Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 2006 (nguyễn thị thu huệ, nguyễn ngọc tư, đỗ bích thúy) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------

NGUYỄN THANH HỒNG

TÌM HIỂU MỘT SỐ CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KỲ 1986-2006 (
NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ, ĐỖ BÍCH THÚY)

CHUYÊN NGÀNH:
VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ:
60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ VĂN ĐỨC

HÀ NỘI – 10/2009


MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................................. 2
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 3
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................ 3
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 4
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................................... 13
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................................. 14
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN........................................................................................... 14

3.2.1.2.Tính nhip điệu trong văn Nguyễn Ngọc TưError! Bookmark not defined.
3.2.2.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Thị Thu
Huệ .......................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2.1.Ngôn ngữ đời thường ............................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2.2. Ngôn ngữ có tính cá thể hóa cao độ ....... Error! Bookmark not defined.
3.2.3.Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Đỗ Bích Thúy
.................................................................................. Error! Bookmark not defined.


3.2.3.1.Ngôn ngữ mang đậm bản sắc của người dân tộc ... Error! Bookmark not
defined.
3.2.3.2.Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ ... Error! Bookmark not defined.
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................ Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có những khởi sắc đặc biệt. Không giống như ở
thời kỳ trước, văn học thời kỳ này đã phản ánh hiện thực theo cách mới, quan niệm mới.
Không chỉ mở rộng đề tài theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh
hoạt, đời sống văn hóa, quan điểm của các nhà văn về một số vấn đề của lịch sử Việt
Nam cũng mang những sắc thái thẩm mỹ mới. Cảm hứng sử thi của giai đoạn trước được
thay thế bằng cảm hứng đời tư, thế sự. Xu hướng ngợi ca được thay thế bằng cái nhìn phê
phán hiện thực. Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh lạc quan, tươi đẹp được thay bằng
sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội, những khát vọng của đời sống cá nhân
con người. Văn học giai đoạn này vì thế đa giọng điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi
hơn.
Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với
những vấn đề của đời sống. Truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngõ ngách của xã
hội, phản chiếu mọi tâm điểm nóng bỏng của hiện thực. Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc

âm hưởng của thời đại chúng ta đang sống. Họ tỏ ra áp sát hiện thực đời sống một cách
trực diện và thẳng thắn khi nhìn nhận mặt trái của hiện thực. Có thể nhận thấy sự sắc sảo
và sâu sắc khi khái quát và tiếp nhận đề tài thế sự đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái
bằng lối viết “dịu dàng, bén ngọt, riết róng và đồng cảm chia sẻ với những thân phận,
những người sống quanh mình”. Tìm hiểu những cách tân nghệ thuật của một số cây bút
nữ, chúng tôi muốn khẳng định giá trị của dòng văn học “tính nữ” (chữ dùng của nhà
nghiên cứu Bùi Việt Thắng) trong sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại.
1.3. Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy chưa hẳn đã là những đại diện tiêu biểu nhất. Nhưng họ là
những phong cách riêng rất độc đáo không thể trộn lẫn. Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn
nữ với chất giọng trầm tiêu biểu cho sự đổi mới của văn xuôi miền Bắc, Nguyễn Ngọc Tư
là nhà văn trẻ của mảnh đất phương Nam xa xôi và Đỗ Bích Thúy là đứa con của đại
ngàn Tây bắc. Mỗi nhà văn đã đóng góp cho văn học Việt Nam một tiếng nói riêng.
Chính vì thế, lựa chọn đề tài: Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật của một số cây bút
nữ thời kỳ 1986 – 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng
tôi muốn bước đầu khám phá những thể nghiệm nghệ thuật của một số tác giả nữ để từ
đó, bước đầu định hình được chỗ đứng của văn học Việt Nam trên tiến trình vận động để
hội nhập với văn chương và rộng lớn hơn là văn hóa tiến bộ của thế giới.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học và truyện ngắn Việt Nam thời
kỳ 1986 – 2006.
* Tình hình nghiên cứu văn học
Sự đổi mới quan niệm và ý thức nghệ thuật của văn học sau 1986 đƣợc đánh
giá là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hƣởng chi phối mọi thể loại, trong đó có


truyện ngắn. Các tác giả nghiên cứu về văn học thời kỳ này đã khẳng định, văn học
đương đại phát triển theo hướng dân chủ hóa, có ý nghĩa bổ sung, hoàn thiện những quan
niệm hiện thực về con người cho văn học giai đoạn trước. Trong chuyên luận Văn học

