Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986-2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy - Pdf 26




TÌM HIỂU MỘT SỐ CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KỲ 1986-2006 ( NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THÚY) LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI – 10/2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH HỒNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KỲ 1986-2006 ( NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH THÚY) CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 34
1.1.3. Cốt truyện có cấu trúc lỏng: 27
1.2. Những đổi mới trong kết cấu truyện ngắn 30
1.2.1. Kết cấu đảo lộn thời gian của sự kiện 33
1.2.2. Kết cấu tâm lí: 41
1.2.3. Kết cấu mở (Kiểu kết thúc để ngỏ) 45
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN
VẬT 48
2.1. Sự phong phú của thế giới nhân vật: 51
2.1.1.Nhân vật lý tưởng 51
2.1.2.Nhân vật tha hóa 56
2.1.3. Nhân vật bi kịch 58
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 63
2.2.1.Không gian nghệ thuật trong việc khắc họa tính cách nhân vật 63
2.2.2. Đối thoại và độc thoại nội tâm 67
2.2.3.Nghệ thuật miêu tả tâm lý 72
CHƯƠNG 3: NHỮNG CÁCH TÂN TRÊN PHƯƠNG DIỆN GIỌNG ĐIỆU VÀ
NGÔN NGỮ 77
3.1. Giọng điệu: 77
3.1.1.Giọng hài hước, châm biếm, mỉa mai: 78
3.1.2.Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm 80
3.2.Ngôn ngữ: 82
3.2.1.Những đặc trưng nghệ thuật trong ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư: 82
3.2.1.1.Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ: 82
3.2.1.2.Tính nhip điệu trong văn Nguyễn Ngọc Tư 84
3.2.2.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn
Thị Thu Huệ 87
3.2.2.1.Ngôn ngữ đời thường 87
3.2.2.2. Ngôn ngữ có tính cá thể hóa cao độ 88
3.2.3.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Đỗ Bích
Thúy 91

sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên”. [Tr7, 71]
Vì vậy, khi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật
của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 -2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc
Tư, Đỗ Bích Thúy) chúng tôi muốn bước đầu nhận diện một số cách tân của thể
loại truyện ngắn, qua đó có những nhìn nhận chung về tiến trình đổi mới của văn
học nước nhà.
1.2. Lâu nay, văn học Việt Nam đa số là văn học của nam giới. Người phụ nữ
cũng xuất hiện trong lực lượng sáng tác nhưng nó còn rất mờ nhạt và chưa tạo được
dấu ấn riêng. Bước vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986, các cây bút nữ ngày càng thể hiện rõ thế mạnh của mình trong lĩnh vực văn
chương. Bên cạnh các cây bút sáng tác từ trước 1975, các gương mặt nữ như Y Ban,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai,
Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy đã xuất hiện….Nhiều tác phẩm
của họ vừa ra đời đã gây được sự chú ý của dư luận, tạo được dấu ấn trong đời sống
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

3
văn học như Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y
Ban), Kịch câm, Hoa muộn (Phan Thị Vàng Anh), Cánh đồng bất tận (Nguyễn
Ngọc Tư)…Nhiều tác giả đoạt giải cao trong các cuộc thi truyện ngắn như báo Văn
nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, cùng với đó là hàng loạt những tuyển tập bước
đầu định hình những phong cách khiến độc giả không thể không ghi nhận và hi
vọng về tương lai văn học của những cây bút này. Ở góc độ của người phụ nữ sáng
tác văn học, từ quan niệm về nghề, quan niệm về thiên chức của người cầm bút các
nhà văn nữ thời kỳ này đã đem đến cho văn chương những cảm hứng và giọng điệu
mới. Trong các sáng tác của các nhà văn nữ, ta luôn tìm thấy những âm hưởng của
thời đại chúng ta đang sống. Họ tỏ ra áp sát hiện thực đời sống một cách trực diện
và thẳng thắn khi nhìn nhận mặt trái của hiện thực. Có thể nhận thấy sự sắc sảo và
sâu sắc khi khái quát và tiếp nhận đề tài thế sự đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái
bằng lối viết “dịu dàng, bén ngọt, riết róng và đồng cảm chia sẻ với những thân

