những cách tân nghệ thuật trong thơ nguyễn quang thiều - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ LOAN
NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60. 22. 34 Thái Nguyên – Năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Đóng góp của luận văn 7
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Cấu trúc của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: NHỮNG CÁCH TÂN CỦA THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI SAU 1975
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 9
1.1. Những tiền đề lý luận 9
1.1.1. Cách tân 9
1.1.2. Cách tân nghệ thuật trong văn học 9
1.2. Vấn đề cách tân trong thơ Việt Nam hiện đại 10
1.2.1. Sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử xã hội tới việc cách tân thơ ca 10
1.2.2. Nhu cầu cách tân thơ 15
1.2.3. Về cuộc cách tân của thơ Việt Nam hiện đại sau 1975 23
1.3. Hành trình sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 30
1.3.1. Cuộc đời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 30
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác 31
1.3.3. Nguyễn Quang Thiều và khao khát đổi mới tư duy thơ 32
1.3.3.1. Quan niệm sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 32
1.3.3.2. Nguyễn Quang Thiều và những đổi mới trong cảm hứng sáng tác 36
Chương 2:CÁCH TÂN VỀ NỘI DUNG TRONG THƠ NGUYỄN QUANG
THIỀU 40
2.1. Nguyễn Quang Thiều với lớp phù sa “Châu thổ” trên dòng sông thơ Việt
Nam hiện đại 40
2.1.1. Những lời triết luận từ làng Chùa và chữ “đạo” trong thơ 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi xuất bản tập thơ đầu tiên “Ngôi nhà tuổi 17” [1990] cho tới nay,
Nguyễn Quang Thiều không chỉ dành được sự chú ý của giới lý luận phê bình văn
học mà còn dành được sự quan tâm của những độc giả yêu thơ. Việc hiểu và khám
phá con đường đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là
điều đơn giản, thế nhưng những sáng tác của nhà thơ vẫn luôn giữ một vị trí đặc
biệt trong lòng độc giả. Điều đó càng chứng tỏ sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Quang
Thiều qua những nội dung mà nhà thơ phản ánh về cuộc sống, qua những hình ảnh
biểu tượng, ngôn ngữ thơ mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều luôn nỗ lực thể nghiệm
để tạo nên phong cách riêng. Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ với
bản lĩnh và tài năng sáng tạo của mình đã và đang gieo những hạt giống “ngũ cốc”
mới trên cánh đồng thi ca văn học Việt Nam hiện đại. Hành trình sáng tạo văn
chương của Nguyễn Quang Thiều là hành trình đến với thế giới nghệ thuật mà nhà
thơ “tìm thấy những cơn mơ và sự tự do của mình” và đã có không ít tác phẩm ghi
dấu những bước thành công của nhà thơ trên cánh đồng thi ca Việt Nam hiện đại
sau năm 1975. Tuy nhiên, do yêu cầu cụ thể các công trình nghiên cứu về thơ
Nguyễn Quang Thiều mới chỉ dừng lại ở cấp độ những tiểu luận hay bài báo phản
ánh những vấn đề riêng lẻ. Việc nghiên cứu tìm hiểu “Những cách tân nghệ thuật
trong thơ Nguyễn Quang Thiều” là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa để góp phần
khắc họa rõ nét những nỗ lực và đóng góp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đối với
thi ca Việt Nam hiện đại.
