Tư duy thơ trong tiểu thuyết của đoàn minh phượng - Pdf 30

TƢ DUY THƠ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA ĐOÀN MINH PHƢỢNG
Nguyễn Đức Toàn
1

Tóm tắt: Góp phần làm nên diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, bên cạnh những
tác giả trẻ trong nước còn phải kể đến các tác giả sống và viết ở hải ngoại. Đoàn Minh
Phượng tham gia vào cuộc chạy tiếp sức của tiểu thuyết đương đại với hai tiểu thuyết ngắn
Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006) và Mưa ở kiếp sau (Nxb Văn học, 2007). Bằng nỗ lực cách
tân nghệ thuật thể loại, ở tác phẩm của chị, người đọc nhận ra sự dung hợp thành công tư
duy thơ trong tiểu thuyết.

1. MỞ ĐẦU
Với tiểu thuyết truyền thống, chất thơ đem lại không khí thi vị, trữ tình cho câu chuyện
nhưng sự tạo lập cấu trúc tác phẩm theo nhãn quan thơ thì chỉ đến tiểu thuyết đương đại mới
trở nên phổ biến. Thật vậy, nói như M. Bakhtin thì: “Thể loại chứ không phải phương pháp
hoặc trường phái sáng tác là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học… Mỗi thời
đại lịch sử có hệ thống thể loại của mình, trong đó những thể loại chính thể hiện tập trung
nhất, nổi bật nhất tâm thức, tầm nhìn, những mối quan tâm, những quan niệm và chuẩn mực
giá trị của con người trong thời đại đó… Lịch sử văn học trước hết là lịch sử hình thành, phát
triển, tương tác giữa các thể loại” [1, tr.8]. Và hiển nhiên, một nguyên tắc sáng tác mới ra đời
bao giờ cũng do hệ hình tư duy, quan niệm của người nghệ sĩ và cơ sở tâm lí của thời đại quy
định.
Xuất phát từ nhu cầu của đời sống và văn học nên mỗi thể loại phải có nội lực cũng như
ngoại lực tác động để tồn tại và phát triển. Đời sống tâm lí hậu hiện đại đầy rẫy những xô bồ,
quẩn quanh. Thế giới không còn nguyên phiến, nhất thể và con người không còn một niềm
tin bất diệt làm trụ cột tinh thần. Chính sự tan rã khỏi khối thống nhất ấy khiến họ trở thành
những “tiểu vũ trụ” tự trị. Kiểu tâm lí hoài nghi, cảm quan cô đơn, u uẩn, vụn vỡ hoặc con
người với nhu cầu tìm về cội nguồn, bản thể hay là xu hướng lội ngược dòng quá khứ xuất
hiện nhiều trong văn học. Và tâm lí ấy, không gì ưu việt hơn là được diễn đạt bằng phương
thức trữ tình. Bên cạnh đó, các nhà văn đương đại không bị áp đặt về chủ nghĩa đề tài hay

