BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ THU HÀ
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Khóa luận hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Hà Thị
Hải. Nhân dịp khóa luận được công bố, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo, Thạc sĩ Hà Thị Hải, người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn (đặc biệt là
các thầy cô trong tổ Lí luận - Văn học Nước ngoài), các cán bộ ở bộ phận thư
viện Trường Đại học Tây Bắc và tập thể lớp K51 Đại học Sư phạm Ngữ Văn đã
tạo điều kiện, ủng hộ và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Đinh Thị Thu Hà MỤC LỤC
CỦA LỖ TẤN 29
2.1. Không gian nghệ thuật trong văn học 29
2.1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật 29
2.1.2. Đặc điểm của không gian nghệ thuật 29
2.2. Các loại không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn 31
2.2.1. Không gian nông thôn 31
2.2.2. Không gian thành thị 34
2.2.3. Một số không gian khác 35
2.2.3.1. Không gian nghĩa trang 35
2.2.3.2. Không gian pháp trường 36
2.2.3.3. Không gian con đường 37
2.2.3.4. Không gian quán trà, quán rượu 40
2.3. Nghệ thuật xây dựng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn 42
2.3.1. Hình ảnh 42
2.3.2. Âm thanh 46
2.3.3. Mùi vị 48
2.3.4. Màu sắc 50
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Xưa nay, khi nói tới văn học Trung Quốc, người ta thường nghĩ ngay
tới Đường thi và tiểu thuyết cổ điển Minh - Thanh… Có ý kiến cho rằng văn học
hiện đại không sánh bằng văn học cổ điển, nhưng khi khảo cứu lại, ba trăm năm
Đường thi có năm mươi tư nghìn bài thơ, trung bình mỗi năm sáng tác một trăm
tám mươi bài. Sáu trăm năm Minh - Thanh chỉ để lại mười bộ tiểu thuyết kiệt
xuất, trung bình mỗi thế kỷ có hai bộ truyện hay với khoảng hai trăm truyện.
Còn văn học hiện đại từ sau cách mạng vô sản đã phát triển vượt bậc, chỉ cần
Tấn có vô vàn Lỗ Tấn” để khẳng định vai trò tiên phong của Lỗ Tấn trong văn
học. Lỗ Tấn đã khẳng định vị trí không thể thay thế được của mình trên văn đàn
Trung Quốc và thế giới. Ở Việt Nam, Lỗ Tấn là tác gia được giảng dạy ở trường
Đại học, Trung học Phổ thông và Trung học Cơ sở. Nghiên cứu đề tài này sẽ
giúp tôi củng cố kiến thức về lí luận văn học, thi pháp học, đồng thời vận dụng
những kết quả nghiên cứu vào việc học tập, giảng dạy văn học Trung Quốc với
hai tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn là Thuốc và Cố hương đã được đưa vào
chương trình Phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
“Lỗ Tấn là danh thủ truyện ngắn” [18, 663], là người mở đường cho văn
học hiện đại Trung Quốc. Khi nói đến sáng tác của ông, chúng ta không thể bỏ
qua truyện ngắn - nơi mà con người và tài năng nghệ thuật của nhà văn được thể
hiện rõ, nhất là trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và không gian nghệ thuật.
