Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGHIÊN THỊ HỒ THU THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG “BÃO BIỂN”CỦA CHU VĂN
(TRONG SO SÁNH VỚI “ĐẤT VỠ HOANG” CỦA SÔLÔKHÔP)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả lao
quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành, sâu sắc nhất của tôi tới cô về những ý kiến quý báu và thời
gian mà thầy đã dành cho tôi.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới tất cả những
thầy cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian theo học chương trình thạc sĩ Ngôn ngữ khóa 2008 - 2010 tại
trường Đại học Sư phạm - ĐHTN cũng như quá trình bắt tay vào viết và hoàn
thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người than trong gia đình, những bạn
bè khác đã hết lòng động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi
có kết quả cuối cùng ngày hôm nay. Thái Nguyên, tháng 08 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 14
6. Đóng góp của luận văn 14
7. Cấu trúc của luận văn 15
NỘI DUNG
1.1 Mỗi nền văn học muốn tồn tại và phát triển, bên cạnh việc kế thừa, phát
huy và gìn giữ những tinh hoa của văn học dân tộc, luôn phải vươn lên chiếm lĩnh,
chia sẻ những hệ thống giá trị chung của nhân loại. Trong xu thế hội nhập toàn cầu
hiện nay, nghiên cứu so sánh - lịch sử là một hướng nghiên cứu hiện đại có nhiều ý
nghĩa và giá trị. Ở lĩnh vực nghiên cứu này, Việt Nam mặc dù đã có nhiều nỗ lực
nhưng thành tựu chưa nhiều, hướng nghiên cứu và lực lượng nghiên cứu còn phân
tán. Đó là địa hạt còn ẩn chứa nhiều tiềm năng cho giới nghiên cứu và phê bình văn
học.
1.2 Văn học Việt Nam đã trải qua một quá trình vận động và phát triển
cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Trong đời sống văn học Việt Nam
đã diễn ra một thực tế: có sự giao lưu, ảnh hưởng của văn học nước ngoài.
Những nền văn học lớn như văn học Trung Quốc, văn học Pháp, văn học Nga
đã có mặt và tác động nhiều đến quá trình phát triển của văn học Việt Nam.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh lịch sử vì thắng lợi của cách mạng giải phóng dân
tộc và xây dựng một xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, quan hệ và ảnh
hưởng của văn học Xô Viết với văn học Việt Nam là sự ảnh hưởng, tiếp nhận
mang tính chủ động tích cực như “một cần thiết lịch sử” và là “một ưu tiên
hàng đầu”. Nền văn học ấy cũng đã ảnh hưởng to lớn tới việc phát triển văn
học Việt Nam hiện đại trên con đường lịch sử cùng mục tiêu chung là giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (XHCN). Do đó, việc nghiên cứu
về mối quan hệ, giao lưu giữa văn học Việt Nam với văn học Nga - XôViết
là điều cần thiết.
1.3 Chu Văn và Sôlôkhôp là hai nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học
hai dân tộc. Các sáng tác của họ đều đề cập đến những vấn đề nóng bỏng, nhạy cảm
của thời cuộc như số phận con người trong những hoàn cảnh gay cấn, phức tạp,
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong và sau chiến tranh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Qua tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của Chu Văn và Sôlôkhốp, đặc biệt là
7
2. Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết Bão biển là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Chu Văn và là
một thành công trong tiểu thuyết dài của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Tác phẩm đã có nhiều đóng góp về nội dung nghệ thuật và tư tưởng cho
lịch sử phát triển của văn học nước ta. Song hành cùng những thăng trầm của lịch
sử dân tộc, Đất vỡ hoang của Sôlôkhôp đã đến với bạn đọc Việt Nam từ những
năm 1959 – 1962. Sự gần gũi giữa Đất vỡ hoang và Bão biển về nhiều mặt cho
phép chúng ta đặt ra vấn đề về mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng giữa hai nền văn
học Xô -Việt nói chung và giữa hai tác giả, tác phẩm nói riêng.