khác, nó bắt nguồn từ sự tương hợp cảm xúc giữa con người với thế giới khách quan nhằm
nêu bật điệu cảm của nhân vật trữ tình. Vậy nên, nhịp điệu chính là ở phương diện hình thức
cấu tạo của tác phẩm thể hiện qua cách phối âm, nhịp, điệu, luật trong thơ cũng như việc kết
hợp cú pháp và nhịp điệu trầm bổng được tạo ra từ câu chữ, lời thơ. Nhịp điệu, do đó, được
tạo ra nhờ sự phối thuộc giữa nhạc tính của ngôn ngữ và nhạc cảm, nhịp cảm từ phía chủ thể
tiếp nhận. Từ đó, có thể khẳng định nhịp điệu thơ trong văn xuôi thể hiện góc nhìn mới và
đang trở thành xu hướng của văn xuôi hiện đại, một sự “cố tình của bút pháp”, bởi nhịp điệu
được nhắc đến ở đây là sự dung hợp nhịp điệu trong thơ.
Trước hết, tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng tổ chức nhịp điệu văn bản dựa trên “nguyên
tắc lặp lại”. Đột phá vào hình thức cú pháp, tiểu thuyết hiện đại mang những đặc trưng của
thể loại: tính văn xuôi, tính tổng hợp và tính đa thanh. Tiểu thuyết đương đại mở rộng yếu tố
nhịp điệu của mình bằng cách vay mượn nhịp điệu của thơ. Đó là nhịp điệu của cảm xúc, của
tâm hồn tác giả trước hiện thực cuộc sống. Đọc Và khi tro bụi, người đọc thấy dày đặc những
chữ “tôi”, “tro bụi”, “chết”. Khảo sát tác phẩm có tới 100 lần từ “chết” được lặp lại. Không
phải ngẫu nhiên Đoàn Minh Phượng quan niệm cái chết là một sự trở về, một sự đoàn tụ. Với
chị, ám ảnh cái chết không phải là khát khao vượt qua được giới hạn của đời người mà là tìm
đến cái chết khi không còn tìm thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Chết là một sự chấm dứt
tình trạng cô đơn tuyệt đối. Người ta nghĩ đến cái chết khi ý thức được sự vô định, mất
phương hướng. Khi con người muốn chối bỏ mọi giao lưu tình cảm, dập tắt mọi cảm xúc,
ước muốn và không còn nhu cầu gắn bó với cõi người, lúc ấy, cái chết đã được chủ động lựa
chọn. Hơn nữa, chọn cái chết còn là sự bắt đầu cho một hành trình đi tìm bản thể.
Từ “tro bụi” lặp lại 9 lần trong tác phẩm. Mượn biểu tượng trong Kinh Thánh: tro bụi là
cái chết, là cõi hư vô nhưng tro bụi cũng là khởi nguyên sự sống. Trở về với tro bụi là trở về
với tuần hoàn, khởi thủy của cuộc sống. Nhân vật An Mi trên hành trình đi tìm cái chết chốn
chạy quá khứ đã bắt gặp những nhân vật có cùng cảnh ngộ như Macus. Soi chiếu trong số
phận người khác, cô bừng tỉnh và quyết tâm trả lại tuổi thơ cho cậu bé Macus. Đồng thời An
Mi cũng tìm thấy quá khứ của mình: một bé gái bị chiến tranh cướp mất cả gia đình lẫn quê
hương. Như vậy, tro bụi trở thành một cách thức hóa giải buồn đau của người phụ nữ tha
hương. Thống kê toàn tác phẩm có tới trên 1300 từ “tôi” được lặp lại. Kể chuyện từ điểm
nhìn bên trong, câu chuyện bộc lộ nhiều mảnh tâm trạng và khơi sâu vào thế giới nội tâm sâu