đó phải kể đến sự ưu ái của đời sống là mảnh đất màu mỡ cho các thể của văn xuôi phát
triển. Nếu có so sánh thì truyện ngắn Việt Nam trong thế kỷ 20 có hai thời hoàng kim của
nó: 1930 – 1945 và 1986 – 2000 [tr113, 34]. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong


bài Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay đánh giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới
lật các mảng hiện thực ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong đóng góp một tiếng
nói định vị cho người đọc, một thái độ nhìn nhận đánh giá những việc, những người của
bây giờ, nơi đây [Tr 10, 67]. Chỉ rõ sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng
của thể loại này, nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu viết: “Cùng với sự gia tăng của những tên
tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều tìm tòi cả trong
tiếp nhận về sự cô đơn của thân phận con người, là sự đan cài giữa cái ảo và cái thực,
giữa chất thơ và văn xuôi [tr182, 36]. Còn trong bài viết “Từ một góc nhìn về sự vận
động của truyện ngắn chiến tranh”, tác giả Tôn Phương Lan lý giải chi tiết hơn:
“Những truyện ngắn đã khai thác yếu tố tâm linh và tạo ra những chi tiết, cảnh huống, li
kì, hấp dẫn, đem lại cho các truyện này một vóc dáng hiện thực mới khiến người đọc
không chỉ cảm mà còn thấy”.
Những đổi mới về nội dung tất yếu dẫ đén sự thay đổi về hình thức thể loại truyện
ngắn. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Về khía cạnh thi pháp, truyện ngắn 1986
– 2006 đã trở nên phong phú về hình thức, phong cách và bút pháp. Đã có thể tách bạch
ra những dòng phong cách chủ yếu sau: phong cách cổ điển (ứng với lớp nhà văn như
Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Hồng
Nhu…), phong cách trữ tình (ứng với Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ…).
Về hình thức, truyện ngắn giai đoạn này khá đa dạng, có thể nói đến một kiểu truyền kỳ
hiện đại (Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, Hai người đàn bà xóm trại của Nguyễn
Quang Thiều), kiểu truyện giả cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy
Thiệp), truyện ngắn kịch (Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh), truyện rất ngắn (Vùng
lặng của Phạm Sông Hồng), truyện ngắn triết luận (Tâm tưởng của Bùi Hiển, Sống mãi
với cây xanh của Nguyễn Minh Châu…). Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học
nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng, truyện ngắn nữ cũng có những thành tựu

chí Văn nghệ quân đội 3/1993) trong văn học. Có thể nói, sự xuất hiện ồ ạt của các cây
bút nữ cũng như số lượng khổng lồ các tác phẩm của họ trình làng (Lê Minh Khuê hiện
nay đã có 7 tập truyện ngắn in riêng, Nguyễn Thị Thu Huệ 6 tập, Võ Thị Hảo 4 tập…) và
hơn hết là chất lượng các sản phẩm mà họ tạo ra có thể khẳng định, đây là thời đại mà
văn chương của phái nữ đang chiếm ưu thế. Đã hết rồi cái thời mà văn học gần như là
sáng tác độc tôn của giới mày râu. Đến bây giờ, có nhà nghiên cứu văn học đã phải thốt
lên rằng: “Đã hình thành một tỷ lệ giữa phái yếu và phái mạnh là 2/3- một tỉ lệ đáng gờm
bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay (và văn chương nói chung) mang gương
mặt nữ” [34].
Các cây bút nữ thực sự khẳng định được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình.
Với sự tinh tế nhạy cảm vốn có, “Dường như phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam
giới. Họ luôn gần gũi với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống.”[68]. Nhà nghiên cứu
Đặng Anh Đào đã chỉ ra đặc điểm riêng, những đóng góp riêng của các nhà văn nữ vào
nền văn học đương đại của nước nhà: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ họ đưa tất cả cuộc đời
và tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như Tây, họ tự ăn mình”. Vì thế mà “Các cây bút
nữ hôm nay mở cuộc tìm tòi trên một cái diện rất rộng và họ đạt đến hiệu quả ngay”
(Ngô Thế Oanh).
Sáng tác của các cây bút nữ thường đi sâu vào bi kịch, những nỗi đau với sự trải
nghiệm sâu sắc. Các chị đã đem đến cho văn chương một diện mạo mới “đằm thắm, tinh
tế và khoan dung hơn”. Hiện thực cuộc sống với sự tha hóa đạo đức, những xói mòn về


