NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN DIỆU GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 - Pdf 29

LÊ TIẾN DŨNG

NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT

TRONG THƠ XUÂN DIỆU

GIAI ĐOẠN 1932 - 1945

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
2004 LÔØI GIÔÙI THIEÄU



1. Trong sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu là một
nhà thơ lớn. Tác phẩm của ông thật phong phú và đa dạng: thơ ca, văn xuôi,
nghiên cứu, phê bình văn học... Trong sự nghiệp văn học của ông, thơ ca chiếm
một vò trí quan trọng. Đặc biệt thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932- 1945 không chỉ
có ý nghóa với sự nghiệp văn học của ông mà còn đối với lòch sử văn học nói
chung. Sự xuất hiện của ông đã góp phần quyết đònh thắng lợi của phong trào
Thơ mới. Nhiều người đã xem ông là “Người mới nhất trong các nhà Thơ mới“
(Hoài Thanh), “Là người mang đến cho Thơ mới nhiều cái mới nhất“ (Vũ Ngọc
Phan). Cho nên để hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về thơ Xuân Diệu và Thơ mới,
không thể không nghiên cứu những đổi mới về nhiều mặt trong thơ Xuân Diệu
giai đoạn 1932- 1945.
Mục đích của chuyên luận, do vậy sẽ khảo sát một cách có hệ thống,
những cách tân của thơ Xuân Diệu giai đoạn này. Trên cơ sở đó xác lập kiểu tư
duy nghệ thuật của thơ ông, xác đònh những đóng góp của thơ Xuân Diệu giai
đoạn này trong quá trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại.
2. Xuân Diệu là một nhà thơ được nghiên cứu từ rất sớm. Khi ông chưa
kòp thành tác giả đã có những bài viết, những ý kiến khen chê khác nhau về
ông. Có thể chia quá trình nghiên cứu về Xuân Diệu thành các giai đoạn chính
như sau:
Thứ nhất, những ý kiến về Xuân Diệu trước 1945
Thứ hai, những ý kiến về Xuân Diệu từ 1945 - 1985
Thứ ba, những ý kiến về Xuân Diệu từ 1985 đến nay.
2.1 Trước năm 1945.
Khi Xuân Diệu vừa mới xuất hiện (Bài thơ đầu tiên của Xuân Diệu đăng
báo là bài Với bàn tay ấy, 1935) thì gần như ngay đồng thời đã có ý kiến đánh
giá về thơ ông. Người ta khen ông cũng nhiều và chê ông cũng không ít.
Mùa xuân 1937 trên báo Ngày nay số 46 (số Tết) Thế Lữ đã có bài giới
thiệu Xuân Diệu với lời lẽ rất trân trọng. Ông cho rằng cái “Thiên tài khép
nép“ của Xuân Diệu hồi nào giờ đây đã thực sự nảy nở với những “mầm đậm

