Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ PHƢƠNG Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết
của Nguyễn Bình Phƣơng

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chương 3. SỬ DỤNG YẾU TỐ KỲ ẢO – MỘT THỦ PHÁP NGHỆ
THUẬT TRONG TIỂU THUYÊT CỦA NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG 67
3.1 YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 67
3.1.1. Nhân vật với những yếu tố dị thƣờng 68
3.1.2 Thế giới vô thức và nỗi ám ảnh sợ hãi của nhân vật 72
3.2 YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN - THỜI
GIAN 80
3.2.1 Yếu tố kì ảo trong xây dựng không gian 80
3.2.2 Yếu tố kỳ ảo trong tổ chức thời gian 86
3.2. HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG 92
3.2.1. Biểu tƣợng trăng 94
3.2.2. Biểu tƣợng con cú 97
3.2.3 Một số biểu tƣợng khác 100
PHẦN KẾT 103
THƢ MỤC THAM KHẢO 106

Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
2

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nguyễn Bình Phƣơng không phải là cái tên xa lạ đối với giới phê
bình nghiên cứu chuyên nghiệp, nhƣng với phần đông độc giả đây vẫn là
nhà văn chƣa đƣợc biết đến rộng rãi. Trong gần 20 năm, kể từ khi bƣớc vào

song song. 3.Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng. Có
thể khẳng định đây là những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn
Bình Phƣơng, nhƣng do dung lƣợng có hạn nên bài viết mới chỉ dừng lại ở
mức độ giới thiệu các luận điểm chứ chƣa đƣợc triển khai phân tích sâu.
Thụy Khuê là một ngƣời có quan tâm đặc biệt đến sáng tác của
Nguyễn Bình Phƣơng. Hầu nhƣ tiểu thuyết nào của Nguyễn Bình Phƣơng
ra mắt độc giả, Thụy Khuê đều có những bài viết đầy tâm huyết và có
những ý kiến khá sắc sảo có giá trị nhƣ: về tiểu thuyết Những đứa trẻ chết
già Thụy Khuê cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết mang đậm khuynh hƣớng
hiện thực huyền ảo với sự tồn tại của hai cõi âm – dƣơng, của những “điềm
báo”, với diễn biến của nhiều thế hệ sống chết giao nhau trên mảnh đất
Thái Nguyên. Thụy Khuê còn phát hiện đƣợc hiện thực của Người đi vắng
cùng với kết cấu đồng hiện về thời gian trong tác phẩm là một “hiện thực
linh ảo âm dƣơng, một thế giới bao quát gồm thiên nhiên, vật giới, hiện
tƣợng và con ngƣời”, do đó con ngƣời không còn có giá trị độc tôn nhƣ
trƣớc đồng thời chỉ ra chủ đề chính của tác phẩm là sự tha hóa của con
ngƣời. Với Trí nhớ suy tàn bài phê bình của Thụy Khuê lại tập trung nhận
diện những yếu tố của tiểu thuyết Mới trong tác phẩm. Trên cơ sở ứng
dụng lý thuyết về tiểu thuyết Mới ở phƣơng Tây, nhà phê bình khẳng định:
những dấu hiệu của tiểu thuyết Mới trong tác phẩm đƣợc ngƣời viết chỉ ra
bao gồm: tính “không tiêu biểu”, không xác định” của nhân vật, lối nói
“trống không” với những mệnh đề không có chủ từ và “hiện thực trong tác
phẩm là một hiện thực hiện sinh trong trí tƣởng tƣợng của nhà văn, nó đã
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
4
khác xa với hiện thực chụp ảnh thời Balzac”. Thụy Khuê lại nhấn mạnh
những điểm mới trong Thoạt kỳ thủy so với truyền thống: “Thoạt kỳ thủy
là cuốn tiểu thuyết khác thƣờng, khó đọc bởi lối hành văn và cấu trúc
truyện rất lạ, một thứ “thoạt kỳ thủy” trong văn chƣơng mang dấu ấn sáng