Truyện ngắn Lỗ Tấn không những được dịch ra nhiều thứ tiếng mà còn thu hút
sự tìm tòi, khám phá của giới phê bình, nghiên cứu văn học. Với nhiều bài viết,
nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, họ đã từng bước chỉ ra sự đóng góp, tài
năng cũng như sức sống kì diệu của truyện ngắn Lỗ Tấn. Có thể thấy một số
công trình nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật và không gian nghệ thuật trong
truyện ngắn Lỗ Tấn như sau:
Trong Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn và việc giảng dạy Lỗ Tấn ở trường phổ
thông, Lương Duy Thứ đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua miêu
tả đôi mắt: “Lỗ Tấn rất chú ý khai thác đôi mắt, dùng nó làm tấm gương phản
chiếu các biến động tâm hồn. Đôi mắt “đặc biệt to, lông mi rất dài, lòng trắng
như bầu trời đêm, mà là bầu trời tạnh gió phương Bắc” của A Thuận (Trên gác
quán rượu) đã nói lên đầy đủ tâm hồn trong trắng ngây thơ của cô gái xinh đẹp
này, nó tương phản như màu trắng với màu đen bên cạnh tâm hồn vẩn đục, tê
dại của Lã Vi Phủ. Những biến động sâu sắc trong tâm hồn chị Tường Lâm cũng
đã được thể hiện rõ nét qua bốn lần mô tả đôi mắt của chị” [31, 43], về ngôn
ngữ nhân vật: “Cũng để phản ánh đặc trưng tinh thần của nhân vật, Lỗ Tấn rất
chú ý chọn lọc những câu nói ngắn gọn có thể gợi lên cả một chân trời suy nghĩ.
Xung quanh vấn đề nghệ thuật xây dựng nhân vật và không gian nghệ
thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, còn có những đề tài, luận văn nghiên cứu và
những bài viết đề cập đến, dù chưa đi sâu cụ thể nhưng cũng điểm qua những chi
tiết liên quan đến vấn đề trên.
Trong Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn,
Nguyễn Thị Lan có đưa ra nhận xét: “Cố hương là một trong những truyện ngắn
xuất sắc của Lỗ Tấn… Truyện có ba lớp không gian. Ba lớp này được xếp cạnh
4
nhau trong tiến trình suy cảm của nhân vật. Mỗi lớp không gian đều gắn liền với
thời gian (bởi thời gian là chiều thứ tư của không gian)” [13, 1]. Trong bài viết
này, chị đã chỉ ra những không gian cụ thể trong truyện Cố hương: không gian
thời thơ ấu, không gian hiện tại và không gian mộng tưởng.
Nguyễn Thị Tú trong Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn
(Qua hai tập “Gào thét” và “Bàng hoàng”) có tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng
hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn: “Ông đã khéo léo sử dụng
các phương tiện, biện pháp nghệ thuật như miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn
ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ độc thoại, đối thoại của nhân vật, qua ngôn ngữ người
kể chuyện và qua khung cảnh thiên nhiên để xây dựng nhân vật. Nhờ các biện
pháp nghệ thuật này mà nhân vật người phụ nữ hiện lên hết sức sinh động, đa
dạng và thể hiện được những tư tưởng mà nhà văn muốn truyền đạt. Với việc
miêu tả ngoại hình, Lỗ Tấn đã cho ta bản phác thảo đầu tiên, bên ngoài về nhân
vật, làm cho nhân vật không chỉ có hình dáng cụ thể mà còn bộc lộ được những
nét tính cách” [35, 50].
Dương Trắc Nghiệm trong “Thuốc” dưới góc nhìn Thi pháp học viết về
những không gian nghệ thuật trong Thuốc như sau: “Những không gian ấy không
gợi lên vẻ rộng lớn siêu phàm. Có cái gì trầm lắng, tĩnh lặng, chan chứa nỗi
niềm như bối cảnh xã hội Trung Quốc ngột ngạt, tăm tối, buồn tẻ, đang ngủ say
trước sự chuyển mình của đất nước” [21, 1].
Từ những tư liệu trên, có thể thấy truyện ngắn Lỗ Tấn đã có nhiều công
trình nghiên cứu, nhưng do xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau,
Phương pháp khảo sát (khảo sát những truyện ngắn trong hai tập Gào thét
và Bàng hoàng).
Phương pháp phân tích (phân tích nhân vật, các chi tiết về ngoại hình, hành
động, tâm lí của nhân vật; phân tích các chi tiết miêu tả không gian nghệ thuật).