viết: “Chẳng hạn như thơ của Xuân Diệu, ông này được coi như là một tay kiện
tướng của phong trào này (Thơ mới - LTD), thơ của ông ta được kể là khá nhất
đám nhưng chẳng ra gì . Thơ với thẩn, đọc qua nhiều bài của ông chúng ta phải
bắt cười vì thơ thì chẳng ra thơ, Tây cũng chẳng phải Tây, mà Tàu lại cũng
chẳng phải là Tàu“ (134; quyển thượng; tr.616). Theo Thái Phỉ đọc những bài
như Tương tư chiều, Hoa đêm của Xuân Diệu “Không tìm được một chút cảm
hứng nào cả“. Và theo ông “Một khi thơ không còn gây được cảm hứng thì tốt
hơn là đừng làm thơ. Nếu làm thơ thì phải có hồn và điệu, thế thì mới đáng gọi
là thơ“ (134; quyển thượng; tr. 619).
2.2 Từ 1945 - 1985.
Sau cách mạng tháng Tám có giai đoạn do những điều kiện lòch sử nhất
đònh, Thơ mới ít được nghiên cứu rộng rãi, thậm chí có lúc còn bò phê phán
nặng nề. Thơ Xuận Diệu cũng không nằm ngoài tình trạng này. Có lúc chính
Xuân Diệu cũng đã phải tự phủ nhận mình như trong bài Dứt khoát mà ông đã
cho đăng trên Tạp chí Văn nghệ số 41 năm 1953. Nhưng nói như Lê Đình Kỵ,
đó chẳng qua là “Gặp thời thế, thế thời phải thế”.
Thơ mới nói chung, thơ Xuân Diệu nói riêng do vậy chủ yếu chỉ được đề
cập đến trong những công trình có tính chất học thuật như các bộ lòch sử văn
học, các giáo trình đại học, các chuyên luận khoa học...
Trước hết đáng chú ý là các giáo trình đại học .
Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1930 - 1945; 2 tập (1961), của trường
Đại học Tôûng hợp Hà Nội, do Bạch Năng Thi và Phan Cư Đệ biên soạn thì
Xuân Diệu được đề cập đến như là một tác giả tiêu biểu của văn học lãng mạn
giai đoạn 1936 - 1939. Trong sách này, Thơ thơ của Xuân Diệu được viết thành
một mục riêng. Bạch Năng Thi nhận xét: Thơ thơ có đem đến cho thi ca Việt
Nam nhiều cái mới: hình ảnh, táo bạo, chữ dùng cụ tượng, có sức mạnh gợi
hình, gợi cảm dễ diễn đạt những cảm giác tinh vi, những tình ý nồng nàn, rất
mới hồi ấy. Bút pháp của Xuân Diệu táo bạo đến nỗi ở thời gian đầu, người ta
chỉ trích rất nhiều“ (216; tập I; tr.157). Tuy nhiên do khuôn khổ của một giáo
trình đại học, nhà nghiên cứu chưa đi sâu phân tích một cách cụ thể những cái

Trong giai đoạn trước 1975, nhiều công trình của các nhà nghiên cứu
miền Nam cũng đề cập đến Xuân Diệu. Ở đây chỉ xin lược thuật một số.
Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
*
của Phạm Thế Ngũ (1965)
Xuân Diệu là một trong năm tác giả của Thơ mới được viết thành mục riêng
(Cùng với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Tú Mỡ). Trong phần viết về Xuân
Diệu, Phạm Thế Ngũ cho rằng Xuân Diệu đã “Tạo ra một hướng thơ thật là
mới, có thể gọi là thơ nội quan. Thi só lấy chính cái nội tâm của mình làm đề
tài“ (170; tr.572) . Theo nhà nghiên cứu, cái mới của Xuân Diệu không phải ở
thể cách mà ở ngôn ngữ: “Xuân Diệu đã nói một ngôn ngữ phá vỡ những lề
thói về trước, gây sửng sốt, gây bất bình nữa” (170; tr.574).
Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) khi viết về các
nhà Thơ mới giai đoạn sau 1932 đã chọn ba nhà thơ tiêu biểu viết thành mục
riêng là: Xuân Diệu, Thế Lữ và Hàn Mặc Tử. Trong hơn một trang in viết về
Xuân Diệu, ông khẳng đòng rằng “Xuân Diệu sống bằng cái mới, say sưa đi tìm
cái mới. Bởi thế sau khi thích Lamartine, Xuân Diệu lại yêu Verlaine, yêu
Rimbaud và tự khuôn nắn nghệ thuật của ông theo các thi nhân tượng trưng
Pháp. Ông yêu thích những hình ảnh lạ lùng, những hình ảnh đã được tạo ra do * Ở cuốn sách này (bản in năm 1969) bìa ngoài tác giả ghi là Lòch sử văn học
Việt Nam tân biên giản ước, còn ở bìa trong và các nơi khác đều ghi Việt Nam văn học
sử giản ước tân biên.
Để cho thống nhất, chúng tôi lấy tên sách theo bìa
trong (LTD)sự phối hợp mới mẻ và đột ngột giũa những hiện tượng bề ngoài xem ra đối
lập, nguyền ra nhau.