Trong chương trình tiếng Việt dành cho bậc tiểu học, bài thơ “Tiếng Vọng”
của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã được Bộ giáo dục tuyển chọn và đưa vào
chương trình [SGK Tiếng Việt lớp 5, Tập 1]. Tác phẩm không chỉ có ý nghĩa giáo

Sự xuất hiện của tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” năm 1992 đã gây một làn
sóng dư luận mạnh mẽ về “Tài và tâm của người viết phê bình” [67]. Trên thi đàn
đã có không ít lời phê phán coi đó là thứ thơ “ngoại nhập”. Kiên định trong lối phê
bình “xóc óc”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho rằng: thơ Nguyễn Quang Thiều “Non
kém về mặt nghệ thuật” [43, Tr. 82], là thơ “lai căng”, “Tây giả cầy”, “Thơ dịch
xổi”, “Dịch tiếng Việt sang tiếng ta”… Ông thể hiện rõ thái độ không đồng tình
trong việc thừa nhận tinh thần nỗ lực tìm tòi, thể nghiệm đổi mới thi ca của nhà thơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Nguyễn Quang Thiều và một số nhà thơ trẻ qua hàng loạt bài viết: “ Nhân đọc
Bóng chữ, bàn về chữ và nghĩa trong thơ” [Báo Văn nghệ quân đội tháng 7/1994],
“Hát lên bằng nọc độc trong mình” [Báo Quân đội nhân dân tháng 10/1994], “Có
nên nhân danh cách tân để kêu gọi thơ trẻ nổi loạn?” [Báo Quân đội nhân dân
cuối tuần 15/4/2001], “Từ “thơ vọt trào” đến hội chứng khen trào vọt: “Cứ tiếp
tục đanh đá, lắm lời, cứ xổ hết ra đi!” [44], “…: Có thật thơ không để hiểu?:…”
[45]…Cùng quan điểm trên, Đỗ Hoàng có đưa ra nhận xét về những tác phẩm thơ
hiện đại: “Thấy thơ cũng không phải thơ, văn cũng không phải văn, dịch cũng
không phải dịch, truyền thống cũng không phải truyền thống (…) Các kiểu viết ấy
với cái tên phân thể loại là “Vô lối”” [84] và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng bị
coi là đại biểu của lối viết này.
Qua những vần thơ mang đặc điểm thi pháp hiện đại mới mẻ của Nguyễn
Quang Thiều, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Nguyễn Quang Thiều đã phá bỏ
lối đi quen, mở ra con đường mới chưa hề có” [40, Tr.171]. Đỗ Minh Tuấn coi
những nội dung mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phản ánh đã “Phát lộ tâm thức
thời đại” [61]. Mặc dù ủng hộ tinh thần đổi mới nhưng Trần Đăng Khoa và Đỗ
Minh Tuấn chưa khơi lên được mạch nguồn mỹ cảm mới mẻ, chưa nhất quán trong
việc đánh giá đặc trưng thơ Nguyễn Quang Thiều.
Trên đây là những quan điểm khá phiến diện, đôi khi chứa đầy mâu thuẫn

dòng sông” nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp đã lắng nghe
tiếng vọng từ “triền chữ” trên dòng sông thơ Nguyễn Quang Thiều và cất lên
những nhận định khá sắc sảo về hướng đi đúng đắn của sự cách tân. Đồng hành
cùng với mạch nguồn mỹ cảm trong thơ Nguyễn Quang Thiều, ông đã khái quát
những nét đổi mới trong thơ Nguyễn Quang Thiều: “Thực ra, Nguyễn Quang Thiều
đổi mới thơ ca bằng cách làm rất “cổ điển”. Với anh, đổi mới thơ ca trước hết là
đổi mới về cảm xúc.” [48, Tr. 256]. Đổi mới trên nền tảng vững chắc của thơ ca
truyền thống, Nguyễn Quang Thiều đã mang tới cho bạn đọc “Vẻ đẹp của phù xa
“Châu Thổ” trĩu nặng chất đời” và “đã để lại dấu ấn của mình trong tiến trình đổi
mới thơ ca, góp phần đưa thơ Việt Nam tiến thêm một bước nữa trên con đường
hiện đại…” [48, Tr. 266].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Khi nhận xét về những nhà thơ có ảnh hưởng lớn trong nền thơ đương đại,
Trần Vũ Khang đã khẳng định: “Nguyễn Quang Thiều phải được xem như là cái
đỉnh bất ngờ nhô lên giữa những ngọn đồi (…). Đây là giọng thơ lần đầu có mặt tại
Việt Nam, và nó được tiếp nhận đầy sáng tạo. Nó tác động mạnh tới những cây bút
thế hệ mới phía Bắc đến nỗi có thể vạch một ranh giới giữa nhóm làm thơ theo
Thiều với nhóm làm thơ khác Thiều” [70].
Thành công bước đầu của Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra tiếng vang mạnh
mẽ, sức ngân vang ấy lan tỏa bởi cảm xúc chân thành mà nhà thơ gửi gắm qua
những thể nghiệm ngôn từ đầy sáng tạo. Cùng thế hệ những nhà thơ trưởng thành
trong sáng tác sau năm 1975, nhà thơ Mai Văn Phấn nhận định: “Nguyễn Quang
Thiều đã hoàn thành sứ mệnh của thi sĩ tiên phong trong thời đại thi ca còn dày đặc
sương mù (…) Ông đã đem đến cho thơ Việt một cấu trúc thơ mới lạ, những hình
ảnh rời, xa nhau trong những kết dính mờ nhạt, tinh thần phản tỉnh mãnh liệt làm
đổ vỡ những trật tự cũ, tường minh từng góc sâu tăm tối trong ký ức mỗi người, tạo
những góc nhìn tỉnh táo, sắc lạnh vào đời sống hiện thực.” [72].