Phương pháp so sánh (so sánh, đối chiếu các nhân vật với nhau để tìm ra
sự giống và khác nhau trong việc miêu tả các loại hình nhân vật khác nhau; so
sánh với các tác phẩm cùng thời hoặc khác thời để thấy được giá trị của truyện
ngắn Lỗ Tấn).
Phương pháp tổng hợp (tổng hợp lại các vấn đề sau khi đã phân tích để
đưa ra kết luận).
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ, cụ thể hơn, chi tiết hơn về tài năng của Lỗ
Tấn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn của ông.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 2 chương:
Chương 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn
Chương 2: Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn
6
CHƢƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN
Lỗ Tấn (1881 - 1936), tên khai sinh là Chu Chương Thọ, sau đổi thành Chu
Thụ Nhân, tên chữ là Dự Tài; quê ở phường Đông Xương, phủ Thiệu Hưng, tỉnh
Chiết Giang; xuất thân trong gia đình đại sĩ phu phong kiến đã sa sút. Cha ông là
Chu Phượng Nghi, đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh mất sớm.
Mẹ là Lỗ Thụy, là người sớm có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của Lỗ
Tấn. Bút danh Lỗ Tấn lấy từ họ mẹ.
Lỗ Tấn bắt đầu sự nghiệp sáng tác với tác phẩm đầu tay là Nhật ký người
tượng con người trong tác phẩm.
Nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tác phẩm văn học, là hình
thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Nhà văn
sáng tạo nên nhân vật để gửi gắm tình cảm cũng như thể hiện nhận thức của
mình về một cá nhân con người hay một vấn đề của hiện thực đời sống.
Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, không đồng nhất
với con người có thật nên nhân vật văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên
tưởng dựa trên nhận thức của con người về thế giới. Cũng bởi vậy mà chúng ta
thường thấy vẻ đẹp của những người phụ nữ thời cổ được ví với hoa, tuyết,
nguyệt: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”, “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém
xanh” (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Còn trong cảm quan của các nhà văn, nhà thơ
hiện đại lại khác, con người trở thành trung tâm, làm thước đo cho vẻ đẹp của
thiên nhiên: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” (Vội vàng - Xuân Diệu).
Căn cứ vào vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học, ta có nhân vật
chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm. Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò
chủ chốt, có vai trò quan trọng trong việc thể hiện đề tài, tư tưởng và chủ đề của tác
phẩm như: Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh, Hồ Tôn
Hiến trong Truyện Kiều của Nguyễn Du… Nhân vật chính có vai trò quan trọng
hơn cả, xuyên suốt từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm
của tác phẩm như: Chí Phèo trong Chí Phèo của Nam Cao, Paven trong Thép đã tôi
thế đấy của Ôxtơrôpxki… Còn nhân vật phụ là nhân vật xuất hiện ít hơn, đóng vai
trò phụ trợ, làm nổi bật tính cách nhân vật chính trong tác phẩm như: Thúy Vân,
Vương Quan, thằng bán tơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du; anh Dậu, cái Tí, bọn
cai lệ trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố…
Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng, nhân vật có
thể chia ra làm nhân vật chính diện (mang lí tưởng, quan điểm, tư tưởng và đạo
đức tốt đẹp của tác giả và thời đại) và nhân vật phản diện (mang phẩm chất xấu
xa, trái với chân lí và tư tưởng, đáng lên án và phủ định). Trong Những người
khốn khổ của Victor Hugo, Jean Valjean được coi là nhân vật chính diện, còn
Javert là nhân vật phản diện.
[17, 291]. Mâu thuẫn giữa tình yêu và danh dự của dòng tộc ở Rama trong
Ramayana của Vanmiki sau khi chàng cứu được vợ từ tay quỷ vương Ravana
dẫn đến những hành động và ngôn ngữ của nhân vật, từ đó thể hiện tính cách
Rama: yêu vợ nhưng cũng trọng danh dự của dòng họ và hy sinh tình cảm cá
nhân của mình.