Nghiên cứu về tài năng của hai tác giả Sôlôkhôp, Chu Văn cùng hai tác phẩm
Đất vỡ hoang và Bão biển đã có những ý kiến đánh giá, bài viết của các nhà văn,
nhà lý luận phê bình văn học. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi quan tâm đến
những ý kiến sau:
2.1. Tác phẩm “Bão biển” của Chu Văn
2.1.1. Giá trị của tác phẩm Bão biển
Tiểu thuyết Bão biển của Chu Văn vừa mới ra đời (1969) đã thu hút ngay được
sự chú ý của đông đảo bạn đọc và sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ,phê bình
văn học.
Phan Cự Đệ đánh giá: “Bão biển không những là một cuốn tiểu thuyết có giá
trị nhận thức tốt mà còn nâng cao được tư tưởng tình cảm cho bạn đọc”… Đó là
“một tác phẩm giàu chất sống và tính chiến đấu”. Ý kiến đó được thể hiện rõ trong
bài viết Một tác phẩm giàu chất sống và tính chiến đấu, tháng 5/1970 [10,620]
Qua gần chín trăm trang tiểu thuyết, Chu Văn đã dẫn người đọc về một thực tế
đầy sóng gió của cuộc đấu tranh giai cấp ở một vùng nông thôn công giáo. Hà Minh
Đức với bài Bão biển – một thành công của Chu Văn trên báo văn nghệ tháng
5/1970 đã nhận xét: “Với Bão biển, Chu Văn đã tiến một bước dài trong quá trình
sáng tác. Vốn sống phong phú qua những năm tháng lăn lộn trong thực tế công tác
cộng với sự hiểu biết và trình độ chính trị của một cán bộ lãnh đạo ở địa phương đã
sách chỉ cho ta biết, mà còn cho ta sống với nó, để từ sự sống mà chiêm nghiệm biết
bao lẽ đời và tình người”.[18,tr371]
Vũ Quốc Anh, trên tạp chí văn học số 3 (1990) có bài viết “Tiểu thuyết Bão
biển của Chu Văn” . Tác giả đánh giá: “Nếu chỉ xét riêng về mảng đề tài nông thôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nó là tác phẩm có giá trị” [1,tr68]
.“Bằng vốn sống và sự am hiểu nhiều mặt, Chu Văn có nhiều trang viết hết sức sinh
động và đặc sắc về sinh hoạt tôn giáo, về nhà thờ, về bộ mặt thực của những tên
quỷ dữ giả danh chúa từ những tư liệu đáng tin cậy…”. “Bão biển được coi là có
nhiều thành công, không chỉ ở giá trị nhận thức mà còn ở sức hấp dẫn của nghệ
thuật viết tiểu thuyết” [1,tr69].
Như vậy, qua một số ý kiến, nhận định nêu trên, các tác giả đã phát hiện và
khẳng định giá trị của tác phẩm trong giai đoạn lịch sử văn học cùng vai trò của tác
giả. Đánh giá chung, Bão biển là tiểu thuyết có những đóng góp có giá trị về cả nội
dung và nghệ thuật. Đó cũng là tác phẩm có giá trị thẩm mĩ cao và có đóng góp lớn
cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.
2.1.2. Về phương diện đề tài
Đề tài của tác phẩm văn học là phương diện nội dung được quan tâm hàng đầu
và có ý nghĩa quan trọng khi sáng tác cũng như nghiên cứu, khám phá giá trị tác
phẩm. Tìm hiểu các bài viết về tác phẩm Bão biển, chúng tôi nhận thấy các tác giả
đều gặp nhau ở một điểm chung khi nhận xét về đề tài trọng tâm của tác phẩm:
Vạch trần bộ mặt phi nghĩa của bọn phản động chống phá cách mạng và phản ánh
công cuộc xây dựng nông thôn mới trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.