tác của Nguyễn Bình Phƣơng “Sáng tạo văn học: giấc mơ và điên (đọc
Thoạt kỳ thủy)” hay “Người đàn bà nằm: “Từ thiếu nữ ngủ ngày” đọc
Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương.” Bài viết của Đoàn Cầm Thi đã
nêu ra những nhận xét rất xác đáng”. “Vô thức chiếm vị trí trung tâm trong
Thoạt kỳ thủy, đƣợc diễn tả trong một văn phong chậm, ngắn, chính xác,
phản ánh một tƣ duy đang khảo sát, chiêm nghiệm. Đặc biệt, nó đƣợc xem
xét trong mối quan hệ với điên và mộng hai trạng thái trong vô thức hoạt
động tích cực nhất”. Tác giả cũng rất chú ý tìm hiểu ngôn ngữ điên của
nhân vật trong tác phẩm dựa trên sự đối sánh với các nhân vật điên đã có
trong văn học truyền thống. Bài viết có một liên tƣởng khá thú vị giữa
Thoạt kỳ thủy với Thơ điên của Hàn Mạc Tử.
Gần đây, trên Tạp chí Văn học (số 4/ 2008) có đăng một bài nghiên
cứu khá công phu về Nguyễn Bình Phƣơng của nhà nghiên cứu trẻ Đoàn
Ánh Dƣơng “Nguyễn Bình Phương lục đầu giang tiểu thuyết”. Tác giả đã
khảo sát và chỉ ra những đặc điểm nổi bật ở mỗi tác phẩm của Nguyễn
Bình Phƣơng nhƣ những “chi lƣu” nhỏ, đều có những độc đáo riêng. Đoàn
Ánh Dƣơng đặc biệt nhấn mạnh đến phƣơng thức kết cấu và phƣơng thức
huyền thoại trong sáng tác của Nguyễn Bình Phƣơng. Tác giả cho rằng có
sự “hợp lƣu” trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng, đó là nhà văn đã
thành công ở phƣơng thức kết cấu huyền thoại. Đây là một trong những bài
viết đƣợc đánh giá cao và gợi mở hƣớng đi khi tiếp cận tác phẩm của
Nguyễn Bình Phƣơng.
Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng trong bài “Người đi vắng, ai đọc Nguyễn
Bình Phương? Hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỷ” đã chỉ ra những
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
6
“cái mới” trƣớc hết ở việc tạo ra một hệ thống những ám ảnh của nhân vật.
Ông cho rằng tính chất hiện đại ở tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng thể hiện
ở lối kết cấu không có mở đầu cũng không có kết thúc, nhân vật không có

thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng nhƣ bài của nhà phê bình Nguyễn Hòa:
“Một cách lý giải về thực trạng tiểu thuyết Việt Nam đương đại” cho rằng
những cố gắng cách tân của một số tác giả, trong đó có Nguyễn Bình
Phƣơng “chƣa làm nên những đột biến trong tƣ duy thể loại, vẫn chỉ là
những tìm tòi hình thức, mà nếu chuyên chú với hƣớng đi ấy, chƣa hẳn đã
có thành tựu”. Và “trong motip nhân vật bị chi phối bởi trạng thái bệnh lý
“tâm thần”, “điên” trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng có thể cung
cấp một cái nhìn “bất bình thƣờng” về cuộc sống và con ngƣời, nhƣng sự
trở đi trở lại của motip này đang đẩy tác giả tới nguy cơ đơn điệu nhàm
chán” [45;209]
Hàn Thủy trong bài Trăng đen - đọc Thoạt kỳ thủy của Nguyễn
Bình Phƣơng lại tỏ ra e ngại về mâu thuẫn giữa phạm vi ý nghĩa chủ đề của
tác phẩm với độ dài của cuốn sách: “Nếu đây là một cố gắng đi tìm kiếm
cái vô thức sâu thẳm và mênh mông của con ngƣời nói chung và con ngƣời
Việt Nam nói riêng thì với khung cảnh quá hạn hẹp của Thoạt kỳ thủy chƣa
thể gọi là Nguyễn Bình Phƣơng đã thành công. Có nhiều ngƣời không đồng
tình với ý kiến này bởi đối với tiểu thuyết hiện đại, sự dồn nén thông tin là
một đặc điểm nổi bật
Hay Nguyễn Đình Chính trong bài “Sẽ chẳng có ma nào đọc Ngồi”
cho rằng Ngồi là một bƣớc lùi trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng
và cho rằng Nguyễn Bình Phƣơng đã xây dựng nên những nhân vật nửa
ngƣời nửa ngợm.
Có thể nói, nhiều ý kiến trái chiều nhƣ vậy khi nhìn nhận đối với
sáng tác của một nhà văn, đặc biệt là đối với một “hiện tƣợng” có nhiều cái
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
8
mới nhƣ Nguyễn Bình Phƣơng cũng không phải là điều lạ nếu nhƣ không
nói đó là thành công của tác giả.
Ngoài ra còn có các bài trả lời phỏng vấn của Nguyễn Bình Phƣơng

