụng an nhõn dõn, 1989); Tỡm li tỡnh yờu
(tiu thuyt, NXB Qung Ninh,1990); Sa ngó (tiu thuyt, NXB Thanh
11
niên,1992); Người đẹp trước nhà (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 1992); Dang dở
(Bộ tiểu thuyết tuyển chọn, NXB Lao động, 2000); Dòng sông cứ chảy (tập
truyện, NXB Phụ nữ).
Năm 1984, ông đƣợc giải thƣởng chính thức Hội Nhà văn Việt Nam về
tiểu thuyết cho tác phẩm Cuộc đời bên ngoài. Tiểu thuyết Trăm năm thoáng
điều văn chƣơng đúng là văn chƣơng chƣa dễ gì đƣợc số đông tìm đọc với
những gì viết ra theo thị hiếu. Tuy vậy là một nhà văn thì phải giữ lấy cái tinh
hoa của Nghiệp văn trong quan niệm của ông là cái Tình của ngƣời viết và
cái Đẹp của lời văn.
Xuất phát từ quan niệm văn chƣơng nghiêm túc và chân chính ấy, Vũ
Huy Anh đã truyền đến ngƣời đọc khá nhiều nguồn cảm hứng, trong đó tiêu
biểu là ba nguồn cảm hứng chính: cảm hứng bi kịch, cảm hứng ngợi ca xen
lẫn phê phán và cảm hứng khám phá con ngƣời bản năng. Đây là những cảm
hứng cơ bản của văn xuôi sau 1975 và đặc biệt là văn học thời kỳ Đổi mới. Đi
vào tìm hiểu những cảm hứng này sẽ giúp ngƣời đọc thấy rõ hơn phong cách
nghệ thuật cũng nhƣ hiểu thêm về nhà văn giàu tâm huyết này.
1.2.2. Những cảm hứng nghệ thuật cơ bản
1.2.2.1. Cảm hứng bi kịch
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, cả dân tộc ta đồng lòng sẵn
sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Trong bom đạn hiểm nguy, tinh thần lạc
quan chiến đấu, quyết tâm đánh giặc vẫn tỏa sáng rực rỡ. Nếu nhƣ văn học
trƣớc 1975 chủ yếu đi sâu vào cảm hứng ngợi ca thì sau chiến tranh, sự thay
đổi của hiện thực đã dẫn đến sự thay đổi diện mạo của đời sống văn học.
Những góc khuất, những khoảng tối của đời sống trƣớc đây hầu nhƣ không
đƣợc văn học chú ý hoặc giữ thái độ dè dặt giờ đã đƣợc phản ánh một cách tự
nhiên, chân thực. Hiện thực đời sống con ngƣời với những tâm tƣ, khát vọng,
những bi kịch riêng tƣ chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài đƣợc các
cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều
13
sâu mới. Từ rất sớm, trong bài Viết về chiến tranh (1978), nhà văn Nguyễn
Minh Châu đã đặt ra câu hỏi cho hƣớng đi của tiểu thuyết chiến tranh sau thời
chiến. Khi “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn
trong tiểu thuyết chiến tranh – con ngƣời suy tƣ, con ngƣời bi kịch là dấu hiệu
quan trọng bƣớc đầu khẳng định sự đổi mới tƣ duy nghệ thuật tiểu thuyết và
những dấu hiệu xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam hiện đại.
1.2.2.1.1. Bi kịch cá nhân
Nếu nhƣ trƣớc 1975, văn học đề cao và chủ yếu đi sâu vào vẻ đẹp lý
tƣởng của con ngƣời thì sau 1975 và đặc biệt là sau 1986, các tác giả đã
không hề né tránh những khoảng tối trong đời sống cá nhân. Khám phá tận
cùng tâm tƣ, tình cảm con ngƣời, nhiều bi kịch cá nhân đƣợc thể hiện một
cách chân thành và sâu sắc.