đường đời.
Điệp từ “mưa” và “nước mắt” cũng góp phần tạo hiệu quả nhịp điệu cho tác phẩm.
Chúng ta biết rằng tác phẩm Mưa ở kiếp sau được kiến tạo theo thủ pháp giấc mơ - một biểu
hiện nghệ thuật đặc trưng của dòng ý thức. Hành trình đi tìm cha của Mai cũng là hành trình
của những suy tưởng và những giấc mơ đứt nối. Thế giới thực làm cách quãng, đứt nhịp của
những giấc mơ và đó cũng chính là sự tạo nhịp điệu cho cả câu chuyện - dòng chảy bất tận,
miên man của những giấc mơ đứt nối. Do vậy, nhịp điệu chung của tác phẩm là chậm chạp. Ở
đây là nhịp điệu của cảm xúc muốn vượt thoát khỏi hận thù, được là mình để khỏi “lưu lạc
với chính mình”.
Đoàn Minh Phượng còn làm mới câu văn của mình bằng thủ pháp lặp ở cấp độ thành
phần câu. Ở Và ở tro bụi, tần số câu có thành phần lặp lại rất nhiều lần. Và sự lặp lại chủ yếu
là thành phần chủ ngữ tạo nên một kiểu câu luôn có chủ từ đứng trước. Điệp khúc trên là
chuỗi cảm giác về mình của nhân vật tôi: sự trôi nổi, mơ hồ, không trọng lượng và khó nắm
bắt được. Mưa ở kiếp sau lặp lại thành phần câu nhiều hơn, đậm đặc hơn tạo thành một làn
sóng cú pháp mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cú pháp của tiểu thuyết Và khi tro bụi rất đặc biệt.
Đoàn Minh Phượng sở trường dùng kiểu câu trần thuật trong suốt dọc dài câu chuyện. Mô
hình cấu trúc phổ biến là: Chủ ngữ (tôi) + động từ … Thường thì câu bắt đầu từ “tôi muốn
…”, “tôi sẽ…”, “tôi nghĩ…”, “tôi cần…”, “tôi không biết…”,”tôi nhớ…”. Đây là kiểu câu
trần thuật có chủ từ để thuật lại hành động của nhân vật một cách tỉ mỉ, kĩ càng. Quả thực, đó
là một cái tôi đang được mô tả lại, tác giả không hề quan tâm tới sự kiện được kể.
Đến tiểu thuyết Mưa ở kiếp sau, Đoàn Minh Phượng vẫn tiếp tục khai thác kiểu câu trần
thuật trực tiếp ấy, bởi câu chuyện được kể theo nhân vật xưng “tôi” có tên là Mai. Nếu
Nguyễn Bình Phương chủ trương tẩy trắng sự hiện tồn của nhân vật bằng trò chơi chữ nghĩa,
để cho nhân vật trắng tên bằng dấu “…” thì Đoàn Minh Phượng lại luôn luôn đặt nhân vật
đầu mỗi câu văn. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là sự diễn tả về trạng thái tồn tại vô
nghĩa, nhạt nhẽo của con người, trong khi Đoàn Minh Phượng lại chú tâm vào sự hiện diện
như một trạng thái hiện sinh của con người, từ việc ăn uống, khóc và sự cảm hiểu nỗi buồn.
Nhịp điệu của hình tượng do nhân vật cặp đôi đồng dạng đem lại. Đó là cặp nhân vật có sự
tương đồng về mảnh đời hoặc tính cách với nhau. Nếu trong tiểu thuyết hiện thực trước đó,
nhà văn chú trọng nghệ thuật điển hình hóa nhân vật, thì tiểu thuyết đương đại lại soi chiếu

Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng ngoài nhịp điệu của hình tượng còn có nhịp điệu của
không gian, thời gian. Trong Và khi tro bụi, không gian của những chuyến tàu, nhà ga được
lặp đi lặp lại trong truyện, bởi nhân vật hành trình tìm kiếm lại mình bằng những chuyến tàu
trong ba tháng. Không gian ấy lặp lại gợi sự vô định, không an bằng và không tĩnh tại. Nhân
vật tìm lại mình trên những chuyến tàu vô định ấy nên nỗi thất vọng, bất an càng lớn hơn bao
giờ hết. Còn trong Mưa ở kiếp sau, không gian thực được lặp lại nhiều là không gian của xứ
Huế, tượng trưng cho cội nguồn, nỗi đau, miền hoài niệm của mẹ Mai mà không một lần dám
trở về thăm quê. Không gian của khách sạn Muôn Hoa, nơi diễn ra sự gặp gỡ oan nghiệt giữa
Mai và người cha đẻ của mình dưới tư cách là người tiếp khách được mua (Mai) và vị khách
sộp (cha Mai). Mỗi sự lặp lại ấy là một đoạn nhạc mang những tiết tấu khác nhau. Sự lặp lại
ở đây không thuần túy công thức máy móc, trái lại chúng đan lồng, xoắn quyện trong một
nhịp điệu được tự giác cao từ người sáng tạo. Đôi khi sự lặp lại như một trò ảo thuật, nhiều bí
ẩn và khó nắm bắt. Điều đó làm người đọc phải suy nghĩ và đọc bằng lí trí nhiều hơn. Đó là lí
do vì sao văn học hiện nay có sự phân hóa người đọc mạnh mẽ đến vậy.
Sức liên tưởng mạnh, bất ngờ, phi lô gic là một yếu tính của tư duy thơ mà tư duy tự sự
bị hạn chế. Văn xuôi đã mở rộng địa hạt sang thơ để bộc bạch nỗi niềm sâu lắng một cách
trực tiếp và giàu tính thẩm mỹ. Đoàn Minh Phượng đã khai thác hiệu quả của bút pháp huyền
ảo và kĩ thuật dòng ý thức như một phương tiện nghệ thuật độc đáo để truyền đạt đến người
đọc những thông điệp nghệ thuật đa nghĩa, giàu triết lí nhân sinh. Hiện thực trong tác phẩm
vừa có lí, vừa phi lí cũng như sự đa dạng của đời sống là không thể biết hết, không thể biết
trước. Nhà tiểu thuyết khai thác xu hướng huyền thoại hóa bằng cách đào sâu vào thế giới
tâm linh. Chính vì vậy, sự tuần tự theo logic đời sống mất đi, nhường chỗ cho một hiện thực
khác. Liên tưởng được chắp thêm đôi cánh hư ảo. Và khi tro bụi chứa đầy những dự cảm
mong manh mà nhà văn muốn gửi gắm, cho nên, bút pháp huyền ảo không những gợi ra
những liên tưởng bất ngờ mà còn truyền tải sự mơ hồ, đa nghĩa. Hình ảnh lấp lánh sắc màu
huyền ảo mà chính An Mi gọi đó là ý niệm chứ không phải hình ảnh thực. Nhân vật đang
chìm trong những mộng mị và ảo giác. Dụng ý của nhà văn tập trung vào diễn tả những trạng
thái tâm hồn nhân vật, dẫn dụ người đọc đến với những cảm giác mong manh nhất. Nhà văn
không tổng kết những gì nhân vật đã trải qua, cũng không tỏ ra biết mọi thứ, bởi vì: “Nhà tiểu
thuyết không coi trọng lắm các tư tưởng của mình. Anh ta là một kẻ khám phá, mò mẫm, cố