“Chu Văn đã phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp gay go, căng thẳng, đầy tính
chất phức tạp của một vùng nông thôn công giáo miền biển trên con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”… Đọc tác phẩm, “ta có
cảm tưởng như vừa tắm mình ở một dòng sông cuồn cuộn đầy sức sống, một cuộc
sống phong phú và nhiều mặt, đa dạng và phức tạp với những mâu thuẫn, những
Cuộc sống trong tiểu thuyết bao giờ cùng là một cuộc sống toàn diện, phong phú
và nhiều mặt. Với vốn sống khá phong phú, cuộc sống đã được Chu Văn phản ánh
với tất cả màu sắc thẩm mĩ đa dạng của nó. “Nói đến thành công của Bão biển chúng
ta không thể không nói đến nghệ thuật xử lý mối quan hệ giữa các tuyến nhân vật và
tuyến sự kiện trong tiểu thuyết của Chu Văn”.[10,tr731]. Tác phẩm được xây dựng
“với một khối lượng nhân vật đông đảo, sự kiện chống chất, nhiều chủ đề, nhiều
tuyến cốt truyện”…. “Câu chuyện hấp dẫn nối tiếp nhau” [10,tr 735]
Tác phẩm được kết cấu bởi hai tập với những sự kiện xoay quanh chủ đề lớn
của tác phẩm. “Tập I có nhiều xung đột, nhiều tình huống căng thẳng …. Sức lôi
cuốn của mạch truyện không phải chỉ ở tính chất ly kỳ của xung đột và tình huống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
mà chủ yếu là ở sự va chạm của những xung đột bộc lộ khi âm thầm, khi quyết liệt
… Ở tập II, Chu Văn nhiệt tình khi miêu tả những hoạt động của quần chúng trên
mặt trận sản xuất và xây dựng cuộc sống mới tạo được không khí và tránh cho câu
chuyện khỏi rơi vào kể lể hoặc tường thuật một cách tẻ nhạt [32,tr 677, 678 ].
Tác giả Xuân Trường viết: “Sự kiện phong phú trong tiểu thuyết là một ưu
điểm”[ 32,tr28 ]. Trần Trọng Đăng Đàn trên TCVH số 1/1971 cho rằng: “Bão biển
là một cuốn tiểu thuyết đậm tính chất lịch sử xã hội, do đó vai trò của sự kiện xã
hội, sự kiện lịch sử tất yếu phải được đề cập đến. Những sự kiện mà Chu Văn đưa
vào Bão biển, về căn bản là những sự kiện cần đưa vào tiểu thuyết… Sự kiện trong
Bão biển nhìn chung không phải là những sự kiện riêng lẻ tách ra khỏi cái khung
chung chung của tác phẩm. Nó đã được nhà văn chọn lọc, tổng hợp, khái quát và
điển hình hóa – nó là sự kiện của tiểu thuyết” . [7,tr105 – 106].
Chu Văn đã tái hiện trước mắt người đọc cả một vùng nông thôn công giáo
đầy những thế lực phản động và những tàn tích hủ tục. “Thành công lớn nhất của
Chu Văn là đã chuyển hóa được những mâu thuẫn có thực hết sức gay gắt trong đời
sống xã hội ở một địa bàn mà anh có được vốn hiểu biết hết sức phong phú thành
những xung đột văn học gay gắt và đầy kịch tính vào tác phẩm của mình”. Đó là
giả đã xây dựng được những nhân vật trung gian có chiều sâu nội tâm, những nhân
vật phụ cũng có những nét điển hình hấp dẫn” [10,tr733]
“Các nhân vật phản diện của Chu Văn hiện lên khá sắc sảo, có cá tính, có góc
cạnh, có bản chất giai cấp rõ rệt …Đối diện với bọn phản động đội lốt thầy tu là
hình ảnh nhân vật chính diện, khỏe, giàu chất lý tưởng nhưng không đơn giản”
[10,tr731, 732 ].
Có thể nói, dưới ngòi bút của Chu Văn, các nhân vật hiện lên khá sinh động.