Hòa trong cảm hứng bi kịch của văn học thời kỳ này, tiểu thuyết Vũ
Huy Anh cũng xuất hiện khá nhiều bi kịch cá nhân. Phần lớn đó là bi kịch
tình yêu của những ngƣời phụ nữ có nhan sắc, có tài năng. Có khi trong một
tiểu thuyết lại xuất hiện khá nhiều bi kịch khiến ngƣời đọc không khỏi xót xa,
trăn trở.
Tiểu thuyết Cuộc đời bên ngoài viết về nông thôn công giáo những
năm 50, 60 là một tác phẩm chứa đựng nhiều bi kịch tình yêu, hôn nhân đau
đớn. Nhƣng éo le thay, nạn nhân lại chính là những con ngƣời có phẩm chất
đạo đức cao đẹp, xứng đáng đƣợc hƣởng hạnh phúc. Có lẽ ám ảnh ngƣời đọc
nhất chính là số phận bi thƣơng của chị giáo Gọn. Chị là ngƣời dạy kinh ở xứ
đạo Tâm Đức, một cô gái xinh đẹp và ngoan đạo. Thuở mới lớn, chị đã thầm
thƣơng trộm nhớ một anh cán bộ Việt Minh về làng chị hoạt động. Đó là sự
rung động thật trong sáng, tự nhiên của ngƣời thiếu nữ. Ngày anh ra đi, chị vô
cùng buồn bã. Và tình yêu chớm nở ấy đã trở thành động lực thôi thúc chờ
đợi anh bao năm, chôn vùi đi tuổi thanh xuân của chị. Trong trái tim mãnh liệt
của cô thôn nữ, hình ảnh anh lúc nào cũng đau đáu, khắc khoải và chị luôn
15
mong đợi đƣợc hội ngộ cùng anh. Số phận dƣờng nhƣ không nỡ chia cách họ.
đời sống nội tâm buồn tẻ của chị. Nỗi buồn của chị liên quan đến hai ngƣời
đàn ông: Còm điên - ngƣời thanh niên điên loạn vẫn thƣờng đập cửa nhà xứ
và Quận Vàng – một kẻ đê tiện đã hãm hiếp chị. Tất cả đã trở thành nỗi ám
ảnh, là vết cứa in sâu vào trái tim chị không thể phai mờ.
Bƣớc ra cuộc sống đời thƣờng, chúng ta còn cám cảnh thƣơng cho biết
bao hoàn cảnh bi kịch khác. Tiểu thuyết Dang dở ngay từ nhan đề đã gợi ra
một câu chuyện có kết thúc không trọn vẹn. Tác phẩm viết về cuộc sống nông
thôn một vùng công giáo miền Bắc sau giải phóng xây dựng chủ nghĩa xã hội
cho đến thời kỳ đầu Đổi mới. Cuộc đấu tranh không đơn giản giữa cái thiện
và cái ác, mà cái ác có khi lại nhân danh cái thiện, đội lốt tổ chức Đảng và
chính quyền để che giấu dã tâm của một kẻ bất lƣơng. Cô Thảo trở thành nạn
nhân đáng thƣơng của hoàn cảnh ấy. Tất nhiên là do cô không thắng nổi mình
và thắng hoàn cảnh, do hám danh không dám sống thật từng bƣớc bị tha hóa
để kẻ xấu lợi dụng và điều khiển, đến khi thức tỉnh thì mọi sự đã muộn màng.