nhân cách được thể hiện khá rõ nét. Nội tâm nhân vật được được đào sâu khai thác với
cái nhìn đa chiều, sấu sắc: Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức thư gửi mẹ Âu
Cơ (Y ban)…
Không chỉ có những khám phá mới về nội dung mà các cây bút nữ còn có những cố
gắng trong tìm tòi nghệ thuật nhằm xây dựng cho mình một phong cách riêng: Y Ban với
chất giọng nữ trầm trong văn chương, Võ Thị Hảo có lối viết pha màu sắc huyền thoại,
Nguyễn Ngọc Tư với lối viết văn đậm màu sắc Nam Bộ, Đỗ Bích Thúy với những tác
phẩm văn chương đậm tính chất vùng miền…Tất cả đã tạo nên diện mạo của truyện ngắn

ngòi bút tới là “những thiên đường và hậu thiên đường của đời sống con người đặc biệt
là người phụ nữ[34].Không chỉ có sự cách tân, mới lạ ở điểm nhìn nghệ thuật, Nguyễn
Thị Thu Huệ còn có những cách tân trong quá trình xây dựng tác phẩm. Phạm Hoa trong
bài giới thiệu tập Cát đợi đã chỉ rõ hai kiểu xây dựng nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ:
“Một là truyện truyền thống (Có chuyện), hai là truyện không có chuyện (cốt truyện theo
dòng tâm trạng) (Phạm Hoa).Nguyễn Thị Thu Huệ là người rất nghiêm túc trong lao
động sáng tạo nghệ thuật. Chị đã từng tâm sự rằng, truyện của chị giống như một thùng
nước sôi, nó sôi lên ùng ục đến khi hết sôi là hết. Vì thế, trong sáng tác, chị đã cố gắng sử
dụng những phương tiện nghệ thuật để diễn tả cho hết, cho sâu những tâm tư trong lòng
mình. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong Năm truyện ngắn dự thi của một cây bút
trẻ [33] và Tứ tử trình làng ( Lời giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn bốn cây bút nữ), ông
đã chỉ rõ cả bề rộng lẫn bề sâu trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi người đọc trước hết là vì giàu chất đời” và
“Những truyện ngắn hay của Thu Huệ là nhờ người viết bứt lên được trên cái có thực
đến tận cùng, để tìm cái gì đó cao hơn của con người, đó là đời sống tâm hồn vốn rất
không rõ ràng, mạch lạc, vốn bí ẩn, khó giải thích rạch ròi bằng lí trí”. Tác giả còn chỉ
rõ những phương diện nghệ thuật khác trong truyện ngắn Thu Huệ, đó là tình huống “ tuy
hẹp nhưng đặc sắc, ngôn ngữ có độ căng của nhịp điệu, câu thường ngắn, cấu trúc đơn
giản, thông tin cao, hoạt động trong giọng điệu….Đồng thời, ông cũng nhận thấy hạn chế
trong văn Thu Huệ: Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, còn muốn nói nhiều, nói hết
trong truyện”.Ngoài ra, các tác giả khác cũng có những bài nghiên cứu sâu sắc đến hiện
tượng văn học này như: Những truyện ngắn hay (Lý Hoài Thu- Tạp chí văn nghệ quân
đội 12/1993), Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ (Dương
Quỳnh Trang- tạp chí văn nghệ quân đội,6/1994), Đọc hồi ức binh nhì và Bến trần gian
(Kim Dung- Tạp chí Văn nghệ quân đội, 11/1994), Những ngôi sao nước mắt (Đoàn Thị
Đặng Hương- Văn nghệ trẻ, 25/3/1996), Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
(Hồ Sỹ Vịnh-Báo Văn nghệ, 8/2002)…Nhìn chung, qua các bài viết, Nguyễn Thị Thu Huệ
được đánh giá là một cây bút có tài năng trong việc khám phá và nắm bắt hiện thực một
cách nhạy bén, có giọng văn linh hoạt, uyển chuyển.
2.3.2.Nguyễn Ngọc Tư