“Chu Văn dẫn dắt câu chuyện hấp dẫn, thể hiện các nhân vật với một thái độ yêu,
ghét rõ ràng. Đối với kẻ xấu, tác giả vào tận sào huyệt của chúng, bóc trần những
thủ đoạn bóc lột dã man… Điều đáng quý trong Bão biển là Chu Văn có nhiều
thành công trong xây dựng điển hình cán bộ. Tiêu biểu là nhân vật Tiệp” [34,tr26-
27]. Đứng về ý nghĩa chính trị và ý nghĩa nghệ thuật, ngòi bút Chu Văn đã “đánh
trúng đích” khi xây dựng thế giới nhân vật trong Bão biển”.
Tập hợp ý kiến từ các bài viết của Xuân Trường (TCVH số 6/1970), Trần
Trọng Đăng Đàn (TCVH số 1/1971), Lữ Huy Nguyên - Ấn tượng văn chương
(1978),Vũ Quốc Anh (TCVH số 3-1990, Phong Lê (Chu Văn -tác giả Bão biển in
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
trong cuốn “Một số gương mặt văn chương –học thuật Việt Nam hiện đại”
,NXBGD,2001), chúng tôi thấy các tác giả đều khẳng định: Trong tiểu thuyết Bão
biển các nhân vật được xây dựng có sức sống nội tại, có cá tính không trộn lẫn và
có màu sắc Việt Nam. Những hạn chế về mặt này mặt kia của Chu Văn trong nghệ
thuật xây dựng nhân vật là điều không tránh khỏi nhưng Chu Văn đã đem lại cho
người đọc hứng thú, những suy nghĩ, cảm xúc bổ ích.
Sự gắn bó với đời sống, sự quyết tâm đi theo con đường văn học của Đảng,
dũng cảm đi vào những vấn đề khúc mắc của đời sống mà cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa đặt ra, tác giả đã cho người đọc thấy được đời sống thực của một vùng
công giáo với nhiều mâu thuẫn. Nhân vật phản động, nhân vật cách mạng, nhân vật
quần chúng đã được ghi lại dưới con mắt của một nhà văn vốn là cán bộ tuyên huấn
Báo sự thật, cơ quan ngôn luận của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản
Liên Xô đã xác nhận thành công của nhà văn qua lời nhận xét về tác phẩm trong số
báo ngày 3/3/1933:“Cuốn tiểu thuyết của Sôlôkhôp có thể xem như là một cuốn
sách giáo khoa đặc biệt về nông thôn”. Thành công ấy được thể hiện ở sự đón đọc
nồng nhiệt của quần chúng. Họ đọc tác phẩm một cách say mê ở mọi nơi, mọi lúc.
Đất vỡ hoang đến với bạn đọc Việt Nam vào những năm 1959 – 1962 và cũng
được đón nhận nồng nhiệt. Giá trị của tác phẩm được Nguyễn Duy Bính nhấn mạnh
trong lời giới thiệu bản dịch của tiểu thuyết :“Đất vỡ hoang tuy phản ánh một
khoảnh khắc của lịch ở một thôn vùng Sông Đông mà đã vượt qua được thử thách
của thời gian và sự sàng lọc của lịch sử để trở thành tài sản tinh thần chung của
nền văn hóa XHCN”. [33,tr9].
Qua tác phẩm, Sôlôkhôp đã thể hiện là một nhà tư tưởng sâu sắc, một nghệ sĩ
lớn, ông không minh họa các biến cố lịch sử. Trong giáo trình lịch sử văn học Nga
NXB GD 1998, các tác giả khẳng định: “Tiếp theo Sông Đông êm đềm, tiểu thuyết
Đất vỡ hoang đem lại nhiều phát hiện táo bạo và quan trọng về thời đại và con
người, tính nhân đạo và chủ nghĩa cộng sản, về vấn đề tình yêu và đạo đức của con
người mới, về nghệ thuật điển hình và nghệ thuật tâm lý …” [5,tr832].