rộng lớn của những vấn đề lịch sử xã hội và cộng đồng thì cách nhìn tiểu thuyết là
cái nhìn tập trung, xoáy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng như mối
quan hệ cá nhân – xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định giá trị nhân văn
[tr54,4]. Nhà nghiên cứư Nguyễn Thị Bình cũng cùng chung nhận định: “Văn xuôi
sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước chuyển đổi kinh tế, giao lưu văn hóa
nhiều chiều. Ý thức cá nhân được sự cổ vũ của cơ chế thị trường trỗi dậy mạnh mẽ.
Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu
cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ nhập cuộc của nhà văn.
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc hội thảo
quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế, nhà
lí luận Lê Ngọc Trà nêu ra 3 đặc điểm của văn học sau 1986. Đặc điểm nổi bật theo
ông là tính chất phê phán. Đặc điểm thứ hai là tinh thần phân tích xã hội và sự
chiêm nghiệm lại lịch sử. Đặc điểm thứ ba là sự trở lại với đời thường, với những số
phận riêng.
Có thể nói, các nhà nghiên cứu đã có sự thống nhất khá cao về những đặc
điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 – 2006.
Về đổi mới thi pháp. Tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách sâu rộng các
vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài nghiên cứu gần đây đã nhấn
mạnh vào một số hình thức biểu đạt của tác phẩm như: Sự suy giảm vai trò cốt
truyện, sự đa dạng trong hình thức kết cấu tác phẩm, tính chất đa thanh trong nghệ
thuật trần thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật…Từ đó các nhà nghiên cứu
bước đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia tăng tính đối thoại của tự sự
đương đại trước các vấn đề hiện thực và lịch sử.
* Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 – 2006
Không được coi là thể loại chủ đạo trong đời sống văn học như tiểu thuyết,
nhưng khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn giai đoạn 2006 không hề thua
kém phương thức tự sự cỡ lớn này. Trước sự chín muồi của đội ngũ các cây bút đã
có thành tựu và sự nở rộ của lớp các nhà văn mới 1986 – 2006 được coi là một
trong những giai đoạn hoàng kim của lịch sử truyện ngắn Việt Nam. Nhà nghiên
cứu Bùi Việt Thắng khẳng định: “Nhìn tổng thể, truyện ngắn 1975 – 2000 vượt trội

truyện ngắn triết luận (Tâm tưởng của Bùi Hiển, Sống mãi với cây xanh của
Nguyễn Minh Châu…). Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học nói chung và
thể loại truyện ngắn nói riêng, truyện ngắn nữ cũng có những thành tựu đáng ghi
nhận[34].
2. 2.Truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986
Văn học Việt Nam thời kỳ phong kiến, dường như ít thấy xuất hiện bóng dáng
của các cây bút nữ. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do điều kiện lịch
sử, dưới chế độ phong kiến hà khắc, người phụ nữ bị bó buộc bới luật tam tòng tứ
đức, bị phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy, người phụ nữ chủ yếu quẩn quanh với các
công việc của gia đình mà không có cơ hội được tiếp xúc và tham gia các hoạt động
xã hội. Điều đó đã hạn chế sáng tác của nữ giới và khiến họ vắng bóng trên văn đàn
dân tộc.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

6
Bước sang thế kỷ XX, người phụ nữ bắt đầu có tiếng nói trên các diễn đàn và
báo chí như Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm…tuy nhiên sáng tác của các chị
còn rất thưa thớt, chủ yếu là ở lĩnh vực thơ ca.
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kỳ mới. Từ đây bắt đầu
xuất hiện các cây bút nữ: Thanh Hương, Lê Minh, Nguyễn Thị Như Trang, Minh
…Đội ngũ các nhà văn nữ tiếp tục phát triển qua thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Vũ
Thị Thường, Nguyễn Ngọc Tú, Lê Minh Khuê, …Tuy nhiên, dường như tiếng nói
của họ chưa thực sự lớn mạnh.
Những năm sau chiến tranh, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, văn học Việt Nam
khởi sắc với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ. Ngày càng nhiều những gương
mặt nữ xuất hiện và chiếm ưu thế đã tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn. Các giải thưởng
truyện ngắn liên tiếp được trao cho các cây bút bữ là bằng chứng rõ nét nhất về điều
đó. Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ và Chuyện một người đàn bà giành giải nhất
cuộc thi năm 1990. Kết thúc cuộc thi năm 1992-1994 của tạp chí Văn nghệ Quân
đội, Nguyễn Thị Thu Huệ đã giành giải nhất với Hậu thiên đường và Mùa đông