kiếm nhiều nhất trên mạng Internet và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lí do cô
được tìm kiếm nhiều bởi người đọc nhận thấy ở tác phẩm của cô có những phát hiện mới
lạ và rất độc đáo.
Trên diễn đàn tháng 2/2004 có bài Nguyễn Ngọc Tư- Đặc sản miền nam của giáo
sư kinh tế Trần Hữu Dũng, một Việt kiều tại Mỹ. Bài viết đã đánh giá một cách tổng hợp
về nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư từ những điều giản dị của ngôn ngữ,
giai điệu đến nhân vật, cấu trúc câu. Đặc biệt, Trần Hữu Dũng đã chỉ ra điểm khác biệt
của Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn khác: “Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính
là cái cũ, cái lạ ở cô là tài khui mở những sinh hoạt thân thuộc trước mắt. Nguyễn Ngọc
Tư không “vén màn” cho người đọc thấy cái hay từng có, cô không dẫn ta khám phá
những ngóc ngách của nội tâm mà ta chưa từng biết. Cô đưa ra một tấm gương rất trong,
thật sáng. Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú
của chính đời ta [54].


Báo Tiền phong, ra ngày 31/1/2006 có bài đánh giá về văn Nguyễn Ngọc Tư: Văn
phong giản dị, ngôn ngữ truyện cứ như được kê vào từ đời thường, nhưng chính những
nỗi đau của những kiếp người, những số phận nhỏ bé ở một vùng quê nghèo và triểt lý
nhân quả của cuộc đời làm nên sức ám ảnh lớn cho truyện (Phan Lâm).
Báo tuổi trẻ, số ra ngày 30/1/2005với bài viết Im lặng thế đấy, tác giả Đỗ Hồng
Ngọc đã nhận xét: Người đọc bất ngờ trước những kiếp người, phận người hôm nay, tại
đây như trong truyện kể, và bất ngờ trước một văn bút khác lạ của người viết truyện.
Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào những vỉa tầng cuộc sống của những vùng đất cô
sống và viết văn. Dữ dội và nhân tình, văn Tư bắt đầu là như thế.
Trong bài Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư, điềm đạm mà thấu
đáo, nhà văn Dạ Ngân đã không tiếc lời khen ngợi khả năng vận dụng ngôn ngữ của
Nguyễn Ngọc Tư: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời. Tôi thấy phương ngữ mà Ngọc Tư
đưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn liếng chung của
ngôn ngữ quốc gia. Những người bẩm sinh có tài năng lớn thì họ mới làm được cái đó
chứ! Nó tự nhiên như không thôi! Thả cái chữ ra thì đúng là cái chữ đó thôi không phải

văn thơ dặt dìu tiếng sáo, tiếng khèn, la đà với rượu nồng bếp lửa của núi rừng Tây Bắc
trong các sáng tác của các bậc tiền bối như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Tố Hữu…” [Tr3,
49].
Cảm nhận đó còn thuyết phục hơn khi Trung Trung Đỉnh, một nhà văn chuyên
viết về đề tài miền núi đã viết: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt
truyền thống của người miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về
cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán.
Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ.
Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bở những chi tiết rất đặc sắc chỉ
người miền cao mới có.[tr8,58]
Cái lạ mà Trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với cảm giác về cái lạ
mà nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thúy. Trong bài Cái duyên và sức gợi của hai
giọng văn trẻ, nhà nghiên cứu Chu Lai viết: “Đọc Thúy, người ta có cảm giác như được
ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất
riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh,
của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”, của mùi
ngải đắng, mần tang, của những nét ăn, nét ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ
hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng “giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một
vòng cửa trước ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng
khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt,
của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân
chủ…” [Tr102,65]
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Linh Giang khi nghiên cứu tìm hiểu tiểu thuyết Bóng
của cây sồi đã nhận thấy những nét đặc sắc trong văn phong của Đỗ Bích Thúy: Tính xã
hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng
trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và


nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài
quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối


Chúng tôi không bỏ qua những truyện ngắn về người phụ nữ của các tác giả nam để
có sự so sánh đánh giá toàn diện nhất về hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn thời
kỳ đổi mới.
Chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến các bài nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh
vực lí luận văn học: lý luận về truyện ngắn, lý luận về hình tượng như Phan Cự Đệ,
Phương Lựu, Bùi Việt Thắng…góp phần tạo dựng cơ sở khoa học cho vấn đề này.
3.2. Chọn đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây
bút nữ thời kỳ 1986-2006 ( Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý),
chúng tôi tìm hiểu ở ba phương diện:
- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện kết cấu và tính huống truyện
- Sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật
- Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật ( Ngôn ngữ và giọng điệu)
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương pháp
sau:
4.1. Phƣơng pháp hệ thống:
Những cách tân nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thuý trên
các phương diện: quan niệm nghệ thuật, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, trần thuật…cần
được nhìn nhận một cách hệ thống. Mỗi phương diện là một tiểu hệ thống riêng nằm
trong hệ thống lớn là toàn bộ sáng tác của các tác giả nữ trên. Đồng thời, phải đặt sáng
tác của các tác giả nữ ấy trong hệ thống chung của văn học Việt Nam để thấy vị trí và
đóng góp riêng của các tác giả trong tiến trình đổi mới, hiện đại hoá văn học nước nhà.
4.2. Phƣơng pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự đổi mới nghệ
thuật qua từng chặng đường truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý. Đồng thời, chúng tôi tiến hành so sanh tác phẩm của các tác giả
nữ đó với nhau và với các nhà văn khác trong cùng thời kỳ để ghi nhận đóng góp của họ
cho sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
4.3. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp, khái quát

trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch [13].
Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ. Một mặt, cốt
truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự tác động
qua lại giữa các tính cách nhân vật, mặt khác, cốt truyện còn là phương tiện để nhà văn
tái hiện các xung đột xã hội. Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ có hiệu quả đặc điểm mỗi
tính cách, tổ chức tốt hệ thống tính cách, lại vừa trình bày một hệ thống sự kiện phản ánh
chân thực xung đột xã hội, có sức mạnh hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.
Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp. Trong thực tế văn học, cốt truyện các tác
phẩm hết sức đa dạng, kết tinh truyền thống dân tộc, phản ánh những thành tựu văn học
của mỗi thời kỳ lịch sử, thể hiện phong cách, tài năng nghệ thuật của nhà văn [Tr100.
13].
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân lại đưa ra quan niệm khác về cốt truyện: “Cốt
truyện là một phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, nó chỉ lớp biến cố của hình
thức tác phẩm. Chính hệ thống biến cố tạo ra sự vận động của nội dung cuộc sống được
miêu tả trong tác phẩm. Cốt truyện là một phẩm chất có giá trị quan trọng của văn học,
sân khấu, điện ảnh và các nghệ thuật cùng loại. Trong các thể loại văn học, các cốt
truyện là thành phần quan trọng thiết yếu của tự sự và kịch, nhưng thường không có mặt
trong các tác phẩm trữ tình” [Tr 114, 5]
Dẫn luận nghiên cứu văn học do G.N. Pôpêlốp chủ biên nêu khái quát về cốt
truyện: “Các tác phẩm tự sự và kịch, miêu tả các sự kiện, hành động trong đời sống nhân
vật diễn ra trong không gian và thời gian. Phương diện này của sáng tác nghệ thuật được
gọi bằng thuật ngữ cốt truyện.[Tr 229,25]
Vậy ta có thể đi đến kết luận về cốt truyện: Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện,
biến cố phản ánh những diễn biến của cuộc sống một cách nghệ thuật làm cho tính cách
của nhân vật hình thành và phát triển. Đồng thời, cốt truyện còn là phương tiện để nhà


văn tái hiện các xung đột xã hội nhằm làm sáng tỏ chủ đề - tư tưởng của tác phẩm, qua đó
thể hiện phong cách tài năng nghệ thuật của nhà văn.
Cốt truyện là thành phần quan trọng thiết yếu của tự sự và kịch. Nó thường trải qua

không có những cốt truyện xứng đáng nên tình hình nghệ thuật hiện đại mới bi đát như
thế.