“Nghĩ về một số “Phản trường ca”” Diêu Lan Phương còn ghi nhận nỗ lực
sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều khi ông và những nhà thơ khác đã mang tới cho
thể loại trường ca sự đổi mới quí báu: “Nguyễn Quang Thiều là một trong vài nhà
thơ đương đại xuất sắc nhất. Thơ anh thể hiện một nội lực dồi dào và đầy ám ảnh.
Trong rất nhiều những thể nghiệm cách tân thì những cách tân về thể loại trường
ca là vô cùng ấn tượng” [63, Tr. 63].
Nhìn chung những bài viết này mới chỉ khái quát những nét chính trong thơ
Nguyễn Quang Thiều hoặc mới tập trung vào một số khía cạnh nổi bật trong các tác
phẩm cụ thể mà chưa đi sâu vào việc phân tích những cách tân trong thơ Nguyễn
Quang Thiều một cách hệ thống trên các bình diện nội dung và nghệ thuật. Tuy vậy
những ý kiến nhận xét, đánh giá của những người nghiên cứu đi trước là những định
hướng và gợi mở vô cùng quý giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài “Những cách
tân nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều”.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu khát quát về sự vận động của thơ ca trong tiến trình phát triển để
thấy cách tân luôn là quy luật vận động và phát triển của nền thơ Việt Nam hiện đại.
Tìm hiểu quan niệm và tư tưởng sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
thông qua những bài viết và những phát ngôn, những tiểu luận, nhận định, những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
bài báo… để hiểu bức thông điệp mà tác giả gửi gắm qua các tác phẩm – chiếc chìa
khóa đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều.
Từ việc phân tích nội dung, điệu hồn của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được
thể hiện qua các tác phẩm, luận văn khái quát về những cách tân nghệ thuật trong
thơ Nguyễn Quang Thiều. Qua đó nhằm khẳng định những đóng góp của nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều đối với nền thơ đương đại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Luận văn tìm hiểu về quan điểm sáng tác, những cảm xúc trữ tình

Quang Thiều.
- Thống kê – phân loại: để thấy tần xuất các thi ảnh, các thể loại thơ mà nhà
thơ Nguyễn Quang Thiều đã biểu đạt. Qua đó, chúng tôi chỉ ra ý nghĩa nhân sinh
được gửi gắm qua những tín hiệu nghệ thuật đó.
- Thi pháp học: Nhìn nhận thế giới nghệ thuật thơ trên cơ sở những quan
điểm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều để thấy được “Cuộc vượt biển thực sự
trong tâm hồn của nhà thơ” cũng chính là hành trình cách tân thơ ca đầy sáng tạo .
7. Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham
khảo, Nội dung của luận văn được cấu tạo thành ba chương:
Chương 1: Những cách tân của thơ Việt Nam hiện đại sau 1975 và hành
trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều
Chương 2: Cách tân về nội dung trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Chương 3: Cách tân về nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Phần kết luận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9


Theo Từ điển thuật ngữ văn học, với những nguyên tắc nhận thức hiện thực
cuộc sống, những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mới mẻ thì “Cách tân” chính là
động lực thúc đẩy sự vận động và phát triển của văn học: “Để giải quyết những
nhiệm vụ nghệ thuật do thời đại đặt ra, người sáng tác hoặc là phải hoàn thiện đổi
mới kinh nghiệm của thế hệ đi trước hoặc là phải đấu tranh chống lại những gì đã
cũ kỹ lạc hậu, phải tìm kiếm những lối đi mới. Vì thế kế thừa truyền thống và cách
tân nghệ thuật là những phương diện không bao giờ tách rời của quá trình văn học.
Những cách tân chân chính sẽ trở lại thành những truyền thống mới bồi đắp thêm
cho kho tàng kinh nghiệm đã vượt qua sự thử thách của thời gian, của những thế hệ
đi trước.” [2, Tr. 366– 367].