Thảo trải qua những mất mát, đau đớn liên tiếp. Ngày còn trẻ, cô đã bị
Khôi – cán bộ xã lợi dụng và cƣỡng hiếp mà không dám chống lại. Đó thực
sự là một cú sốc đầu đời quá lớn với ngƣời con gái trẻ ấy. Nhƣng đau đớn
thay, cô không đƣợc tố cáo hành vi nhơ bẩn của hắn, đổi lại cô còn phải quỵ
lụy, dựa vào hắn để đƣợc nâng đỡ trong quá trình phấn đấu công tác. Vì tinh
thần hãnh tiến mù quáng, đặt sự tiến bộ của mình lên trên hết, cô đã tự đánh
mất mối tình đầu với Điền – cũng là mối tình sâu nặng nhất đời mình không
chỉ một lần mà đến tận ba lần. Không đến đƣợc với ngƣời đàn ông mà mình
yêu thƣơng nhất thì cuộc đời dƣờng nhƣ cũng trêu ngƣời, chẳng để cô tìm
đƣợc bến đỗ hạnh phúc mới. Và hai lần trƣớc khi diến ra đám cƣới, cô lại tiếp
tục đánh mất những ngƣời đàn ông khác đến với mình: Mạnh và Khang. Sự
xuất hiện của Mạnh – chàng kỹ sƣ Hà Nội giống nhƣ một cơn mƣa mùa hạ
đến tƣới đẫm tâm hồn Thảo, làm trái tim cô tƣng bừng sức sống. Lẽ ra cô có
18
tàn nhẫn với Thảo khi chỉ sau một tháng, cô nhận đƣợc thƣ Huyền ngƣời bạn
sống cùng nhà trọ báo tin đã về chung sống với Điền. Nhận đƣợc lá thƣ xiết
bao vui sƣớng của Huyền, lòng cô đau điếng. Cả đời cô mải miết đi tìm hạnh
phúc nhƣng tất cả chỉ nhƣ một ảo ảnh. Và nỗi đau nối tiếp nỗi đau, trên đƣờng
từ Hà Nội về quê, đứa con – kết quả tình yêu của Thảo với Điền bị tai nạn
chết. Những nỗi đau đến liên tiếp dồn dập khiến ngƣời đàn bà đau khổ đó
phát điên. Cuộc đời cô đến đây có thể coi là vô nghĩa, trở về con số không:
không gia đình, không sự nghiệp sau bao năm phấn đấu.
Có thể nói, Thảo rơi vào một loạt bi kịch. Những ngƣời đàn ông cứ lần
lƣợt đi qua đời Thảo nhƣ những con thuyền tƣởng chừng có thể cập bến
nhƣng sóng gió lại cuốn họ đi mất bởi chính căn bệnh thành tích háo danh mù
quáng và cách cƣ xử quá đáng của Thảo.
Bên cạnh đó, ngƣời đọc còn bắt gặp một bi kịch khác trong Cách trở
âm dương. Đó là bi kịch của nhân vật chính xƣng “tôi” tên là Tâm An. An và
Tuân là đôi bạn thân cùng làng, lớn lên đi học cùng nhau. Tình bạn trong
sáng, đẹp đẽ đã chắp cánh cho một tình yêu đang dần chớm nở. Cô cảm nhận
đƣợc tình cảm cảm của Tuân dành cho mình và thực lòng, từ sâu thẳm trái
tim, Thảo rất muốn đón nhận nó nhƣng cô vẫn phải khƣớc từ. Vì cô biết hoàn
cảnh của mình chẳng thể nào đến đƣợc với Tuân: cha cô bị quy kết phản cách
mạng và ngƣời chú của Tuân vẫn luôn thành kiến cho rằng chính bố Thảo đã
chỉ điểm gây ra cái chết của bố Tuân. Và còn nỗi đau nào hơn khi yêu mà
không thể đến đƣợcvới ngƣời mình yêu. Chính vì thế, An phải kìm nén lòng
mình, cố tình đƣa Tuân và Thảo – ngƣời bạn học cùng làng đến với nhau.
Tình yêu lỡ làng nhƣng con đƣờng học hành mà bấy lâu nay cô hy vọng, phấn
đấu cũng đứt quãng. Khi thi lên cấp ba, vì gia đình bị quy kết là lý lịch không
trong sạch, cô phải chấm dứt con đƣờng học hành mà bấy lâu theo đuổi.