giả chưa kòp luận giải một cách đầy đủ nhận xét trên.
2.3 Từ 1985 đến nay.
Sau ngày Xuân Diệu mất (12-1985) cũng là giai đoạn đổi mới văn học
nên việc nghiên cứu Xuân Diệu được tâïp trung chú ý nhiều hơn. Một loạt các
sách chuyên khảo về Xuân Diệu đã liên tiếp được xuất bản như Xuân Diệu,
nhà thơ lớn của dân tộc, Thu Hoài - Nguyễn Đức Quyền biên soạn, Hội Văn
học Nghệ thuật Nghóa Bình xuất bản, 1986; Xuân Diệu, con người và tác
phẩm, Hữu Nhuận biên soạn, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987; Xuân Diệu
một đời người, một đời thơ, Lê Tiến Dũng biên soạn, NXB Giáo dục, 1993;
Xuân Diệu, thơ và đời Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, NXB Văn học, 1995; Xuân
Diệu tình đời và sự nghiệp, Xuân Tùng sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn, NXB
Hội Nhà văn, 1996,vv... Bên cạnh đó còn hàng chục bài nghiên cứu, hồi ức, kỉ
niệm về Xuân Diệu của các nhà thơ, nhà nghiên cứu như: Nam Chi, Huy Cận,
Hoàng Cát, Phan Huy Dũng, Lê Tiến Dũng, Hà Minh Đức, Nguyễn Lệ Hà, Tế
Hanh, Đoàn Thò Đặng Hương, Đoàn Trọng Huy, Lê Quang Hưng, Lê Đình Kỵ,
Mã Giang Lân, Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, Lữ
Huy Nguyên, Trần Đình Sử, Lưu Khánh Thơ, Lí Hoài Thu, Đỗ Lai Thúy,
Nguyễn Quốc Túy.v.v...
Tuy nhiên do những yêu cầu khác nhau, không phải bài viết nào cũng đề
cập đến cách tân nghệ thuật của tư duy thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945.
Ở đây có một số bài đáng chú ý:
Nguyễn Đăng Mạnh trong tiểu luận Tư tưởng và phong cách một nhà thơ
lớn (1987) đã tổng kết những đặc điểm tư tưởng và phong cách nghệ thuật của
Xuân Diệu trong toàn bộ sáng tác của ông. Riêng thời kì trước 1945 nhà nghiên
cứu cũng cho rằng Xuân Diệu có cái nhìn mới. Theo ông, một đặc điểm độc
đáo của thi pháp Xuân Diệu là lấy “Vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực cho
vẻ đẹp của thế giới, của vũ trụ“. Và ông cho rằng nguyên tắc mó học này “là
cả một cuộc đổi mới đáng kể trong thi ca Việt Nam hiện đại“ (155; tr.106).
Lê Đình Kỵ trong bài viết Xuân Diệu sách Thơ mới, những bước thăng
trầm (1988) cũng đã chỉ ra nhiều cách tân tư duy thơ quan trọng của Xuân

Nghệ thuật cấu tứ trong thơ tình Xuân Diệu (1994), tác giả cho rằng có những
bài “tứ thơ được đònh hình ngay từ đầu“, có bài “tứ thơ bộc lộ ở phần kết“, lại
có những bài có “tứ ngầm không bộc lộ trong bài“ (231; tr.35,36).v.v...
Có thể nhận xét một cách khái quát là việc nghiên cứu những cách tân
của Xuân Diệu đã được đặt ra từ rất sớm. Từ gần 60 năm nay các thế hệ
nghiên cứu đã đưa ra nhiều kiến giải có giá trò. Những cách tân của thơ Xuân
Diệu đã được soi rọi dưới nhiều góc độ: cái mới về nội dung, cái mới về nghệ
thuật, cái mới về cảm xúc, về hình thức biểu hiện...; từ nhiều cách tiếp cận:
lòch sử - miêu tả, thi pháp học, phong cách học,v.v...
Tuy nhiên trên bình diện tư duy nghệ thuật thơ còn ít công trình đề cập, do
việc nghiên cứu của các công trình vừa kể có mục đích khác. Những ý kiến có
đề cập chủ yếu cũng dừng ở những nhận đònh khái quát, gợi mở những cách
tiếp cận nhiều hơn là lí giải, phân tích một cách cụ thể. Do vậy chuyên luận sẽ
cố gắng đưa ra một cách nhìn toàn diện về tư duy nghệ thuật thơ của Xuân
Diệu giai đoạn trước 1945. Những ý kiến của các thế hệ đi trước sẽ được kế
thừa, bổ sung và tham khảo trong chuyên luận.
3. Đối tượng khoa học mà chuyên luận đề cập đến chính là đặc điểm của
tư duy nghệ thuật thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945. Từ đó có thể thấy được
sự vận động của tư duy nghệ thuật thơ Xuân Diệu trong quá tình cách tân thơ
Việt Nam hiện đại. Chuyên luận ít nhiều có đề cập đến những vấn đề nội dung
của thơ Xuân Diệu, nhưng chủ yếu là để làm rõ cách tư duy nghệ thuật của ông
về nội dung, chứ không đi sâu phân tích nội dung cụ thể. Ở đây chủ yếu sẽ
nghiên cứu cách thức, phương thức thể hiện, các cách thức, phương thức chiếm
lónh hiện thực của nhà thơ.
Với một đối tượng khoa học như vậy, đối tượng tác phẩm khảo sát sẽ gồm
hai tập thơ của ông đã xuất bản trong giai đoạn này là Thơ thơ, NXB Đời nay,
1938 và Gửi hương cho gió NXB Thời đại, 1945. Về văn bản, chúng tôi dựa
vào văn bản xuất bản lần đầu, khi thật cần thiết mới dựa vào các văn bản xuất
bản về sau của hai tập thơ này.
Để có cái nhìn tôûng quát hơn, ở một số phần chúng tôi khảo sát thêm