Có thể thấy rằng: Trong mạch nguồn lịch sử thơ ca đã có không ít những
bước ngoặt đáng ghi nhận. Đỉnh cao của văn học Trung đại với Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Du cũng chính là những tiếng thơ mới mẻ, mang đầy tinh thần nhân đạo
cất tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ trong xã hội phong
kiến và nó đã góp phần to lớn vào sự phát triển của văn học. Những năm đầu thế kỷ
XX, ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân trong dòng văn học cổ điển lại được khơi dậy
và phát triển mạnh mẽ, mở ra một cuộc cách tân nền văn học theo hướng hiện đại
chung của thế giới. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thơ Việt Nam đã
đi được một hành trình trên con đường hiện đại hóa với những cách tân đầy sáng tạo
mang đến bước tiến mới cho văn học truyền thống.
1.2. Vấn đề cách tân trong thơ Việt Nam hiện đại
Trong sự đa dạng và phong phú của các thể loại văn học, thơ là một thể loại
văn học luôn có vị trí quan trọng: “Đã hàng ngàn năm lịch sử trôi qua, tiếng thơ
vẫn là tiếng nói tươi trẻ nhất của đời sống. Vẫn luôn thiết tha khơi động đến chiều
sâu của tình cảm gắn bó với những ước mơ hoài bão, mềm mại trong mỗi niềm tâm
sự an ủi, và hào hùng trong tiếng nói ngợi ca chiến đấu.” [8, Tr. 20]. Để có được
gương mặt mang “tính hiện đại” sánh ngang nền văn học trên thế giới ngày nay thì
thơ Việt Nam đã không ít lần có sự đổi thay tạo nên những cuộc cách tân nghệ thuật
trong văn học.


một xã hội rộng lớn. Chính sự đổi thay ấy đặt ra những vấn đề được phản ánh trong
văn học cũng đa dạng hơn. Chức năng của văn học không chỉ mang tư tưởng “Văn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
dĩ tải đạo”, cái đẹp không chỉ hướng về phía đạo đức lý tưởng mà giờ nó hướng về
phía thực tại. Văn học là bức tranh hiện thực chân thành và sống động. Cùng với
việc nhà nho tài tử Tản Đà “mang văn chương ra bán phố phường” thì viết văn
được coi là một nghề để sinh sống. Đời sống của những trí thức Tây học là sản
phẩm của thời đại, họ là lực lượng cơ bản góp phần tạo nên sự chuyển đổi nền văn
học để phù hợp với thời đại. Sự thay thế lực lượng sáng tác Tây học đối với thế hệ
Hán học đã tạo nên diện mạo mới cho văn học. Đi đôi với lực lượng sáng tác là sự
xuất hiện các nhà in theo kỹ thuật hiện đại và sự bùng nổ của báo chí tạo thành động
lực thúc đẩy sự phát triển của văn học hiện đại phù hợp với nhu cầu của đời sống
văn hóa hiện đại. Bên cạnh đó, việc khảo cứu, sưu tập chú giải văn chương cổ và
phiên dịch ra nước ngoài phát triển, các quan điểm thị hiếu văn học có điều kiện
giao thoa, đời sống văn học trở nên sôi động khẩn trương. Trong bối cảnh lịch sử -
văn hóa như vậy, nó đòi hỏi một nền văn học mới có nội dung, hình thức khác hẳn
nền văn học phong kiến để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của thời đại: “Văn học
phải là văn học của những con người cụ thể và của một xã hội động” [25, Tr. 17].
Bởi vậy, hiện đại hóa văn học là một yêu cầu tất yếu và khách quan của thời đại.
Quá trình hiện đại hóa nền văn học được khởi động từ những năm đầu thế kỷ
XX cho tới những năm 1930 sau khi trải qua một giai đoạn giao thời, văn học Việt
Nam đã từng bước đi vào quỹ đạo chung của thế giới. Tới năm 1945, quá trình hiện
đại hóa nền văn học coi như được hoàn thành. Sự chuyển biến, chuyển đổi trong
văn học được bắt đầu với hai thể loại: truyện và kịch; nhưng thể loại đạt được đỉnh
cao nhất vào những năm 30 của thế kỷ là thi ca với phong trào Thơ mới. Với đặc
trưng của thể loại văn học, thơ ca thực sự là nơi ký thác những tâm tư tình cảm của
con người một cách nhanh nhất, rõ nét nhất. Tính chất thế sự được bao chùm bởi

Điện Biên Phủ [1954] hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, đất nước ta
tạm thời chia ra làm hai miền. Nhân dân giờ đây phải cùng một lúc gánh vác hai
nhiệm vụ lớn: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước
nhà ở miền Nam. Hiện thực của đời sống những năm 60 đã mang tới cho văn học
một bộ phận văn học chủ nghĩa xã hội dồi dào sức sống.