Không chỉ có những khám phá mới về nội dung mà các cây bút nữ còn có
những cố gắng trong tìm tòi nghệ thuật nhằm xây dựng cho mình một phong cách
riêng: Y Ban với chất giọng nữ trầm trong văn chương, Võ Thị Hảo có lối viết pha
màu sắc huyền thoại, Nguyễn Ngọc Tư với lối viết văn đậm màu sắc Nam Bộ, Đỗ
Bích Thúy với những tác phẩm văn chương đậm tính chất vùng miền…Tất cả đã tạo
nên diện mạo của truyện ngắn đương đại với những tác phẩm rất tiêu biểu của nữ
giới.
2.3 .Tình hình nghiên cứu về các tác giả
Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ 1986-2006, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy là những cây bút có tên tuổi. Số lượng các bài
viết, những công trình nghiên cứu về các tác giả này rất nhiều. Những công trình đó
đã đánh giá được tài năng cũng như những đóng góp của họ trong nền văn học dân
tộc.
2.3.1. Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966. Quê quán: Xã Thạch Phong,
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Trú quán: Hà Nội. Tốt nghiệp đại học tổng hợp Hà
Nội, khoa ngữ văn. Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được rất nhiều
thành công khi tuổi đời còn khá trẻ:
- Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội 1986
- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong 1993
- Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội 1994
- Tặng thưởng Hội nhà văn 1994
Tác phẩm: Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã ra mắt bạn đọc bốn tập truyện
ngắn: Cát đợi, Hậu thiên đường,Phù thủy, Nào ta cùng lãng quên.
Xuất hiện không lâu, Nguyễn Thị Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi
giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ 5 (1992-1994) do Tạp chí văn nghệ
quân đội tổ chức với hai truyện ngắn Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp. Không
dừng lại ở các giải thưởng, chị tiếp tục khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác
có giá trị khác.
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, đặc biệt là

Huệ: Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, còn muốn nói nhiều, nói hết trong
truyện”.Ngoài ra, các tác giả khác cũng có những bài nghiên cứu sâu sắc đến hiện
tượng văn học này như: Những truyện ngắn hay (Lý Hoài Thu- Tạp chí văn nghệ
quân đội 12/1993), Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ
(Dương Quỳnh Trang- tạp chí văn nghệ quân đội,6/1994), Đọc hồi ức binh nhì và
Bến trần gian (Kim Dung- Tạp chí Văn nghệ quân đội, 11/1994), Những ngôi sao
nước mắt (Đoàn Thị Đặng Hương- Văn nghệ trẻ, 25/3/1996), Thi pháp truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (Hồ Sỹ Vịnh-Báo Văn nghệ, 8/2002)…Nhìn chung, qua
các bài viết, Nguyễn Thị Thu Huệ được đánh giá là một cây bút có tài năng trong
việc khám phá và nắm bắt hiện thực một cách nhạy bén, có giọng văn linh hoạt,
uyển chuyển.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

9
2.3.2.Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau trong một
gia đình nghèo. Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu nghiệp viết văn khá sớm tại làng quê và
gặt hái nhiều thành công trong nghề viết của mình. Chị đã lập gia đình với một thợ
kim hoàn. Hiện, cùng chồng con cư ngụ tại thành phố Cà Mau, làm phóng viên cho
tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau và Hội văn học nghệ thuật Cà Mau.
Trong đời thường, Nguyễn Ngọc Tư có vẻ ngoan hiền, thích cuộc sống đơn
giản, nhưng lại có một cuộc sống nội tâm khá phong phú và bí ẩn. Trong văn
chương, Nguyễn Ngọc Tư thường ví truyện của mình như trái sầu riêng, nhiều
người thích nhưng cũng có nhiều người lại dị ứng.
Tác phẩm chính đã xuất bản:
- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện. NXB Trẻ-2000)
- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi. NXB Trẻ. 2001)
- Giao thừa (Tập truyện trẻ.2003)
- Biển người mênh mông (Tập Truyện. NXB Kim Đồng.2003)
- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí. NXB Văn nghệ. TPHCM)