nhƣ: Cấu trúc tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương (Phùng
Diệu Linh, BCKH, ĐHSP HN, 2004), Phùng Diệu Linh đã đƣa ra những
nhận định về Thoạt kỳ thủy ở phƣơng diện cấu trúc đã phác thảo một mô
hình cấu trúc đồng hiện. Cấu trúc của Thoạt kỳ thủy bao gồm cấu trúc lập
thể, cấu trúc đồng hiện và cấu trúc hệ thống các biểu tƣợng. Ở bài “Lời câm
của nhân vật Tính trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy” (Hoàng Thị Quỳnh
Nga, BCKH, ĐHSPHN, 2004) và Quỳnh Nga chủ yếu tập trung ở vấn đề
ngôn ngữ trong tác phẩm, và cho rằng nội dung của những lời câm của
nhân vật Tính là những ám ảnh của bạo lực, cái chết, của máu và trăng.
Bên cạnh những luận văn, khóa luận đặt vấn đề trực tiếp nghiên cứu
tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng còn có một số luận văn, khóa luận khác
có khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Bình Phƣơng cùng với hệ thống các
sáng tác cùng thời nhằm chứng minh cho một vài yếu tố cách tân của tiểu
thuyết qua đó chỉ ra xu hƣớng vận động của tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại.
Có thể kể tới: “Bước đầu tìm hiểu đặc trưng thể loại tiểu thuyết ngắn trong
văn học Việt Nam 1986 -2006, qua hai tác giả Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình
Phương” (Phạm Thị Trang, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHKHXH&NV, 2007;
“Một số đặc điểm đáng chú ý của tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm
gần đây” (Bùi Thị Thu, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP HN, 2005); “Tiểu
thuyết Việt Nam năm năm đầu thế kỷ XXI”; (Phạm Thị Thu Hiền, Luận văn
Thạc sĩ khoa học, ĐHKHXH & NV, 2007); “Cấu trúc tiểu thuyết Việt Nam
thế kỉ XXI”(Hoàng Cẩm Giang, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHKHXH&NV
2007).
Từ những bài biết và các công trình nghiên cứu trên đây chúng tôi
rút ra một số nhận xét sau:
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
10
1. Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau nhƣng hầu hết những bài
viết đều khẳng định tiểu thuyết Nguyễn Bình Phƣơng có sự cách tân ở

4. NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Với đề tài này, luận văn nhằm hƣớng đến những mục đích sau:
- Tiến hành khảo sát để tìm ra những nét cách tân đặc sắc trong từng
tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng
- Chỉ ra cách tân nổi bật thể hiện sự thống nhất và vận động trong kỹ
thuật tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng. Đặc biệt ở hai phƣơng diện:
cách tân về kết cấu tiểu thuyết và sử dụng yếu tố kỳ ảo như là một thủ pháp
nghệ thuật
- Ghi nhận những đóng góp mới của Nguyễn Bình Phƣơng trong hƣớng
vận động cách tân của tiểu thuyết Việt Nam.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng chủ yếu các phƣơng pháp truyền thống bao gồm:
phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tác phẩm, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp. Bên cạnh đó luận văn cũng sử dụng một số
phƣơng pháp nghiên cứu khác để bổ trợ nhƣ: thi pháp học, phương pháp
cấu trúc, phương pháp ký hiệu học, phương pháp liên văn bản.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn triển khai
nội dung trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Nguyễn Bình Phƣơng trong sự vận động của tiểu thuyết
Việt Nam đƣơng đại (từ 1986 đến nay)
Chƣơng 2: Những cách tân về mặt kết cấu tiểu thuyết của Nguyễn
Bình Phƣơng
Chƣơng 3: Sử dụng yếu tố kỳ ảo - một thủ pháp nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương

Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
13
Trong không khí hội nhập, với nhiều luồng văn hóa, ý thức cách tân
của nhà văn cũng trở thành phù hợp với sự phát triển của chính bản thân
văn học và phù hợp với nhu cầu đổi mới, khát vọng dân chủ trong xã hội.
Các quy luật, các sự kiện của lịch sử, của xã hội bắt đầu đƣợc nhìn qua lăng
kính cá nhân, mang màu sắc riêng của mỗi cá tính sáng tạo, của mỗi nhân
vật. Bên cạnh những tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thành công, tiểu
thuyết về thế sự đời tƣ ngày càng chiếm tỉ lệ lớn. Những tác phẩm nhƣ:
Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Gặp gỡ cuối năm, Cha và con
và…(Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Chim én bay
(Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong
vườn, Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Ăn mày dĩ vãng
(Chu Lai), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Bến không chồng (Dƣơng Hƣớng),
Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Tường thành (Võ
Thị Xuân Hà), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Thanh), Ngụ Cư (Thùy
Dƣơng), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân) Khúc sông mê (Triệu Xuân), Dòng
sông mía (Đào Thắng), Tấm ván phóng dao (Mạc Can)…. nghiêng về khai
thác những cảnh ngộ, số phận con ngƣời cả trong chiều thuận và nghịch
của nó, một hƣớng tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái đời thƣờng của
cuộc sống cá nhân. Về mô hình tính cách, bên những con ngƣời anh hùng –
con ngƣời cộng đồng, đã xuất hiện con ngƣời thân phận, cá thể, con ngƣời
mang bi kịch cá nhân. Vấn đề tình dục là một vấn đề rất đỗi bình thƣờng
của con ngƣời nhƣng nó cũng là một vấn đề vô cùng nhạy cảm. Ở giai đoạn
trƣớc vấn đề này ít đƣợc đề cập đến, nếu có thì cũng rất tế nhị. Sang giai
đoạn này vấn đề đó đƣợc khai thác nhiều hơn và với cái nhìn tự do, phong
phú hơn. Các tác giả Hồ Anh Thái (Mười lẻ một đêm), Thuận (Chinatown,
Pari 11 tháng) đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục
thể, một lĩnh vực rất riêng của đời sống cá nhân. Miêu tả con ngƣời với

Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
15
các nhà tiểu thuyết lịch sử phải bám sát thì giờ đây nó chỉ đƣợc xem là “cái
đinh” để nhà văn treo các “bức tranh” của mình lên. Các biến cố lịch sử
đƣợc dựng lên từ những góc nhìn khác nhau, các nhân vật lịch sử đƣợc tái
hiện một cách sống động với đầy đủ đời sống nội tâm và các cung bậc tình
cảm của con ngƣời. Nhân vật lịch sử không còn đƣợc thần thánh hóa để trở
thành những hình tƣợng cao siêu, họ hiện lên cả trong những chiến công
oanh liệt và cả trong cuộc sống đời thƣờng muôn vẻ. Về phƣơng thức biểu
hiện, các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này không còn lệ thuộc vào
tiểu thuyết cổ điển chƣơng hồi, câu văn biền ngẫu… nó tạo cho mình một
kết cấu lạ, tạo tính hấp dẫn góp phần chuyên chở ý đồ nghệ thuật của nhà
văn. Ngôn ngữ linh hoạt vừa mang màu sắc văn hóa của thời đại lịch sử mà
nó xâm nhập vừa mang màu sắc hiện đại. Bên cạnh đó nghệ thuật hƣ cấu
giúp cho các hiện tƣợng sự kiện, nhân vât lịch sử không còn là một hằng số
đứng yên mà tiếp tục vận động cùng cuộc sống muôn hình.
Hơn nữa, trong bối cảnh giao lƣu hội nhập văn hóa quốc tế, đội ngũ
nhà tiểu thuyết đƣợc bổ sung các cây bút hải ngoại, cho chúng ta hiểu về
cuộc sống của ngƣời Việt ở nƣớc ngoài. Bên cạnh đó góp thêm những điểm
nhìn khác lạ về đời sống trong nƣớc: Made in Vietnam, Chinatown, Paris
11 tháng 8 (Thuận), Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai),
Gió từ thời khuất mặt (Lê Minh Hà)…
Nhìn chung, những đổi thay mạnh mẽ về đề tài, chủ đề, sự đổi mới
quan niệm về hiện thực và cách kể chuyện của tiểu thuyết, đã không ngừng
đƣợc đặt ra qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau trên văn đàn: từ “thế hệ thứ
nhất” (với Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, …) đến “thế hệ
thứ hai” (Nguyễn Huy Thiệp, Dƣơng Thu Hƣơng, Phạm Thị Hoài, Bảo
Ninh…). Giờ đây, với “thế hệ thứ ba” (Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phƣơng,
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương

Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
17
không phải là minh hoạ bằng một câu chuyện, một quan niệm về thế giới
hay về lịch sử đã đƣợc xác lập, mà là làm phát lộ, bằng những con đƣờng
đặc trƣng của nó, “cái mà chỉ có tiểu thuyết mới nói đƣợc… cái không
đƣợc nói bởi chính sử, các vùng trải nghiệm của con ngƣời mà các nhà sử
học đã bỏ qua… mặt trái của cái hình ảnh mà xã hội chúng ta đã tự xây
dựng về chính mình” (Guy Scarpetta). Milan Kundera cũng khẳng định tiểu
thuyết vốn có một sứ mệnh khác hẳn với việc cung cấp một bức tranh “hiện
thực” về xã hội, và phải “phát minh ra các hình thức” Đó chính là phần
mà tiểu thuyết “hiện đại” và đặc biệt, “hậu hiện đại”, tiếp tục đảm đƣơng.
“Hậu hiện đại” phản kháng khuynh hƣớng và điều kiện sống của xã
hội ngày nay. Nó ảnh hƣởng biến chuyển chủ nghĩa từ trong bản chất.
Những đặc tính tiêu biểu có thể kể là: hỗn độn, rối mù, chao đảo, đứt rời,
phân mảnh, do dự, xúc động, mâu thuẫn, ít coi trọng quyền lực, coi thƣờng
sự trong sáng, không để ý đến nguyên bản, phân hóa, nhại lại, lắp ghép để
sáng tạo, sao chép để tái chế, chế nhạo để soi rọi làm sáng lịch sử và hình
dung hoá hiện thực.
Đặc trƣng thứ hai và có lẽ tiêu biểu nhất của văn chƣơng hậu hiện
đại là tính liên văn bản, trích dẫn ở cấp độ thể loại và motive. Bằng cách sử
dụng nhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự và phong cách khác nhau, sử dụng trò
chơi kết hợp, nhà văn tạo ra một cấu trúc lai ghép và văn bản đa thanh.
Cũng nhƣ đặc trƣng thứ nhất, điều này khơi dậy nỗi hoài nghi đối với
những phƣơng thức hiện có trong việc nhận biết thực tại và thế giới, bằng
cách khẳng định rằng chúng ta chỉ có thể nhận biết thế giới thông qua các
văn bản, mà trên thực tế là những mảnh rời, trích đoạn và dấu vết của các
văn bản. Điều này tƣơng đồng với liệu pháp phân tâm học, vốn thông qua
việc liên tƣởng tự do các chi tiết và những thành tố còn thiếu để giúp con
ngƣời quay lại tính hay quên nguyên thủy và cái yếu tính mà mình đã đánh mất.

Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
19
Can) Ấn tƣợng mạnh nhất khi đọc các tiểu thuyết này đó là sự khác lạ:
“Dƣờng nhƣ nhà văn không phải tái hiện bức tranh hiện thực mà đang trình
bày cách thức họ làm ra các “kết cấu nghệ thuật” nhƣ thế nào. Đây là các
kết cấu mang rõ tinh thần “khƣớc từ truyền thống”, nghĩa là vƣợt khỏi mô
hình tiểu thuyết quen thuộc, xác lập mối quan hệ giữa văn chƣơng với hiện
thực” [4].
Đây là những tác phẩm mở đầu cho cuộc thử nghiệm kiếm tìm hình
thức mới cho tiểu thuyết khá phong phú và vẫn đang tiếp tục. Quan niệm
truyền thống về tiểu thuyết mờ dần đi. Nguyễn Bình Phƣơng và Thuận sử
dụng dòng hồi ức miên man của ngƣời kể chuyện tạo ra những mảng màu
hiện thực, dùng thì hiện tại cho mọi thời gian của quá khứ. Hồ Anh Thái
với Cõi người rung chuông tận thế và Châu Diên với Người sông Mê đã
thể hiện một lối kết hợp ảo và thực đƣa ngƣời đọc vào sự bất định, mê hoặc
“nhƣ trong trò chơi rubic hay kính vạn hoa” (Nguyễn Thị Bình, Tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975, một cái nhìn khái quát, NCVH số 2/2007). Tất cả tạo
ra cảm giác về sự trôi dạt của thân phận con ngƣời. Các thủ pháp nghệ
thuật nhƣ đồng hiện, kỹ thuật dòng ý thức, độc thoại nội tâm. Motip giấc
mơ, hồi ức hoài niệm đã tỏ ra có hiệu lực bộc lộ đƣợc nỗi niềm sâu kín của
con ngƣời. Ở đây, cái ngổn ngang bề bộn và khuynh hƣớng tự do trong
hành ngôn và sự co giãn của kết cấu đã góp phần tạo nên giọng điệu mới,
hơn nữa có thể nói lên đƣợc một cái gì đó khá chuẩn xác về một tâm thế có
thật và rất khó phát hiện trong cuộc sống hôm nay.
Khuynh hƣớng hiện thực với bút pháp mới, từ kết cấu trần thuật đến
hình tƣợng, từ nhân vật đến giọng điệu. Với những phối hợp “đa phức”, đa
tầng và có nhiều đứt gãy về điểm nhìn, về ngƣời kể chuyện, các tác giả đã
mang đến những “thế giới hiện thực” bị xáo trộn, bị phân mảng, trở nên
biệt lập và không thể kết nối thành một cái nhìn toàn vẹn, duy nhất nhƣ

Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
21
tăng trọng lượng mỗi từ, hãy làm cho mỗi từ chứa đầy sự bí ẩn và niềm
kính sợ, ngôn ngữ xứng đáng được như vậy” [12]. Phạm Thị Hoài với
Thiên Sứ (80 trang) đƣợc coi là tác giả tiên phong của tiểu thuyết ngắn ở
Việt Nam, sau đó là Nguyễn Bình Phƣơng với Thoạt kì thuỷ (167 trang)
Vào cõi (180 trang), Những đứa trẻ chết già (202 trang), Trí nhớ suy tàn
(127 trang), Ngồi (300 trang) ; Thuận - Chinatown (227 trang), Paris 11
tháng 8 (287 trang) ; Mạc Can - Tấm ván phóng dao (193 trang); Tạ Duy
Anh - Thiên thần sám hối – (125 trang) Đi tìm nhân vật (225 trang); Vũ
Huy Anh - Trăm năm thoáng chốc (190 trang)…. Những tác phẩm này có
sự xuất hiện của “trò chơi cấu trúc văn bản” nhằm phá hủy cốt truyện
truyền thống, tiến hành biểu hiện và nhận thức thế giới theo tinh thần phân
mảnh, và sự liên kết bề sâu của các phân mảnh đó tạo ra đƣợc một ý niệm
nhất quán nào đó về thế giới. Tự nó mang ý nghĩa biểu đạt sự phân rã, đổ
vỡ của hiện thực đời sống đƣơng đại. Tiểu thuyết ngắn còn mang tính triết
lý và chất thơ. Chất triết lý toát ra từ những suy tƣ trực tiếp, từ những tranh
biện cật vấn độc thoại, từ việc công khai đem vào truyện những đoạn tiểu
luận…Chất thơ lại thể hiện trong những mơ mộng, xúc cảm nội tâm, hoặc
cả những chất liệu huyền thoại đƣợc các nhà văn công khai sử dụng… Hầu
hết các tiểu thuyết ngắn đều tạo ra rất nhiều những biểu tƣợng nghệ thuật
có sức khái quát và sức gợi cao. Biểu tƣợng có khi là những hình ảnh của
cuộc sống trần thế hàng ngày, có khi là những mẫu gốc có sẵn từ truyền
thống văn hóa của văn học Việt Nam và thế giới [9]