Để tạo nên sức sống bền lâu cho thể loại, nhà văn phải luôn có ý thức cách tân và
sáng tạo trong lao động nghệ thuật, công việc đó, “xét đến cùng là sự cải tạo các phương
thức tổ chức nghệ thuật của tác phẩm, phản ánh những thay đổi trong phạm vi và tính
chất của mối quan hệ con người – thực tại[6]. Hơn nữa, trong văn học thời kỳ đổi mới, cả
nhà văn và độc giả đều có nhu cầu cao hơn trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật, muốn
nhận thức, khám phá cuộc sống “ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa
(Chế Lan Viên). Cho nên, với vai trò là “Phương tiện bộc lộ tính cách” đa dạng và
“Phương tiện để nhà văn thể hiện các xung đột xã hội” ngày càng trở nên phức tạp và
biến hóa hơn, truyện ngắn giai đoạn này thực sự lên ngôi khi tạo ra nhiều cốt truyện hay,
độc đáo và có khả năng chuyển tải nhiều nội dung xã hội sâu sắc. Vì thế, giá trị chủ yếu
của cốt truyện không đơn thuần ở chỗ có hay không có cốt truyện mà ở chiều sâu nội
dung tư tưởng mà nó dung chứa được. Cốt truyện do vậy không chỉ là tổng hợp giản đơn
các chi tiết, biến cố mà được tổ chức một cách hệ thống những sự kiện, tình huống đa
dạng, hàm chứa sự dồn nén tích tụ nhiều trạng thái của đời sống. Cốt truyện theo xu
hướng hiện nay không chỉ thực hiện chức năng phản ánh, tái hiện đời sống, xây dựng tính
cách nhân vật mà còn là sự khám phá, lí giải sâu sắc hiện thực xã hội và những số phận
cá nhân. Điều đó cho thấy “ Truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều hướng tìm tòi cả
trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại” [Tr57, 36].
Thực chất của việc tạo nên nhiều cốt truyện hay, có chiều sâu là cách thức tạo nên
hiệu quả nghệ thuật cao trong một hình thức nhỏ, là “Khả năng ôm trùm bao quát hiện
thực, là sức chứa chất liệu đời sống” hay khả năng của nội dung phản ánh hiện thực[34].
Vấn đề của một số truyện ngắn hiện nay là vấn đề dung lượng hiện thực và khả năng
phản ánh cuộc sống. Xu hướng “Tiểu thuyết hóa” thể loại truyện ngắn được nhà văn
Nguyên Ngọc đánh giá xác đáng “Dung lượng truyện ngắn ngày nay rất lớn, trong độ ba
trang mấy nghìn chữ mà rõ một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại. Các truyện ngắn
bây giờ rất nặng. Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết [34].Cho

vừa hiện đại, truyện ngắn trong một thời gian không dài đã làm được nhiều vấn đề mà
tiểu thuyết chưa kịp làm. Truyện ngắn đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong xây
dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ. Tiểu
thuyết là cái nhìn tập trung xoáy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng như
mối quan hệ của cá nhân và xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định những giá trị
nhân bản, nhà văn chú ý vào số phận, tính cách của nhân vật mà soi chiếu lại lịch sử xã
hội để khơi gợi những vấn đề triết lý nhân sinh. Trái lại, trong truyện ngắn, nhà văn chú
trọng vào việc xây dựng tình huống truyện: “Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra
một tình huống nào đó từ tình huống nổi bật của tính cách nhân vật” (Nguyễn Đăng
Mạnh). Nhà văn Nguyễn Kiên tâm đắc: “Điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa
chọn cho được cái tình thế, nó bộc lộ nét chủ yếu của tính cách số phận, nó đặc trưng
cho một hiện tượng xã hội [69].
Trong bài Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, tác giả Bích Thu đánh gía
tổng quát như sau: “Trong những năm gần đây, truyện ngắn có xu hướng tự nới mở đa
dạng hơn trong cách diễn đạt. Cốt truyện vận động đổi thay trong sự phát triển của thể
loại, có những cốt truyện vô hậu, phi kết cấu, có cốt truyện phản ánh hiện thực đương
đại, cốt truyện ảo, cổ tích…Truyện ngắn hôm nay ngày càng tăng cường cốt truyện bên
trong, biểu lộ trạng thái tâm tưởng của nhân vật chính, giảm bớt cốt truyện hành động