Với những gì Đất vỡ hoang đã đem đến cho độc giả đương thời, tác giả đã
không phụ lòng tác giả, đã thể hiện được điều Sôlôkhôp hằng mơ ước “tôi mong
muốn những cuốn sách của mình giúp được cho con người trở nên tốt hơn, tâm hồn
họ trong sáng hơn, khơi dậy được tình yêu thương đối với con người, khát vọng
chiến đấu tích cực vì lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa, vì sự tiến bộ của nhân loại ”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
2.2.2. Đề tài của tác phẩm Đất vỡ hoang
Tâm hồn nhạy cảm, kính Đảng của người nghệ sĩ đã thôi thúc nhà văn đến với
sự kiện của phong trào cách mạng tập thể hóa nông nghiệp bước đầu xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
sự hấp dẫn và vị trí riêng khác biệt với tiểu thuyết của Liên Xô và phương Tây thế
kỷ X
2.2.4. Hệ thống nhân vật trong tác phẩm Đất vỡ hoang
Với một số lượng nhân vật khá nhiều, Đất vỡ hoang đã xây dựng một thế giới
nhân vật mang hơi thở của thời đại. “Bước vào tập thể hóa nông nghiệp ấp Grêmiatri
đã lồng lộn như con ngựa bất kham nó chỉ vừa ra khỏi nội chiến chưa được bao lâu,
kẻ thù tuy thất bại thảm hại vẫn chưa cam chịu bó tay, nhiều người dân Côzăc lầm
lạc còn nhớ những bài học nóng hổi nhưng vẫn chưa thật dứt khoát đi với chính
quyền Xô Viết, biết bao nhiêu thành kiến, thói tục lỗi thời đang đè nặng lên người
nông dân …Những con người mới cũng đã xuất hiện, nhưng họ còn quá ít. Hơn nữa
tuy đã được rèn luyện qua thực tiễn chiến đấu nhưng mỗi người vấn có những chỗ
non yếu của mình và trước mặt họ là những công việc hoàn toàn mới” [39,tr6-7].
Trong tác phẩm, “Đavưnôp, Nagunôp, Anđrây đều trưởng thành về ý thức, đạo
đức và trở thành những người con anh hùng của nhân dân. Ba hình tượng này cũng
cho thấy sự phát triển mới của tài năng Sôlôkhôp và những cống hiến quan trọng
của tác giả đối với việc sáng tạo điển hình con người mới xã hội chủ nghĩa”
[5,tr838]. Tác giả giáo trình cũng khẳng định: “Trong Đất vỡ hoang do chiều sâu về
tư tưởng và sức hấp dẫn về nghệ thuật, những điển hình con người mới có thể nói
đã trở thành những kết tinh về ý thức và thẩm mĩ của cả một thời đại”[ 5,tr 838].
Như vậy, qua các nhận xét trên, chúng ta nhận thấy Sôlôkhôp đã thành công
trong việc xây dựng thế giới nhân vật trong tác phẩm. Đó là những con người giữa
cuộc đời mang âm hưởng sử thi và sắc màu của cuộc sống. Những đánh giá trên là
cơ sở để chúng ta khám phá sự phong phú của thế giới nhân vật trong tác phẩm.
Trong khi xem xét các tư liệu, chúng tôi thấy có một số ý kiến đã quan tâm
đến việc so sánh giữa hai tác phẩm Bão biển và Đất vỡ hoang. Có thể kể đến là bài
“Bão biển – một thành công của Chu Văn” của Hà Minh Đức đăng trên báo văn
nghệ 5/1970, (sau in trong tuyển tập Hà Minh Đức, NXB GD 2004) đã có sự liên hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
18
Về tác phẩm Đất vỡ hoang, chúng tôi sử dụng văn bản dịch từ tiếng Nga do
NXB VH xuất bản năm 2005, dịch giả Vũ Trần Thủ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học bao gồm nhiều yếu tố như đề tài,
cốt truyện, nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật, ngôn ngữ ,giọng
điệu Trong khuôn khổ đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu thế giới nghệ
thuật của tiểu thuyết Bão biển (Chu Văn) ở ba phương diện là đề tài, cốt truyện và
thế giới nhân vật trong sự so sánh với tiểu thuyết Đất vỡ hoang của Sôlôkhôp.