Báo Tiền phong, ra ngày 31/1/2006 có bài đánh giá về văn Nguyễn Ngọc Tư:
Văn phong giản dị, ngôn ngữ truyện cứ như được kê vào từ đời thường, nhưng
chính những nỗi đau của những kiếp người, những số phận nhỏ bé ở một vùng quê
nghèo và triểt lý nhân quả của cuộc đời làm nên sức ám ảnh lớn cho truyện (Phan
Lâm).
Báo tuổi trẻ, số ra ngày 30/1/2005với bài viết Im lặng thế đấy, tác giả Đỗ
Hồng Ngọc đã nhận xét: Người đọc bất ngờ trước những kiếp người, phận người
hôm nay, tại đây như trong truyện kể, và bất ngờ trước một văn bút khác lạ của
người viết truyện. Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào những vỉa tầng cuộc sống
của những vùng đất cô sống và viết văn. Dữ dội và nhân tình, văn Tư bắt đầu là
như thế.
Trong bài Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư, điềm đạm mà
thấu đáo, nhà văn Dạ Ngân đã không tiếc lời khen ngợi khả năng vận dụng ngôn
ngữ của Nguyễn Ngọc Tư: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời. Tôi thấy phương ngữ
mà Ngọc Tư đưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn
liếng chung của ngôn ngữ quốc gia. Những người bẩm sinh có tài năng lớn thì họ
mới làm được cái đó chứ! Nó tự nhiên như không thôi! Thả cái chữ ra thì đúng là
cái chữ đó thôi không phải cái chữ nào khác”. Như vậy, theo đánh giá của nhà văn
Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ biết trân trọng, vận dụng những giá trị văn
hóa đặc trưng đã có của vùng miền, của dân tộc, chị còn chủ động sáng tạo và đóng
góp một cách có ý thức những giá trị văn hóa mới, những cách dùng ngôn ngữ mới,
làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Ở góc độ ngôn ngữ, tác giả Văn Công Hùng phần nào cũng chung cảm nhận
với nhà văn Dạ Ngân khi viết: “Các câu thoại cũng thế. Đầy bất ngờ và lí thú, đậm
đặc bản sắc Nam Bộ. Đậm đặc tới mức dẫu chưa một lần tới Nam Bộ cũng thấy rõ
nó hiện ra mồn một khi đọc văn Nguyễn Ngọc Tư. Chất Nam Bộ ấy ẩn chứa trong
tâm hồn những con người sống ở nơi tận cùng của Tổ quốc, phóng khoáng và nhân
hậu, thẳng thắn, trung thực hết mình trong đời sống…Số phận cột họ vào mảnh đất
này và sống chết với nó một cách dung dị, cương trực”[tr15, 62]


không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh
phục bở những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.[tr8,58]
Cái lạ mà Trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với cảm giác về
cái lạ mà nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thúy. Trong bài Cái duyên và sức
gợi của hai giọng văn trẻ, nhà nghiên cứu Chu Lai viết: “Đọc Thúy, người ta có
cảm giác như được ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó
tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của
con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng
đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng, mần tang, của những nét ăn, nét
ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng
“giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

12
những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của
bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc
nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ…” [Tr102,65]
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Linh Giang khi nghiên cứu tìm hiểu tiểu thuyết
Bóng của cây sồi đã nhận thấy những nét đặc sắc trong văn phong của Đỗ Bích
Thúy: Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được
gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới
lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện
mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay
tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả
thiên nhiên và đời sống của miền đất cực bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm
nổi trội của tiểu thuyết này.
Trong văn chương, Đỗ Bích Thúy cũng không quá ồn ào, những câu văn của
chị như những dòng chảy ký ức, mãnh liệt và bản năng
*Tóm lại: Chúng tôi nhận thấy có nhiều ý kiến phê bình, nghiên cứu về những
đổi mới, những cách tân nghệ thuật trong tác phẩm truyện ngắn của các tác giả

Chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến các bài nghiên cứu của các tác giả trong
lĩnh vực lí luận văn học: lý luận về truyện ngắn, lý luận về hình tượng như Phan Cự
Đệ, Phương Lựu, Bùi Việt Thắng…góp phần tạo dựng cơ sở khoa học cho vấn đề
này.
3.2. Chọn đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một
số cây bút nữ thời kỳ 1986-2006 ( Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ
Bích Thuý), chúng tôi tìm hiểu ở ba phương diện:
- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện kết cấu và tính huống truyện
- Sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật
- Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật ( Ngôn ngữ và giọng điệu)

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương
pháp sau:
4.1. Phương pháp hệ thống:
Những cách tân nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thuý
trên các phương diện: quan niệm nghệ thuật, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, trần
thuật…cần được nhìn nhận một cách hệ thống. Mỗi phương diện là một tiểu hệ
thống riêng nằm trong hệ thống lớn là toàn bộ sáng tác của các tác giả nữ trên.
Đồng thời, phải đặt sáng tác của các tác giả nữ ấy trong hệ thống chung của văn học
Việt Nam để thấy vị trí và đóng góp riêng của các tác giả trong tiến trình đổi mới,
hiện đại hoá văn học nước nhà.
4.2. Phương pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự đổi mới
nghệ thuật qua từng chặng đường truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý. Đồng thời, chúng tôi tiến hành so sanh tác phẩm
của các tác giả nữ đó với nhau và với các nhà văn khác trong cùng thời kỳ để ghi
nhận đóng góp của họ cho sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU
1.1.Cốt truyện và sự mở rộng dung lượng hiện thực
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó,
thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác
phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không
gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con
người”[Tr385,13]. Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và
hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về
một cái gì đó. Cho nên, tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Điểm khác biệt
cơ bản giữa tác phẩm tự sự và tác phẩm trữ tình chính là yếu tố cốt truyện. Vì vậy,
ta có thể khẳng định cốt truyện trong tác phẩm tự sự chiếm một vị trí vô cùng quan
trọng góp phần hình thành nên đặc trưng của thể lọai.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “cốt truyện là hệ thống các sự kiện cụ thể,
được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ
bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự
sự và kịch [13].
Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ. Một mặt,
cốt truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự
tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật, mặt khác, cốt truyện còn là phương
tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội. Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ có hiệu
quả đặc điểm mỗi tính cách, tổ chức tốt hệ thống tính cách, lại vừa trình bày một hệ
thống sự kiện phản ánh chân thực xung đột xã hội, có sức mạnh hấp dẫn và lôi cuốn
người đọc.
Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp. Trong thực tế văn học, cốt truyện các
tác phẩm hết sức đa dạng, kết tinh truyền thống dân tộc, phản ánh những thành tựu
văn học của mỗi thời kỳ lịch sử, thể hiện phong cách, tài năng nghệ thuật của nhà
văn [Tr100. 13].
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân lại đưa ra quan niệm khác về cốt truyện: “Cốt
truyện là một phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, nó chỉ lớp biến cố của

những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả
cuộc đời của thảo mộc [Tr332, 9]. Hay nói một cách cụ thể hơn: “Khác với tiểu
thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện
ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất
trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâm hồn con người”[Tr31, 18]. Do vậy,
hướng tiếp cận và cách thức lựa chọn, xây dựng cốt truyện của truyện ngắn cũng có
những đặc trưng riêng. Được quan niệm “là một hệ thống các sự kiện phản ánh
những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật,
qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của
chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng của tác phẩm[33], cốt truyện truyện ngắn
có nhiều biểu hiện đa dạng và phong phú thể hiện những chức năng, giá trị khác
nhau trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của thể loại.
Nguyễn Minh Châu đã nhấn mạnh vai trò của cốt truyện: “Trong những
truyện ngắn hay, bao giờ người viết cũng biết lợi dụng cốt truyện để tạo độ căng”
[Tr 230, 34]. Nhà văn Ma Văn Kháng khi viết truyện ngắn có nhận xét: “Với tôi,
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