Thất bại thảm hại bởi “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, đế quốc Mỹ điên
cuồng mở “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam,
đồng thời leo thang bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
miền Nam chính thức bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền. Cuộc
tổng tiến công mùa xuân năm 1975 đại thắng lại một lần nữa khẳng định tinh thần
chiến đấu kiên cường của quân và dân ta, mang tới nền độc lập trọn vẹn trên toàn
lãnh thổ Việt Nam.
Những bước thăng trầm của lịch sử cũng chính là nguyên nhân dẫn tới sự đổi
thay của văn học nghệ thuật: “Chiến tranh không thể xem là một hoàn cảnh bình
thường của một đất nước, nhất lại là cuộc chống chọi của một dân tộc nghèo nàn,
lạc hậu, vừa thoát khỏi ách nô lệ 80 năm, với những kẻ thù vào loại lớn nhất, hùng
mạnh và tàn bạo nhất thế giới là Pháp và Mỹ. Một cuộc chiến tranh như thế tất
nhiên đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của
dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật.” [20, Tr. 18]. Hiện thực của cuộc kháng
chiến đã mang đến cho thơ ca cảm hứng sáng tạo lớn lao. Đời sống thể loại văn học
luôn có sự vận động tiến bước song hành cùng với bước tiến của lịch sử để phù hợp
với những biến đổi to lớn về đời sống tinh thần, tình cảm của nhân dân. Qua đề
cương về văn hóa Việt Nam 1943 và qua thư của Hồ Chủ Tịch gửi họa sĩ nhân
Triển lãm hội họa năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận và anh chị
em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” thì văn học Việt Nam thật sự có sự đổi thay so với
văn học trước 1945 trong sự nghiệp cứu nước. Văn học Việt Nam 1945 – 1975 là

phù hợp với tâm tư tình cảm quần chúng nhân dân trong thời đại mới.
1.2.2. Nhu cầu cách tân thơ
Những bước tiến của văn học vừa phụ thuộc vào quá trình lịch sử xã hội vừa
tuân theo những quy luật phát triển riêng. Thơ ca là thể loại chịu ảnh hưởng rõ nét
những thay đổi trong đời sống tinh thần của con người, đó cũng là một trong những
thể loại tiên phong của mọi cuộc cách tân văn học. Từ những thay đổi trong mạch
nguồn cảm xúc, cái tôi trữ tình lại được trỗi dậy phá tung khuôn khổ của hệ thống
thơ cũ và mở ra những cách thể hiện khối tình mới trong thời đại mới. Khi tìm hiểu
truyền thống thơ ca dân tộc ta thấy: thơ ca dân tộc luôn có sự vận động không
ngừng và luôn ẩn chứa những yếu tố đổi mới đặt nền tảng cho quá trình “hiện đại
hóa” nền văn học.