GIAI ĐOẠN 1932- 1945 TRÊN BÌNH DIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ THẾ GIỚI VÀ CON NGƯỜI.

Khi nghiên cứu sự đổi mới của một thời đại văn học hay của một tác giả
không thể không xem xét đến quan niệm nghệ thuật của tác giả đó, thời đại đó
về thế giới và con người. Bởi lẽ, nhà văn quan niệm về thế giới và con người
như thế nào thì sẽ miêu tả như thế. Có đổi mới về quan niệm nghệ thuật thì
mới có sự đổi mới trên các bình diện khác. Nghiên cứu thơ Xuân Diệu trong
tiến trình hiện đại hóa thơ Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này.
Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn theo chúng
tôi thực chất là cái nhìn của nhà văn về thế giới và con người. Mỗi nhà văn sẽ
có một cái nhìn thế giới khác nhau và do đó sẽ có một thế giới nghệ thuật khác
nhau. Do vậy, nghiên cứu quan niệm nghệ thuật sẽ chỉ ra được chiều sâu của
thế giới và con người mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Nói cách khác, nắm
được quan niệm nghệ thuật cũng có nghóa là nắm được chiều sâu và giới hạn
thực tế của tư duy nghệ thuật của một hiện tượng văn học nào đó. Từ đây có
thể giúp để giải thích các nguyên tắc nghệ thuật của một hiện tượng văn học.
Nhờ đó mà có thể thấy được những cách tân của hiện tượng văn học đó trong
tiến trình lòch sử văn học.
Vấn đề đặt ra ở đây là trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt Nam, quan
niệm nghệ thuật của Xuân Diệu có những đặc điểm gì và đã có những biến đổi
như thế nào so với thơ ca trước đó và đương thời ?
Đã có một vài ý kiến đây đó đề cập đến quan niệm nghệ thuật của Xuân
Diệu trong giai đoạn này. Những ý kiến đó thường rút gọn quan niệm nghệ
thuật của ông thânh quan niệm nghệ thuật về con người. Từ đó cho rằng quan
niệm nghệ thuật về con người trong thơ ông là con người cô đơn, con người
mộng tưởng, con người chân thành, con người khát khao sống v.v... Thật ra đó
là những đặc điểm của nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Diệu hơn là quan niệm
nghệ thuật, nghóa là hệ quả chứ chưa phải là bản thân của quan niệm nghệ
thuật.