17
theo một thói quen đã trở thành thông lệ, trước hết hiển nhiên là phải có được một
cốt truyện” Gớt cũng đã đề cao vai trò của cốt truyện trong sáng tạo truyện ngắn:
“Đúng vậy, còn gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó cả nền lí luận nghệ
thuật sẽ còn ra gì nữa? Nếu cốt truyện không dùng được thì tài năng cũng sẽ lãng
phí vô ích. Và chính vì nghệ sỹ hiện nay không có những cốt truyện xứng đáng nên
tình hình nghệ thuật hiện đại mới bi đát như thế.
Để tạo nên sức sống bền lâu cho thể loại, nhà văn phải luôn có ý thức cách tân
và sáng tạo trong lao động nghệ thuật, công việc đó, “xét đến cùng là sự cải tạo các
phương thức tổ chức nghệ thuật của tác phẩm, phản ánh những thay đổi trong
phạm vi và tính chất của mối quan hệ con người – thực tại[6]. Hơn nữa, trong văn
học thời kỳ đổi mới, cả nhà văn và độc giả đều có nhu cầu cao hơn trong sáng tạo
và cảm thụ nghệ thuật, muốn nhận thức, khám phá cuộc sống “ở bề chưa thấy, ở cái

hưởng chủ đạo là ngợi ca, khẳng định. Truyện ngắn giai đoạn này cũng đã hướng
tới cốt truyện tâm lý, phản ánh vẻ đẹp nội tâm của con người nhưng chưa có nhiều
trang thể hiện sâu sắc diễn biến tâm lý và cái tôi nội cảm của nhân vật. Sau 1975,
nhất là trong những năm gần đây, thực tiễn văn học đã chứng minh cái tạo nên sức
hấp dẫ lôi cuốn của truyện ngắn không chỉ là “những cốt truyện rạch ròi, những sự
kiện trọng đại, những tình huống căng thẳng, những xung đột bên ngoài, mà còn là
những cảnh ngộ đời thường, những tính cách nhân vật giàu tâm trạng và nhận thức
cá nhân với cuộc đời và những người sống bên mình”[73]. Cốt truyện đã vận động
đổi thay trong sự phát triển của thể loại. Xuất hiện những cốt truyện đầy kịch tính,
những cốt truyện giàu tâm trạng, cốt truyện có đầu có cuối, cốt truyện “vô hậu”, phi
kết cấu, có cốt truyện phản ánh hiện thực đương đại, có cốt truyện ảo, cổ tích. Với
khả năng biến hóa linh hoạt trong cách xây dựng cốt truyện, truyện ngắn là thể loại
thuận lợi để biểu đạt một cách tự nhiên, cụ thể những nỗi niềm, những tâm sự thầm
kín, đầy bí ẩn của con người.
Truyện ngắn phát triển đa dạng cùng với sự nổi trội hình thức như truyện ngắn
kỳ ảo, giả lịch sử, nhại cổ tích, truyện ngắn dòng ý thức. Truyện ngắn kỳ ảo là đi
sâu khám phá thế giới tinh thần hết sức trừu tượng khó nắm bắt của con người để từ
đó thấu hiểu con người ở phần nhân tính mơ hồ huyền diệu ấy. Truyện ngắn giả lịch
sử là dùng chất liệu lịch sử làm cái vỏ nghệ thuật để truyền những thông điệp về
hiện tại. Truyện ngắn dòng ý thức (tâm trạng) với đặc điểm phi cốt truyện: Truyện
ngắn không kể lại được bởi không có cốt truyện tiêu biểu, nếu có là cốt truyện bên
trong, cốt truyện tâm lý phản ánh trạng thái tâm lý điển hình của nhân vật.
Bằng cách diễn đạt khác với những phương thức thể hiện đa dạng vừa truyền
thống vừa hiện đại, truyện ngắn trong một thời gian không dài đã làm được nhiều
vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm. Truyện ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể trong xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong
sáng tạo ngôn từ. Tiểu thuyết là cái nhìn tập trung xoáy sâu vào những vấn đề của
con người cá nhân cũng như mối quan hệ của cá nhân và xã hội trên hành trình tìm
kiếm và khẳng định những giá trị nhân bản, nhà văn chú ý vào số phận, tính cách
của nhân vật mà soi chiếu lại lịch sử xã hội để khơi gợi những vấn đề triết lý nhân