Văn học cổ điển Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc quan niệm văn học của
Nho gia cùng với chế độ khóa cử phong kiến khắt khe. Văn học của Nho giáo chính
thống là một thứ văn học “chí thiện”, phải hoàn toàn phù hợp với những tiêu chuẩn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
đạo đức. Tuy nhiên “Lịch sử phát triển của xã hội không đóng khung trong sự quy
định của Nho giáo. Do sự thiếu hụt và mâu thuẫn trong nội dung học thuyết, ngay
trong quá trình tồn tại và độc tôn của nó, Nho giáo đã từng bị phê phán từ nhiều
phía. Văn học muốn phát triển, phải tìm mọi cách phá vỡ các khuôn khổ cứng nhắc
của tính quy phạm Nho giáo.” [27, Tr. 133]. Cho nên “để nói những cảm xúc rất
riêng tư, những sự việc rất độc đáo, như nhiều trường hợp của bài thơ tức cảnh,
ngẫu hứng trong các thi tập vẫn tìm cái hay trong giữ vững khuôn sáo, tìm cái tân
kỳ trong sự gọt rũa khuôn sáo. Vì có thế mới là hay chữ, mới là văn chương” [26,
Tr. 48]. Có thể thấy rằng: Nhu cầu đổi mới văn chương đã được manh nha từ cuối
thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với những nhà thơ luôn muốn bộc lộ cái “Tôi” cá
nhân của mình: “Nó là cái dục vọng tràn trề, cái oán hờn sôi nổi trong Cung oán
ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, là mối tình đắm say lãng mạn của Phạm Kim và

hiện lên đầy đủ với tư cách “cái tôi” cá thể hóa, làm nên tính hiện đại của thơ ca
truyền thống. Con người không chỉ biết hi sinh nhẫn nhục, cam chịu mà đã có ý
thức về phẩm giá, nhân cách của mình. Tư tưởng này như luồng gió mới thổi trong
thơ trung đại để thắp lên ngọn lửa lòng trong thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát…
Thương mình còn là cơ sở để thương người! “Chính quan niệm về nhân cách đã
làm thành trụ cột cho thơ trung đại. Sự thay đổi của thơ bao giời cũng gắn liền với
sự thay đổi của quan niệm về nhân cách. Các yếu tố hình thức chịu sự quy định của
quan niệm về nhân cách, sẽ thay đổi tương ứng.” [15, Tr. 599]. Ở thời đại Nguyễn
Du và trước đó hàng nghìn năm, con người chưa bao giờ được xem như một cá thể
có nhân cách. Con người trong nho giáo được quan niệm như một công cụ của luân
lý và cương thường phong kiến, có nghĩa vụ “ép mình trở về với lễ” (khắc kỉ phục
lễ) tức là trở về với bổn phận, với trật tự đẳng cấp phong kiến, thủ tiêu mọi khát
vọng nhân bản nhất của con người. Nguyễn Du đã rọi những tia nắng của buổi bình
minh nhân đạo chủ nghĩa lên con người và phát hiện ra nét đẹp trong con người
phong kiến cương thường đó. Do sự chế ước của thời đại mình, nhân vật của ông
cũng hoạt động trong những phạm trù trung hiếu tiết nghĩa phong kiến, nhưng giấu
dưới cái vỏ ngoài hợp pháp đó là một sự đổi mới đáng trọng: “Trí tuệ của trái tim
cho nhà nghệ sĩ một năng lượng khổng lồ để vượt lên những tầm cao không ngờ,
vượt qua tầm nhìn của nhiều người đương thời.” [15, Tr. 256]. Qua “Truyện Kiều”
Nguyễn Du đã mang tới sự đổi mới về cả tư tưởng và nghệ thuật tạo nên kiệt tác

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
toàn bích bằng thơ lục bát có một không hai trong lịch sử văn học dân tộc với ngôn
từ trau truốt và trong sáng.
Thực tế lịch sử đã chứng minh “Nội sinh như là động lực của hiện đại hóa
thơ ca Việt Nam”. Điều đó nói lên quy luật phát triển ngàn đời của thơ ca: Sự đổi
mới thơ luôn bắt đầu từ cảm xúc và sau đó dẫn tới sự đổi mới của hình thức thể loại
để phù hợp với nội dung mới; đồng thời nó khẳng định việc phát triển của thơ ca

Cuộc cách tân với mạch nguồn tình cảm phong phú hướng tới những ngả
đường thơ mới mẻ buộc người nghệ sĩ phải lựa chọn: “hoặc cách tân dần dần nền
văn học truyền thống để đi tới văn học hiện đại, hoặc học tập văn học cận hiện đại
phương Tây theo hệ thống thể loại của nền văn học ấy để xây dựng nền văn học
mới” [25, Tr. 207]. Điều này không làm mất đi những giá trị của văn học cổ điển
mà nâng giá trị ấy lên tới tầm hiện đại. Đổi mới trên cơ sở của văn học truyền thống
là nền tảng vững chắc của mọi cuộc cách tân.
Ở khuynh hướng thứ nhất, lớp nhà nho duy tân Phan Bội Châu và Tản Đà đã
có những cách tân thể loại đáng kể đưa văn học truyền thống từng bước đi vào quỹ
đạo hiện đại hóa. Phan Bội Châu đã tạo ra đời sống sôi động trong văn học, góp sức
vào công cuộc hiện đại hóa văn học nước nhà khi ông cách tân thể loại để đáp ứng
nhu cầu cổ động, tuyên truyền phục vụ cách mạng bằng những tình cảm chân thành
đầy nhiệt huyết. Là nhà thơ tiêu biểu của văn học giai đoạn giao thời, là “viên gạch
nối” của hai nền văn học cũ và mới, Tản Đà đã ca lên những âm điệu mới đầy rẫy
hồn thơ và mang đến một “cơn gió lạ” trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại.