Không còn lựa chọn, An phải nuốt nƣớc mắt chấp nhận cuộc sống lao động 20
tình; cậu bé Hòa – con út gã ăn mày, đƣợc cha chính xứ yêu thƣơng nhận vào
nhà chung giúp việc rồi trở thành thầy cả; cô Đào làm đàn bà trƣớc khi làm
dâu nhà ông Sóng, chung chạ bao nhiêu ngƣời đàn ông, lấy đến đời chồng thứ
năm đáng thƣơng hơn đáng giận; gã Trƣơng Rô thợ mổ thịt lợn bị lừa lấy
phải vợ hen, trở thành Đội trƣởng đội tự vệ xứ đạo, chƣa kịp bắn giết đánh
đập ai, vì nặng tình quê hƣơng không di cƣ vào Nam, khi Cải cách ruộng đất
bị bắn sau lƣng; lão Quản Mè bảy mƣơi năm lay lắt ở cõi đòi lấy vợ ít hơn lão
gần bốn mƣơi tuổi và lão bị chết vì đại bác Mỗi con ngƣời một số phận, số
phận nào cũng bi thƣơng, và Chúa không cứu giúp đƣợc họ.
1.2.2.1.2. Bi kịch cộng đồng
Bên cạnh những bi kịch cá nhân, mỗi ngƣời mỗi cảnh mà nhân vật phải
tự mình nếm trải và chịu đựng còn có những nỗi đau mà nạn nhân là cả tập
thể. Điều đó gây ra những bi kịch cộng đồng khiến ngƣời đọc không khỏi xót
xa, ngậm ngùi.
Trƣớc hết, đó là thời kỳ bệnh thành tích mù quáng – một căn bệnh
chung một thời gây ra bao khốn khổ cho dân làng. Trong Dang dở với cái tính
khoác lác và kém hiểu biết, Khôi và Thảo đã cổ vũ, ủng hộ rầm rộ cho phong
trào vô lý “Đƣa khoai nƣớc lên ngôi, đƣa khoai lang xuống ruộng”. Đó là sai
lầm chung của toàn huyện. Khoai lang vốn là thứ cây trồng ở đồng màu còn
làng Thảo ít đất màu, ruộng lại trũng, mƣa một trận tát nƣớc mấy buổi chƣa
xong. Nhƣ vậy, xét về điều kiện hoàn cảnh đã khó có thể trồng đƣợc. Mặc dù
có một vài ý kiến phản đối nhƣng vì phải tuân theo nguyên tắc thiểu số phục
tùng đa số, cấp dƣới phục tùng cấp trên nên không ai phản đối ý kiến của
đồng chí Bí thƣ huyện ủy. Còn sai lầm tiếp theo thuộc về Khôi khi hắn ta
không hề hiểu biết nhƣng lại nghĩ ra “sáng kiến” đƣa khoai nƣớc lên ngôi
đúng lúc tỉnh đang bí, không biết làm cách nào sản xuất đủ lƣơng thực cho
sự tiêm nhiễm nặng nề của thế lực phản động, đã có một thời họ hiểu lầm về
cộng sản, về cách mạng. Cách hiểu của họ vừa ngô nghê, tội nghiệp: “ở
22
những cuộc trong chuyện bâng quơ tại quán nƣớc hay đầu bờ ruộng, ngƣời
này bảo Việt Minh với cộng sản vô thần là một, ngƣời khác lại bảo không.
Việt Minh là ai, là gì, dân công giáo chƣa biết, chƣa hiểu, nên chƣa thể có thái
độ gì, chứ cộng sản vô thần, nhƣ những lời đồn thổi là chống tôn giáo, là cấm
đạo, là cộng vợ, cộng chồng, sống lẫn lộn đực, cái nhƣ loài cầm thú, thì
những ngƣời đã có đức tín đạo Chúa không thể nào chấp nhận đƣợc” [4 ;
tr.87]. Với cách hiểu sai lầm nhƣ vậy, một bộ phận công giáo đã phản đối,
chống phá cách mạng gây nên những hậu quả đau thƣơng cho cả hai phía.
Làng quê xứ đạo cũng vì vậy mà trở nên tan đàn xẻ nghé, nhà thì mỗi anh em
theo một phe, làng cũng lắm ngƣời ở hai chiến tuyến cầm súng bắn lại nhau.