hoặc nhiều đường dây sự kiện đan xen và bổ sung cho nhau nhằm làm nổi bật nội
dung tư tưởng của tác phẩm. Do vậy, mạch truyện có thể được hiểu là những đường
dây chi tiết, sự kiện nhất định trong từng cốt truyện, được tạo nên theo những khả
năng kết hợp khác nhau, một câu chuyện có thể có một hoặc nhiều mạch chuyện.
Suy cho cùng, việc sáng tạo mạch chuyện phụ thuộc chủ yếu vào ý đồ sáng tác và
quan niệm về giá trị cốt truyện của tác giả. Sự phức tạp và đầy biến động của đời
sống xã hội sau đổi mới đã làm nảy sinh rất nhiều phương diện và phạm vi hiện
thực mới mẻ cần được khám phá, lí giải. Xu hướng phản ánh cuộc sống đa chiều đã
xuất hiện trong nhiều truyện ngắn thời kỳ sau này. Sự chuyển đổi từ loại cốt truyện
một mạch thẳng sang cốt truyện đan xen nhiều mạch chuyện là một biểu hiện rõ nét
của sự đổi mới nghệ thuật trong truyện ngắn hiện đại nói chung và của các cây bút
nữ thời kỳ này nói riêng. Do đó, cốt truyện được tổ chức linh hoạt và tinh tế hơn với
nhiều ngả rẽ, nhiều mạch chuyện.
Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thanh Hồng

20
Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy nhà văn đã tạo ra sự đan xen
của nhiều mạch truyện, mạch quá khứ và mạch hiện tại, hay sự song song tồn tại
của cái thực và cái ảo…Nhà văn thường xây dựng kiểu cốt truyện có sự xáo trộn về
mặt thời gian nghệ thuật, đan xen những sự kiện quá khứ và hiện tại để đối chiếu và
soi tỏ nhằm khắc họa sâu sắc hình tượng nhân vật và bộc lộ tối đa tư tưởng chủ đề
của tác phẩm. Trong truyện ngắn của chị, cốt truyện thường được bắt đầu ở hiện tại
sau đó trở về quá khứ rồi lại quay về hiện tại. Ở một số truyện ngắn khác lại có sự
đan xen giữa quá khứ và hiện tại, tạo điều kiện cho nhân vật bộc lộ tình cảm, suy
nghĩ, hành động của mình trong các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, sự kết hợp
giữa quá khứ và hiện tại trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không chỉ dựa trên
diễn biến nội tâm của các nhân vật mà chúng ta còn thấy được qua chính lối tổ chức
các sự kiện của nhà văn. Chính sự hợp lý, lô gíc của các sự kiện khiến cho chính các
sự kiện trong quá khứ cũng hiện lên một cách rõ nét và gần gũi như trong hiện tại.
Mô hình cốt truyện này được khái quát như sau:

tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của hoa sầu nở. Thứ ba là chuyện về cuộc đời của Vĩnh,
nhà bị cháy rụi trong bom đạn, người yêu đầu đời chết đuối, quá khứ mờ mịt và
tương lai vô vọng Cuối cùng là câu chuyện của chú bé chăn dê với người mẹ
nghèo…Mỗi số phận có một nỗi niềm riêng. Và tác giả đã khéo léo lồng ghép
chúng trong câu chuyện chung đó là hành trình tìm đến cái đẹp của ba con người:
một chú bé chăn dê, một cô gái điếm và một nghệ sỹ. Cách ứng xử của ba người
trước cái đẹp hoàn toàn khác nhau. Chú bé căm ghét cây sầu nở hoa vì năm nào sầu
nở làng cũng đói và dê chết nên bỏ về trước. Người nghệ sỹ chết vì cái đẹp còn cô
gái điếm đi xuống núi một mình và không tin vào lời nguyền. Đằng sau những câu
chuyện về từng số phận, từng cuộc đời đó là cái dư âm còn khắc khoải trong những
trang viết của Nguyễn Ngọc Tư.
Một nhân vật có thể tạo nên không chỉ một mạch truyện mà có thể đan xen
nhiều mạch bằng những đoạn hiện tại, quá khứ, suy tưởng, ước mơ…Trong “ Tiếng
đàn môi sau bờ rào đá” của Đỗ Bích Thúy, số phận của một người phụ nữ vùng
cao được thể hiện thông qua một hệ thống các chi tiết sự kiện. Truyện được bắt đầu
bằng hình ảnh của thời hiện tại cảm nghĩ của ông Chúng về gia đình khi nhìn thấy
những đứa con của mình, và cả bà Chúng nữa. Mới đọc truyện, người đọc cứ ngỡ
như đang tiếp xúc với một gia đình hạnh phúc, cha mẹ đã đến tuổi xế bóng về già
mãn nguyện nhìn con cái trưởng thành. Nhưng hóa ra không phải vậy. Đằng sau vẻ
bình thản của từng con chữ là bao nhiêu nỗi nhọc nhằn của đời người xuất hiện. Từ
đó, truyện phân chia thành những khúc đoạn kể về những thăng trầm của một gia
đình, trong đó mỗi cá nhân là một cảnh đời, một số phận chớ trêu rất đáng thương.
Mỗi khúc đoạn có thể tồn tại độc lập như một câu chuyện, trở thành những mạch
phụ trong sự liên hệ chung nhằm lí giải chủ đề. Mạch diễn tiến của truyện có thể sơ
đồ hóa như sau:
ảnh của mẹ Hoa xuất hiện. Từ đó, người đọc ngạc nhiên trước sự xuất hiện của một
nhân vật mới trong mạch truyện. Mẹ Hoa là người đàn bà được cha của May đem
về sau những năm tháng đằng đãng sống với mẹ già mà không có con. Từ đó, mối
tình tay ba của họ bắt đầu. Truyện lại quay trở lại mạch quá khứ với những dòng hồi
cố về cuộc sống của một gia đình vùng cao, về cảnh làm dâu và làm mẹ hai đứa con
chồng của mẹ già. Xen kẽ trong mạch truyện lúc ở thì hiện tại, lúc lại dội về quá
khứ nhức nhối của mẹ già là câu chuyện tiếng kèn môi dặt dìu của May. Tiếng khèn
môi ấy làm trái tim thiếu nữ xao xuyến. Nhưng tiếng khèn môi ấy còn gợi lại những
kỉ niệm không thể nào quên của mẹ già về một thời trẻ đã qua…Có thể nói, thông
qua cốt truyện về số những số phận khác nhau của cuộc sống con người nơi vùng
cao, Đỗ Bích Thúy muốn gửi gắm sự đồng cảm, thấu hiểu và chia sẻ tận đáy sâu
tâm hồn mình với số phận của những người phụ nữ. Có thể thấy, với người phụ nữ
vùng cao, những chuỗi ngày được coi là hạnh phúc nhất của đời họ thường qua
Thời gian hiện tại:
Chuyện gia đình ông
Chúng
Thời gian quá khứ:
Trước tết một tháng
Thời gian quá khứ:
Kía lấy Chúng mà
không có con
Thời gian quá khứ: mẹ
Hoa về
Thời gian hiện tại:
Chuyện của May
Thời gian hiện tại:
Chuyện tình của mẹ
già
MẠCH
THỨ 2

truyện ngắn không có chỗ cho những chi tiết rườm rà, không có giá trị cho sự phát
triển cốt truyện, xây dựng tính cách nhân vật và bộc lộ chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Mọi chi tiết sự kiện tham gia vào cốt truyện phải được chọn lọc kỹ càng và có tác
dụng nhất định trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật của tác giả. Bên cạnh chi tiết,
sự kiện là những việc có ảnh hưởng và tác động đáng kể đến tính cách và số phận
nhân vật, là chất liệu cơ bản tạo thành một cốt truyện. Khẳng định vai trò của chi
tiết sự kiện trong truyện ngắn đồng thời cần thấy rằng tính chất chức năng và sự tổ
chức của các loại chi tiết, sự kiện sẽ có những biến đổi nhất định phụ thuộc vào
từng giai đoạn phát triển của thể loại. Khảo sát truyện ngắn của các tác giả Nguyễn
Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy có rất nhiều tác phẩm xuất
hiện nhiều chi tiết, sự kiện .
Trước hết, đó là chi tiết có tính điển hình cao. Những chi tiết này có tác
dụng cá thể hóa một đặc điểm tính cách của một loại nhân vật trong tác phẩm. Ví
dụ, để diễn tả đặc điểm phong tục cưới hỏi của người dân tộc vùng cao, Đỗ Bích

Trích đoạn Cốt truyện giàu chi tiết sự kiện: Nhân vật bi kịch Nghệ thuật xây dựng nhân vật Đối thoại và độc thoại nội tâm Ngôn ngữ có tính cá thể hóa cao độ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status