Những bước đi phá cách của Tản Đà về mặt nội dung và hình thức là bệ phóng cho
sự ra đời của phong trào Thơ mới: “Từ ưu thế của cộng đồng trong lâu dài của lịch
sử, ta thấy rõ Tản Đà đã thực hiện được một sự cách tân thật đáng kể, trong những
năm hai mươi của thế kỷ XX. (…) Như một đòi hỏi giải phóng và như một nhu cầu
phát triển, cái tôi ấy ở Tản Đà đã phản ứng lại mọi câu thúc, kiềm tỏa, bóp nghẹt
của hoàn cảnh bằng sự tung hoành trên những giới hạn thật phóng khoáng của
không ít đam mê, khát vọng” [55, Tr. 77]. Cách tân trên những thể thơ truyền thống
của dân tộc, Tản Đà đã đóng góp cho văn học Việt Nam một sức sống mạnh mẽ
trước sự ảnh hưởng của văn học nước ngoài.
Ở khuynh hướng thứ hai, những trí thức tân học đẩy mạnh tiến độ hiện đại
hóa văn học tạo nên một cuộc “cách mạng” ghi dấu “một thời đại trong thi ca”. Sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20


21
pháp mới, một kiểu trữ tình mới, phân biệt và thay thế cho trữ tình cổ điển truyền
thống.” [10, Tr. 148].
Nối tiếp thành quả của vị chủ tướng Thế Lữ – Người mở đầu cho phong trào
Thơ mới là những đóng góp đáng kể của thế hệ trí thức Tây học trẻ tuổi. Bằng tài
năng độc đáo của mình, mỗi nhà thơ luôn tạo nên thế giới nghệ thuật thơ với những
cách tân đầy sáng tạo. Tiêu biểu là nhà thơ Xuân Diệu – Nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới. Những cách tân mới mẻ được tái tạo trên cơ sở của truyền thống đã
mang tới cho thơ của Xuân Diệu “một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn
non nước lặng lẽ này” [5, Tr. 106]. Đóng góp của Thơ mới là những tư tưởng thẩm
mỹ mới được xây dựng trên chất liệu quen thuộc của thơ ca bác học truyền thống và
thơ ca dân gian truyền thống: “Về mặt thi pháp trên thi đàn Thơ mới, thơ Nguyễn
Bính có thể coi là Một cách tân. (…) Ông là nhà thơ đầu tiên trên thi đàn thơ hiện
đại của thế kỷ này đã dùng hình thức của thơ ca dân gian (đặc biệt của ca dao, dân
ca) để chuyển tải nội dung thẩm mỹ của Thơ mới.” [32, Tr. 26].
Ý thức khẳng định cái tôi cá nhân, tự do thể hiện cảm xúc nội tâm khiến cho
các nhà thơ nỗ lực hết mình trong việc tìm tòi thể thơ, ngôn từ để diễn tả đúng
những rung động tinh tế của tâm hồn. Bởi vậy, Các nhà thơ đã mang tới cho thơ
một trường thi ngôn từ gợi cảm, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. Thơ mới mở rộng
thể tài ở mọi góc độ, luôn có sự giao thoa giữa các thể loại văn học và hình thành
những nhóm nhà thơ mang khuynh hướng sáng tác riêng (nhóm nhà thơ thiên về
mảng đề tài thôn quê, nhóm nhà thơ thiên về mảng thơ điên, thơ tượng trưng, siêu
thực…). Sự đa dạng trong phong cách sáng tạo là sự phản ánh tính chất sôi động
của cuộc sống đô thị Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Tính chất phức tạp của thời đại được phản ánh vào trong thơ ca đã tạo nên
cuộc giao tranh đầy sắc màu. Sự bừng ngộ về cái tôi cá nhân trên phương diện triết
học và xã hội đã gây một trấn động lớn trong đời sống tinh thần người Việt thế nhưng
trong xu thế vững bền của đạo lý phong kiến cùng với những chính sách nô dịch của
chủ nghĩa thực dân thì cái tôi cá nhân ấy lại không duy trì được vị trí của mình: “tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status