Nhưng có lẽ nhiều hơn, cái nhìn của Xuân Diệu là một cái nhìn nghiêng
về quan niệm thế giới đổi thay. Trong quan niệm của ông hình như không có gì
là vónh cửu mà tất cả điều có thể biến dời, từ thiên nhiên cho đến lòng người;
từ cỏ hoa cho đến tình yêu. Trong bài thơ Đi thuyền ông ví cuộc đời này cũng
giống như con thuyền đang trôi, mọi vật đổi thay đến không ngờ:
Thuyền qua, mà nước cũng trôi,
Lại thêm mây bạc trên trời cũng bay;
Tôi đi trên chiếc thuyền này
Giòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi.
Cái bay không đợi cái trôi;
Từ tôi phút trước, sang tôi phút này ...
Đi thuyền.
Những cái thuộc về thế giới khách thể đổi thay trong dòng tuôn chảy của
thời gian: “thuyền qua”, mà “nước cũng trôi”, lại thêm mây bạc trên trời “cũng
bay”. Những cái thuộc về chủ thể cũng không đứng yên “Giòng mơ tơ tưởng
cũng thay khác rồi”. “Cái bay”, “cái trôi” là những phạm vi vận động khác
nhau, vận động theo quy luật tất yếu, chứ không phụ thuộc vào cái này hay cái
kia. Hình tượng “tôi phút trước” và “tôi phút này” không phải chỉ là sự phân
thân, mà ẩn chứa quan niệm đầy tính chất triết học về đổi thay: có “tôi phút
trước”, có “tôi phút này“ như những chủ thể độc lập. Bài thơ Đi thuyền tuy
ngắn, nhưng đã hàm chứa khá đầy đủ ý vò triết học trong quan niệm đổi thay
của Xuân Diệu.
Từ cái nhìn đầy tính chất triết học như vậy, cái nhìn nghệ thuật của Xuân
Diệu sẽ hướng nhiều hơn đến khía cạnh đổi thay của thế giới. Đó sẽ là những
hình tượng thơ được xây dựng từ cảm xúc về sự biến dời của thế giới, của con
người.
Ông cay đắng nhận ra sự đổi thay nơi tuổi trẻ:
Tóc ngời mai mốt không đen nữa
Tuổi trẻ khô đi, mặt xấu rồi.
Hư vô.

hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước. Chữ ta với họ rộng quá. Tâm hồn của
họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi. Đừng có tìm ở họ cái khí phách ngang
tàng của một thi nhân đời xưa như Lí Thái Bạch, trong trời đất chỉ biết có thơ.
Đến chút lòng tự trọng cần để khinh cảnh cơ hàn, họ cũng không có nữa: Nỗi
đời cơ cực đang giơ vuốt - Cơm áo không đùa với khách thơ. Không biết trong
khi rên rỉ như thế, Xuân Diệu có nghó đến Nguyễn Công Trứ, một người đồng
quận chẳng những đã đùa cảnh nghèo mà còn lấy cảnh nghèo làm vui“ (210;
tr.53).
Một cái nhìn thế giới đầy đổi thay như vậy tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả là
hốt hoảng, “vội vàng“ trong ứng xử. Thế giới đổi thay, đời người ngắn ngủi,
cho nên phải “vội vàng“. Hơn một lần Xuân Diệu đã giải thích điều này:
Men trời sực nức nên mau tạ
Biết trước cho nên đã “vội vàng“
Trò chuyện với Thơ thơ
Sự “biết trước“ mà nhà thơ nói ở đây là gì? Đó là “biết trước“ rằng “Tuổi
trẻ chẳng hai lần thắm lại” (Vội vàng), là “Mười chín tuổi chẳng hai lần hoa
nở” (Đẹp). Đó là sự “biết trước“ về một điều hiển nhiên: “Còn trời đất nhưng
chẳng còn tôi mãi” (Vội vàng)... Như vậy “vội vàng“ là “vội vàng“ của một
quan niệm, của một nhận thức, chứ không phải vội vàng của một thái độ “sống
gấp” tiêu cực như có khi người ta đã gán cho ông.
Chính quan niệm này đã tạo nên những cảm giác đầy “vội vàng“ trong
thơ Xuân Diệu. Đọc thơ ông người ta nhận ra những trạng thái của vội vàng
như: “vội vội”, “mau mau”, “mau lên”, “gấp đi”, “vụt”, “liền”, “ngay”, “vừa”,
“chốc”... tràn ngập.
Mau với chứ vội vàng lên với chứ
Giục giã
Mau đi thôi ! mùa chưa ngã chiều hôm
Vội vàng
Ôi vội vàng là những phút trao yêu
Tặng thơ