bên ngoài. Cốt truyện với đầy đủ chi tiết sự kiện không còn chiếm giữ vai trò cơ bản mà
lùi xuống hàng thứ yếu sau tính cách”. Đặc biệt, tác giả chỉ rõ ra rằng: “Một số cây bút
nữ đã góp phần làm nên sự đa dạng của từ ngữ sau 1975 bằng năng lực biểu cảm cuộc
sống qua thế giới tâm hồn theo dòng tâm trạng của nhân vật”.
Truyện ngắn của các nhà văn nữ đã mở ra một luồng sinh khí mới cho văn học thời
kỳ đổi mới. Lối viết trẻ trung đầy sáng tạo, cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh độc đáo của họ
đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều độc giả đương đại. Nói như nhà văn Bùi Hiển
“Nét sinh sắc là ở chỗ cây bút trẻ không hề hồn nhiên một cách dễ dãi, trái lại văn phong
mang vẻ trầm ngâm, để suy ngẫm về cuộc sống, về những thân phận khác nhau” [59].
1.1.1. Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện

(1)
Thời điểm hiện tại: Nhân vật xuất hiện
(2)
Thời điểm quá khứ: Những hồi tưởng của nhân vật
(3)
Trở lại thời điểm hiện tại: Kết thúc truyện, những so sánh chiêm nghiệm
của nhân vật
Rất nhiều truyện ngắn của chị được xây dựng với mô hình cốt truyện trên, trong đó
triển khai các chi tiết, sự kiện tạo thành các mạch hiện tại – quá khứ - hiện tại khá linh
hoạt. Sự đảo lộn trật tự thời gian là một trong những cách kéo gần thời gian quá khứ về
với thời gian hiện tại, làm cho tất cả các sự kiện, sự việc đồng hiện cùng một lúc, làm nên
những mảng màu đa dạng của cuộc sống. Từ đó giúp người đọc có thể soi chiếu vấn đề
đặt ra trong tác phẩm dưới nhiều góc độ khác nhau,nhất là nó có khả năng hình thành
nhiều liên tưởng bất ngờ, phức tạp cho độc giả. Có những khi người đọc phải sắp xếp lại
trật tự thời gian của cốt truyện thì mới có thể hiểu được những bước diễn tiến của truyện.
Chính sự nhập nhằng, đôi khi khó phân định ranh giới giữa hiện tại và quá khứ ấy khiến
người đọc trong quá trình sắp xếp lại các sự việc theo thời gian, buộc phải có những suy
nghĩ sáng tạo và liên tục đặt ra những câu hỏi mang tính dự cảm, đoán định.
Sầu trên đỉnh Puvan của Nguyễn Ngọc Tư là một kiểu đan xen các mạch truyện khá
phức tạp. Trong cốt truyện mỗi nhân vật tạo nên một mạch truyện tồn tại độc lập. Sự sắp
xếp nhiều mạch truyện trong tác phẩm tạo nên cảm giác về một không khí ngột ngạt, sự
đan xen của nhiều số phân các nhân vật tạo nên cảm giác vừa cay đắng vừa xót xa. Câu
chuyện thứ nhất là chuyện về số phận nhân vật Dịu. Hai vợ chồng giả vờ li dị để cô đi
xuất khẩu lao động Đài Loan. Nhưng cô bị ông chủ Đài Loan hãm hiếp và có con với ông
ta. Bà chủ đẩy cô ra đường, cô trở về nước với hai bàn tay trắng và một cõi lòng cay đắng
tê tái. Không chấp nhận nổi sự tha thứ của chồng, mà cô nghĩ đó là lòng thương hại, cô
bỏ đi kiếm tiền bằng nghề làm gái trên thành phố. Tại đây, cô gặp Vĩnh, chàng họa sỹ có
tình yêu mãnh liệt với vẻ đẹp của những cây sầu. Câu chuyện thứ hai là chuyện về người
tu sỹ Colègan đã chết khi tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của hoa sầu nở. Thứ ba là chuyện về
cuộc đời của Vĩnh, nhà bị cháy rụi trong bom đạn, người yêu đầu đời chết đuối, quá khứ