Tuy nhiên, sự đổi mới nghệ thuật văn xuôi đương đại nói chung và tác phẩm của Đoàn
Minh Phượng nói riêng dẫn đến tình trạng tiểu thuyết hiện nay “khó đọc” do các tác giả đã
làm mờ tính “chuyện”, bởi mật độ dày đặc (liệt kê, sóng đôi, đối ngẫu, câu định nghĩa, lặp
thành phần ) của cấu trúc và những thể nghiệm biến nhịp điệu thành nội dung tiểu thuyết,
hoặc do sự đổi thay quan niệm về nhân vật và thể loại khi xem tiểu thuyết như là một cuộc
chơi ngôn từ… Nhưng tất cả đã mở ra con đường mới luôn vẫy gọi và gợi ra tính dân chủ cao
độ trong tiếp nhận và thưởng thức.
3. KẾT LUẬN
Sự dung hợp tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại thể hiện những nỗ lực
cách tân của các nhà văn, đồng thời phản ánh nhu cầu tự thân của người cầm bút trong bối
cảnh hội nhập tất yếu của văn chương. Việc xuất hiện khá phổ biến của tư duy thơ trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại hoàn toàn không phải là sự ngẫu nhiên mà nó chịu sự chi phối
của bối cảnh văn hóa - xã hội thời kì này. Đó là do sự thay đổi của môi trường xã hội, tâm thế
xã hội, hệ thống giá trị trong xã hội; do xu hướng đa phương hóa trong đời sống diễn ra mạnh
mẽ gắn liền với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân; do sự thay đổi tình hình lí luận về tiểu thuyết,
do nhu cầu nhà văn muốn cách tân tiểu thuyết Tất cả đã thôi thúc nhà văn không ngừng nỗ
lực tìm tòi đổi mới hình thức một thể loại luôn sống ở thời hiện tại chưa hoàn thành.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. M. Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu), Lí luận và thi pháp tiểu
thuyết, Bộ VHTT và Thể thao - Trường Viết văn Nguyễn Du, H., 1992.
2. Nguyễn Thị Bình, Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Nghiên cứu
văn học, số 5 (435), tr.41-49, tháng 5/2008.
3. Trần Đình Sử (Chủ biên), Tự sự học, Nxb Đại học Sư phạm, H., 2008.
4. Milan Kundera (Nguyên Ngọc dịch), Tiểu luận, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 2001.
5. Đoàn Minh Phượng, Và khi tro bụi, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2006.
6. Đoàn Minh Phượng, Mưa ở kiếp sau, Nxb Văn học, H., 2007.
POETRY IN DOAN MINH PHUONG’S NOVELS
Nguyen Duc Toan
Abtract
Contributing to the overall look of contemporary Vietnamese novels, besides young


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status