Những yếu tố khác được xem như những tương hỗ cho ba vấn đề trên.
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong Bão biển của Chu Văn ( trong so sánh
với Đất vỡ hoang của Sôlôkhôp)”, chúng tôi xác định nhiệm vụ trọng tâm tương
ứng với việc thực hiện ba chương của luận văn là:
- Đề tài của tiểu thuyết Bão biển (Chu Văn) và Đất vỡ hoang(Sôlôkhôp).
- Cốt truyện trong Bão biển (Chu Văn) và Đất vỡ hoang(Sôlôkhôp).
- Thế giới nhân vật trong Bão biển (Chu Văn) và Đất vỡ hoang (Sôlôkhốp).
Nếu giải quyết tốt các nhiệm vụ trên, luận văn sẽ góp thêm tiếng nói cụ thể
hơn trong việc khám phá giá trị của Bão biển (Chu Văn) và trở thành tư liệu trong
việc tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm dưới góc độ thi pháp học trong nghiên cứu và giảng
dạy tác giả ,tác phẩm .
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chính sau:
5.1 Phương pháp lịch sử
Với tư cách phương pháp luận, phương pháp này kết hợp bình diện lý luận và
lịch sử vấn đề.
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Luận án sử dụng phương pháp này để phân tích cụ thể đối tượng nghiên cứu
gồm ba chương:
Chương 1- Đề tài của tiểu thuyết Bão biển (Chu Văn) và Đất vỡ hoang (Sôlôkhôp)
Chương 2-Cốt truyện trong Bão biển (Chu Văn)và Đất vỡ hoang (Sôlôkhôp)
Chương 3 -Thế giới nhân vật trong Bão biển (Chu Văn)và Đất vỡ hoang(Sôlôkhôp)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1- ĐỀ TÀI CỦA TIỂU THUYẾT “ BÃO BIỂN ”
( CHU VĂN ) VÀ “ ĐẤT VỠ HOANG ” ( SÔLỐ KHỐP )
1.1. Chu Văn và Bão biển
Chu Văn tên khai sinh là Nguyễn Văn Chữ, sinh ngày 22/12/1922 tại quê gốc
xã Trực Hội, Huyện Thái Ninh ( nay là Đông Hưng ), Tỉnh Thái Bình trong một gia
đình nhà Nho nghèo. Thuở nhỏ, Chu Văn sống ở quê. Ông sớm được học chữ Hán
từ nhỏ. Cụ thân sinh của Chu Văn là nhà Nho nghèo, từng đi thi Hương nhưng
không đỗ. 14 tuổi, Chu Văn mồ côi cha, gia đình túng thiếu, ông phải bỏ học, giúp
mẹ làm ruộng. Mẹ ông vốn là con nhà Nho và giỏi chữ Hán – Nôm. Do đó, thời
gian sống với mẹ, Chu Văn đã được tiếp nhận vốn Hán – Nôm khá phong phú và
các tác phẩm Nôm kinh điển như: Truyện Kiều, Nhị độ mai, Tống Trân Cúc Hoa,
Phan Trần… Đó cũng là ngọn nguồn nghệ thuật thắp sáng cho tài năng của Chu
Văn về sau. Chu Văn cũng từng theo học chữ Hán ở một thầy đồ và học thêm
chương trình trung học, đọc các sách báo tiếng Việt. Sau vài lần đến Hải Phòng,
Nam Định tìm việc làm, được tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng tiến bộ, Chu
Văn có cảm tình với cách mạng. Ông đã tìm đọc sách báo tiến bộ rồi trở về hoạt
động Việt Minh ở địa phương. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia cướp
chính quyền ở huyện nhà, sau đó phụ trách xã, làm cán bộ huyện, tỉnh với các hoạt
động thanh niên, dân vận, địch vận, tuyên huấn ở Thái Bình và liên khu III. Từ năm
1950, ông phụ trách toà soạn báo Cứu quốc liên khu III. Từ 1957, Chu Văn chuyển
hình chủ nghĩa xã hội(XHCN). Đó là những biến đổi lịch sử quan trọng. Tất cả những
sự kiện ấy đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của Việt Nam.