Sự hiểu lầm tai hại ấy cũng đã đƣợc nói đến trong Cách trở âm dương
“Không cần phải để tâm xem mục đích chính trị của Việt Minh là gì, chỉ cần
biết họ vô thần là đủ để mình không thể theo họ. Bởi theo họ là mất đạo” [3 ;
tr.17]. Cũng chính vì lý do ấy, dân công giáo đã tổ chức lực lƣợng tự vệ
chống lại Việt Minh dẫn đến bao hậu quả đau lòng nhƣ: gia đình ông Trƣơng
Cự có ba ngƣời con thì một ngƣời theo Việt Minh, một ngƣời theo Pháp. Để
rồi, ngƣời cha đau đớn nhìn cảnh anh em tàn sát lẫn nhau. Rồi sau này, sự
buồn khổ đã biến ông trở thành một kẻ say xỉn, vô tình làm cháy nhà. Hậu
quả, ông bị bỏng quá nặng không thể cứu chữa. Ngày đƣa tang ông, hai ngƣời
con trai ở hai phe khác nhau cũng không có mặt mà ngƣời nhà không ai dám
báo vì sợ xảy ra xung khắc. Còn gì đau đớn hơn cảnh nhà tan nát đến mức
nhƣ vậy.
Bức tranh xã hội rõ nét nhất là những biến động khi Pháp nhảy dù Phát
Diệm, đồng bào công giáo di cƣ vào Nam do sự xúi bẩy của các thế lực phản
Bên cạnh cảm hứng bi kịch, đọc tiểu thuyết của Vũ Huy Anh, chúng ta
còn cảm nhận đƣợc ở đó hai nguồn cảm hứng mang tính đối lập nhƣng lại
song hành cùng nhau: ngợi ca xen lẫn phê phán.
24
Cảm hứng trong văn học bao đời nay vẫn xuất phát từ cái tình. Nó bao
gồm nhiều thứ tình cảm khác nhau, và còn gì đẹp hơn thứ tình cảm thiêng
liêng mà hễ ai sinh ra trên cuộc đời này cũng đều mải miết đi tìm và hồi hộp
đón đợi: tình yêu đôi lứa. Đọc tác phẩm của nhà văn, có khi ngƣời đọc phải
nghẹn ngào rơi nƣớc mắt trƣớc những bi kịch đau đớn của tình yêu thì chúng
ta lại có những giây phút xúc động trƣớc những tình yêu cao thƣợng đáng
đƣợc trân trọng, ngợi ca.
Có lẽ đầu tiên phải nhắc đến tình yêu vô bờ bến mà cả đời ông Sóng
dành cho vợ trong tiểu thuyết Trăm năm thoáng chốc. Số phận không may
mắn khi sinh ra ông là một đứa trẻ tật nguyền bàn chân không ngón. Tình cờ
gặp cô gái đang mang thai tự tử vì bị ngƣời tình phụ bạc, ông đã cứu vớt và
cƣu mang cô gái. Bằng tấm lòng cảm thông sâu sắc, ông thƣơng xót cho thân
phận ngƣời con gái xinh đẹp, hiền dịu bị phản bội – một tình thƣơng chân
thành vô điều kiện: “Cảm thông, thƣơng xót, muốn giúp đỡ, sẻ chia, lòng
Sóng trào lên từng đợt, rồi xen vào đó là một sự xúc động, một tình cảm mới
lại, nhƣ kết tụ lại của bao nỗi khát khao yêu thƣơng ngƣời khác giới, nhƣ một
sự vỡ bờ, xẻ đập sau bao nhiêu ức chế, tự kìm nén bấy nay, tất cả bóp nghẹt
lấy lồng ngực Sóng, cồn cào quặn thắt, ào ạt tràn dâng trong lòng Sóng” [4 ;
tr.69]. Không sợ dân làng dị nghị, sẵn sàng chấp nhận cả đứa con của ngƣời
đàn ông bội bạc kia, anh thanh niên Sóng vẫn vui vẻ lấy cô gái làm vợ.
Dƣờng nhƣ ngƣời đọc cảm nhận đƣợc một thứ tình yêu mãnh liệt, tràn trề
chƣa bao giờ cạn mà ông dành cho ngƣời phụ nữ ấy. Nó dung dị, mộc mạc mà
chân thành, đáng quý biết bao! Cả cuộc đời, ông luôn tâm lý và săn sóc hết