thấy thơ ông lúc nào cũng gấp gáp, lúc nào cũng hối hả: “vội dâng”, “vội
tưởng”, “vội kiếm tìm”, “vội đưa”, “vội gặp”, “vội chia xa”, “vội cả buồn vui”
(Anh vui liền nhưng lại buồn ngay - Xa cách)... Cho đến cả con người, cả cảnh
vật trong thơ ông cũng mang trạng thái “vội vàng“ đó: “Anh sắp giận. Em miûm
cười vội vã” (Xa cách), “Gió vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở” (Tiếng gió), “Thu
sang chim trắng vội bay ngừa” (Lưu học sinh), “Mây biếc về đâu bay gấp gấp”
(Thơ duyên), “Lá úa cành khô vẫn rụng dồn” (Núi xa)... Trong thơ ông không
có gì đứng yên, không có gì không vội vã. Ông triết lí rằng ngọn núi nhìn xa
tưởng đứng yên như một miếng bìa, nhưng thật ra “núi không hề đứng thản
nhiên“. Con người, sự vật cũng vậy thôi, luôn luôn gấp gáp trong vòng quay
của cuộc đời :
Lẫn với đời quay tôi cứ đi
Người ngoài không thấu giữa lòng si
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy núi yên như một miếng bìa
Núi xa.
2. Khẳng đònh hiện tại, khẳng đònh thực tại.
Ý thức về sự đổi thay, không có gì là vónh viễn sẽ dẫn đến một quan niệm
khác trong thơ Xuân Diệu là khẳng đònh thực tại, khẳng đònh hiện tại. Bởi lẽ
mọi vật, mọi sự đều biến dời, thì cái thực tại và hiện tại có ý nghóa nhất.
Mó học của chủ nghóa lãng mạn nói chung là phủ nhận thực tại, phủ nhận
hiện tại để hoặc là quay về quá khứ, hoặc hướng đến tương lai, đem lý tưởng
đối lập với thực tại.
Văn học lãng mạn Việt Nam cũng như Thơ mới nói riêng không nằm
ngoài qui luật này. Với các nhà Thơ mới, thực tại mà họ đang sống, nói như Vũ
Hoàng Chương, là chẳng qua do “đầu thai nhâàm thế kỉ“. Thi nhân muốn trốn
khỏi cái thực tại đó. Người ta trốn vào giấc mơ tiên, vào bóng giai nhân, vào
rượu, hay như Chế Lan Viên ước ao được nương vào “một tinh cầu giá lạnh,
một vì sao trơ trọi cuối trời xa” để “Nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh, Những ưu
phiền, đau khổ với buồn lo“. Cảm giác “lạc loài” hiện lên rất rõ trong Thơ mới.

Mà nhớ điều chi ? hay nhớ ai ?
Cũng không biết nữa - Nhớ nhung hoài !
Những trời xa lắm, xưa, xưa quá,
Đến nỗi trong lòng sắc đã phai.
Nhớ mông lung
Ai có nhớ những thời hương phảng phất
Hạc theo trăng, tiên còn lẫn với người;
Những thời xưa chim phượng xuống trần chơi,
Hoa cúc nở có người chờ đợi trước.
Mơ xưa
Những thoáng “mơ xưa” như thế không nhiều trong thơ Xuân Diệu. Nhiều
hơn, ông sống với “thì” hiện tại mà “ngày trước” với “mai sau” đều không
đáng kể:
Kể chi chuyện trước với ngày sau
Tình trai

Trích đoạn Những cách tađn cụa Xuađn Dieơu veă maịt theơ thơ. PHAĂN KÊT LUAƠN TÀI LIEƠU THAM KHẠO TÊ HANH Nhà thơ quaăn chúng Vaín ngheơ sô 52.1985. VŨ ĐÌNH LIEĐN ĐOÊ ĐỨC HIEƠU LEĐ TRÍ VIEÊN TRƯƠNG CHÍNH LEĐ THƯỚC Lược thạo lịch sử vaín hĩc Vieơt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status