Đề cương văn hoá Việt Nam 1943 của Đảng cộng sản Đông Dương đã xác
định văn hoá là một mặt trận quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng. Phương
châm xây dựng nền văn hoá mới của Đảng ta là: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Văn
hoá dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hoá của quần chúng lao động được coi trọng
và phát huy cùng với việc tiếp nhận văn hoá xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, Trung
Quốc.Bão biển cũng là kết quả của việc thấm nhuần tư tưởng ấy của ChuVăn.
Mặt khác, trong những năm 60 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển
mạnh mẽ một phần là do được giao lưu với nền văn học của hệ thống xã hội chủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
nghĩa trên thế giới. Quan hệ giao lưu thường xuyên giữa văn học Liên xô và Việt
Nam đã trở thành một trong những đặc điểm chính của tiến trình văn học Việt Nam.
Điều đó thể hiện trước hết ở việc các nhà văn Việt nam tích cực tiếp nhận
kinh nghiệm sáng tác của các đồng nghiệp Liên xô. Kinh nghiệm của văn học Xô
Viết đã có ảnh hưởng quan trọng trong sự hình thành bộ mặt tinh thần và sáng tạo
của các nhà văn Việt Nam, thúc đẩy sự khẳng định những nguyên tắc tư tưởng,
nghệ thuật trong văn học Việt Nam. Sự tiếp nhận ấy là do nhu cầu nội tại của bản
thân văn học Việt Nam và do những đặc điểm vận động của nó. Bão biển của Chu
Văn đã ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội, của đất nước trong những năm
đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc .
Bão biển thu hút được sự chú ý của bạn đọc ngay từ khi mới ra đời. Tác
phẩm đề cập đến những vấn đề phức tạp của đời sống hàng ngày trong một giai
đoạn lịch sử quan trọng. Từ những việc, những người, nhiều mặt mà tác giả quen
thuộc ở một địa phương, những sự kiện chứa đựng mâu thuẫn đối kháng gay gắt về
tâm lý, về nhận thức diễn ra liên tục, lúc sục sôi, lúc lắng xuống, quyện vào nhau
làm nổi bật các nhân vật với những khía cạnh tinh thần, tình cảm, vật chất của họ,
với những thành kiến, tập quán ăn sâu vào họ bao đời đã được Chu Văn phản ánh
bùng nổ năm 1918, Sôlôkhôp tình nguyện tham gia cách mạng ở địa phương. Hăng
hái tham gia cách mạng tuyên truyền cổ động trong nhân dân, Sôlôkhôp tham gia
diễn kịch và sáng tác kịch để cổ vũ cho công tác tuyên truyền của Đảng. Ông cũng
đã trải qua nhiều nghề lao động vất vả như: kế toán, khuôn vác, thợ nề…để kiếm
sống. Thời gian ở Maxtcơva Sôlôkhôp đã tìm kiếm những mối quan hệ văn chương
và sáng tác văn chương. Năm 1925, Sôlôkhôp trở về quê, lập gia đình và tham gia
nhiều công tác xã hội, có nhiều đóng góp cho công tác Đảng và chính quyền ở địa
phương từ năm 1932. Chiến tranh vệ quốc bùng nổ (1941 - 1945 ), Sôlôkhôp tham
gia chiến đấu trên nhiều mặt trận. Sau chiến tranh Sôlôkhôp tiếp tục sáng tác văn
chương. Năm 1975, Sôlôkhôp được tặng huân chương “ Vì sự nghiệp hoà bình ”
trong lĩnh vực văn hoá.
Sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động ( nội chiến, công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội , cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ), Sôlôkhôp đã
khẳng định được tài năng của mình với một sự nghiệp văn học đồ sộ và mang tính
nhân bản cao. Là một tài năng thiên bẩm song con đường sáng tạo nghệ thuật của
Sôlôkhôp cũng trải qua nhiều chông gai, thử thách.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
Hăng hái tham gia cách mạng, ngòi bút của Sôlôkhôp luôn gắn bó với những
sự kiện lịch sử trọng đại của nước Nga và thế giới. Thời đại lịch sử đã góp phần tạo
nên những nét đặc sắc trong sáng tác của Sôlôkhôp. Với tư cách là một phóng viên
chiến tranh xông pha trên nhiều mặt trận, tác giả đã cho ra đời nhiều bài ký, chính
luận, truyện ngắn đặc sắc. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Sôlôkhôp chịu sự tác
động trực tiếp của vòng xoáy lịch sử. Ở đó “ định hướng về nền văn học kịp thời
của Đảng trước sự biến đổi của lịch sử đã giúp Sôlôkhôp tìm ra con đường, hướng
đi và lập trường tư tưởng đúng đắn, chắc chắn cho mình ” [33,3].
Các tác phẩm tiêu biểu phải kể đến trong văn nghiệp Sôlôkhôp là: Sông
Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, Những mẩu truyện sông Đông, Trên sông Đông, Ở
miền Nam, Những người Cô dắc, Tù binh, Trong những nông trường Cô dắc, Khoa
quyển I Đất vỡ hoang ra đời và nhanh chóng trở thành “ sách giáo khoa về cuộc
sống nông thôn ”. Những phác thảo đầu tiên của quyển II Đất vỡ hoang tiếp nối
sau khi quyển I ra đời. Khi chiến tranh Vệ quốc bắt đầu, nó gần như được viết xong,
nhưng trong thời gian chiến tranh bản thảo bị thất lạc. Sau chiến tranh, Sôlôkhôp
phải viết lại từ đầu và đến năm 1954, những trang đầu được in trên tạp chí “ Thế
giới mới ”. Năm 1959, tiểu thuyết được in trọn bộ.
Đất vỡ hoang đã đem lại nhiều phát hiện táo bạo và quan trọng về thời đại
và con người, về tính nhân dân và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, về vấn đề tình yêu
và đạo đức của con người mới, về nghệ thuật điển hình và nghệ thuật tâm lý.
Bằng vốn sống và tài năng của mình, Sôlôkhôp đã tái hiện sinh động những
vận động mãnh liệt của cuộc đấu tranh giữa hơi thở ấm áp của mùa xuân đang tới
với giá lạnh còn rớt lại của mùa đông băng giá của những người dân Cô dắc ở thôn
GrêmiatsiLôc bên bờ sông Đông trong cuộc sống tập thể mới bắt đầu hình thành.
Tác giả đã xây dựng lên hình ảnh những người cộng sản quyết tâm, dũng cảm,
kiên quyết, nhạy bén với những kẻ phá hoại, biết đồng cảm, thấu hiểu và tôn trọng
nhân dân. Cuộc chiến đấu một mất một còn giữa những người cộng sản với những
kẻ phản loạn thực chất là cuộc đấu tranh vì lòng dân. Hướng tới nhân dân, những
người cộng sản có khả năng sửa chữa những sai lầm, vượt qua mọi khó khăn, chiến
thắng được âm mưu phá hoại của bọn phản loạn và những người dân còn lạc hậu.
Kết thúc tác phẩm là cái nhìn thẳng vào sự thật đầy bi kịch của dòng sông
cuộc sống trong dòng chảy mãnh liệt không ngừng của nó. Dòng chảy dù thế nào