1.1.2.3 Phương thức tiếp cận tác phẩm phong phú hơn tạo ra một
văn hóa đọc mới

Giờ đây các nhà xuất bản, tòa soạn không còn là bà đỡ duy nhất của
tiểu thuyết nữa mà không ít tác phẩm đƣợc thai nghén và sinh ra từ môi

(VD: Cõi người rung chuông tận thế, Khải huyền muộn ). Việc cực
đoan hóa khía cạnh “cái biểu hiện”, cụ thể hơn nữa là kĩ thuật tự sự, nhƣng
lại không gắn với một chiều sâu của tƣ tƣởng, của quan niệm về nghệ thuật
Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Phương
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
23
và con ngƣời đã không thể dẫn tới một tác phẩm hay, thực sự thuyết phục
ngƣời đọc. Bởi lẽ, điều quan trọng hơn cả là phải “biến đƣợc những kỹ
thuật sáng tác đó thành những giá trị, khả năng đẩy đến tận cùng những tìm
tòi nghệ thuật của mình cũng nhƣ khả năng đào sâu cái nhìn nghệ thuật dựa
trên những quan sát, cảm nhận và suy tƣ cá nhân về hiện thực chứ không
chỉ dựa trên những công thức sách vở có tính giáo điều.
Một điểm hạn chế nữa là mặc dù các tác giả thuộc “dòng cách tân”
nêu trên đều nỗ lực thay đổi truyền thống tự sự, vƣơn đến tính đa âm, tính
phức điệu của tiểu thuyết ; song điều mà phần lớn các tiểu thuyết Việt Nam
còn thiếu chính là một nền tảng triết học sâu sắc làm chỗ dựa cho những
cảm quan, suy tƣ mới mẻ về thế giới và con ngƣời. Bởi một tác phẩm nghệ
thuật hấp dẫn thì dù ở phƣơng trời nào cũng sẽ có những mẫu số chung :
phải có một chiều sâu tƣ tƣởng nhân văn, cảm quan mới mẻ về thế giới và
đƣợc chứa chở trong một hình thức phù hợp, hấp dẫn.
Có thể nói, nhƣ xu thế chung của tiểu thuyết phƣơng Tây, tiểu thuyết
Việt Nam đầu thế kỉ XXI đang ngày càng tiến gần đến với “truyện ngắn”,
đến “thơ”, đến “tiểu luận triết học”… Sự giao thoa của các thể loại trong tự
sự nghệ thuật đƣơng đại, nói cho cùng là vấn đề “thu hút và biến đổi các
thể loại khác” của tiểu thuyết – nhƣ Bakhtin đã từng nhận định. Nó gắn liền
với bản chất, đồng thời cũng là cách thể hiện sự tồn tại và phát triển riêng
của thể loại đặc biệt này. Tất nhiên, công cuộc cách tân một thể loại không
phải là một việc dễ dàng và nhanh chóng: trên đƣờng đi của nó sẽ luôn có
những thử nghiệm thất bại và những sáng tạo thành công.
Nhƣ vậy, sự đổi mới theo hƣớng hiện đại, đặc biệt là sự cách tân về

Vũ đó là những mảnh ghép tạo nên xã hội Việt Nam đƣơng đại
Bả giời là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Bình Phƣơng, tác phẩm
chƣa thực sự thu hút đƣợc sự chú ý bởi chƣa đủ sức nặng, để ám ảnh ngƣời
đọc. Tuy nhiên cái kỳ ảo tạo nên kết cấu tác phẩm với hai cõi âm dƣơng đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status