Kía lấy Chúng mà
không có con
Thời gian quá khứ: mẹ
Hoa về

MẠCH
THỨ 2
MẠCH
THỨ 1


Thời gian hiện tại:
Chuyện của May

MẠCH
THỨ 3

Thời gian hiện tại:
Chuyện tình của mẹ
già

Câu chuyện xoay về thời gian của quá khứ gần “trước tết một tháng…”, hình ảnh
của mẹ Hoa xuất hiện. Từ đó, người đọc ngạc nhiên trước sự xuất hiện của một nhân vật
mới trong mạch truyện. Mẹ Hoa là người đàn bà được cha của May đem về sau những
năm tháng đằng đãng sống với mẹ già mà không có con. Từ đó, mối tình tay ba của họ
bắt đầu. Truyện lại quay trở lại mạch quá khứ với những dòng hồi cố về cuộc sống của
một gia đình vùng cao, về cảnh làm dâu và làm mẹ hai đứa con chồng của mẹ già. Xen kẽ
trong mạch truyện lúc ở thì hiện tại, lúc lại dội về quá khứ nhức nhối của mẹ già là câu
chuyện tiếng kèn môi dặt dìu của May. Tiếng khèn môi ấy làm trái tim thiếu nữ xao
xuyến. Nhưng tiếng khèn môi ấy còn gợi lại những kỉ niệm không thể nào quên của mẹ

chọn lọc kỹ càng và có tác dụng nhất định trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật của tác
giả. Bên cạnh chi tiết, sự kiện là những việc có ảnh hưởng và tác động đáng kể đến tính
cách và số phận nhân vật, là chất liệu cơ bản tạo thành một cốt truyện. Khẳng định vai trò
của chi tiết sự kiện trong truyện ngắn đồng thời cần thấy rằng tính chất chức năng và sự
tổ chức của các loại chi tiết, sự kiện sẽ có những biến đổi nhất định phụ thuộc vào từng
giai đoạn phát triển của thể loại. Khảo sát truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Thị Thu
Huệ, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy có rất nhiều tác phẩm xuất hiện nhiều chi
tiết, sự kiện .
Trước hết, đó là chi tiết có tính điển hình cao. Những chi tiết này có tác dụng cá
thể hóa một đặc điểm tính cách của một loại nhân vật trong tác phẩm. Ví dụ, để diễn tả
đặc điểm phong tục cưới hỏi của người dân tộc vùng cao, Đỗ Bích Thúy đã lựa chọn các
hình ảnh “Ngày em về làm dâu, nhà tôi có bao nhiêu trai bản uống rượu say không về
được. Người Tả Choóng bảo nhờ em Dân có cái chữ hơn người nên ông Dìn mới chịu gả
con gái cho mà chỉ lấy ba mươi, chứ người như thế phải lấy cả trăm mới xứng. Trăm
đồng bạc trắng, trăm cân gà, trăm cân lợn, trăm lít rượu ngô, không phải nhà giàu mấy
đời thì chịu thôi, làm đến chết cũng không trả hết nợ” (Ngải đắng ở trên núi). Diễn tả tình
yêu của đôi trai gái vùng cao, tác giả lựa chọn hình ảnh của tiếng đàn môi sau bờ rào đá,
tiếng đàn cứ vang lên, như giục giã, như cuống quýt, lưu luyến bước chân của con người
(Tiếng đàn môi sau bờ rào đá). Để nhằm khắc họa hình ảnh của một thế giới khi con người
đã trải qua những đau khổ, cay đắng của cuộc đời, Nguyễn Thị Thu Huệ dùng hình ảnh
“hậu thiên đường”, hay những chi tiết về “cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư để mô
tả về cuộc sống bấp bênh, không chốn neo đậu rõ ràng của con người…Những chi tiết
điển hình đó góp phần đắc lực trong việc chuyển tải nội dung tác phẩm và ý đồ nghệ
thuật của người nghệ sỹ.


Quan sát hiện thực dưới góc nhìn thế sự - đời tư, các tác giả còn lựa chọn những chi
tiết đời thƣờng, bình dị hàng ngày, những chi tiết, sự kiện có vẻ đơn giản, nhỏ bé, thậm
chí tản mạn nhưng lại có khả năng chuyển tải những vấn đề lớn lao của cuộc sống.
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có nhiều khả năng dồn nén và dung chứa một lượng

sử dụng các chi tiết rất sắc sảo tạo nên dụng ý nghệ thuật riêng cho từng tác phẩm. Trong
“Cánh đồng bất tận”, ta thấy tài năng của tác giả trong việc dồn nén dung lượng các chi
tiết. Đọc xong một truyện ngắn, người đọc có cảm giác như vừa trải qua một cuốn tiểu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status