Thứ ba: Nhân vật thường bộc lộ mình nhiều nhất qua việc làm, hành động,
ý nghĩ. Trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, hành động của Trương
9
Phi khi nghe tin Quan Công hàng Tào, nay trở về và đang ở trong doanh trại:
“Phi nghe xong chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp vác mâu lên ngựa,
dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc… mắt tròn xoe, râu vểnh ngược, hò hét
như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công” [34, 530] cho thấy Trương Phi
là một con người bộc trực, nóng này, có lập trường nhất quán và cũng là người
có suy nghĩ đơn giản, thẳng thắn, giải quyết mọi việc bằng hành động.
Thứ tư: Có khi nhân vật được thể hiện bằng cách miêu tả trực tiếp, nhưng
cũng có khi được miêu tả một cách gián tiếp thông qua sự cảm nhận của mọi
người xung quanh đối với nhân vật, qua đồ vật, môi trường mà nhân vật sống.
Trong Thuốc của Lỗ Tấn, hình ảnh Hạ Du hiện ra qua những lời bàn luận của các
nhân vật trong quán trà lão Hoa Thuyên, một chiến sĩ cách mạng dũng cảm, dám
xả thân vì sự nghiệp chung, nhưng cô đơn trên con đường giải phóng dân tộc.
Như vậy, nhân vật văn học được hiện ra thông qua các chi tiết, các xung
đột, sự kiện, qua việc làm, hành động, ý nghĩ và qua miêu tả trực tiếp hoặc gián
tiếp nhờ sự cảm nhận của mọi người xung quanh và cái nhìn của nhân vật về
môi trường mà nhân vật sống. Từ đó, tính cách nhân vật hiện ra vừa mang tính
chung của cộng đồng, xã hội, vừa có tính riêng. Tìm hiểu nhân vật cũng chính là
việc đi tìm hiểu về cuộc đời, con người; tìm hiểu về tư tưởng, tình cảm của tác
giả đối với con người.
1.1.3. Nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật
Các nhân vật trong tác phẩm văn học thường hợp thành một hệ thống hoàn
chỉnh. Mỗi nhà văn thường sử dụng những biện pháp nghệ thuật khác nhau để
1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn
Nhân vật văn học vừa mang chức năng xã hội, vừa phải làm tròn chức năng
văn học của nó. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc
sống con người, thể hiện những hiểu biết, ước ao và kỳ vọng về con người.
Truyện ngắn của Lỗ Tấn thể hiện tư tưởng lớn lao của tác giả về con người, về
dân tộc thông qua nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật và nghệ thuật xây
dựng hệ thống nhân vật.
1.2.1. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật trong truyện ngắn của
Lỗ Tấn
Khi nhắc đến Nam Cao, người đọc nghĩ ngay đến Chí Phèo, nhắc đến Vũ
Trọng Phụng người ta nghĩ ngay đến Xuân Tóc Đỏ. Còn với Lỗ Tấn, người ta sục
sôi lên bởi cái tên AQ, rớt nước mắt bởi cái tên Nhuận Thổ, thím Tường Lâm, đau
xót với cái tên Khổng Ất Kỷ… và còn nhiều các nhân vật khác, bởi tính cách nhân
vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn được xây dựng không chỉ sinh động mà còn rất
chân thực qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ
1.2.1.1. Xây dựng tính cách nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình của
nhân vật
Ngoại hình của nhân vật là một khái niệm để chỉ những biểu hiện về dáng
vẻ bề ngoài của nhân vật như: hình dáng, diện mạo, trang phục, cử chỉ, ánh
11
mắt… Đó là những yếu tố có thể nói lên tính cách nhân vật, Lỗ Tấn đã khai thác
thành công những yếu tố ấy.
Trước tiên chúng ta tìm hiểu việc miêu tả hình dáng, trang phục và nước da
của nhân vật trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Ta thấy hình ảnh AQ trong AQ chính
truyện, nhà văn không dùng nhiều câu chữ để miêu tả ngoại hình nhân vật này,
“ngay trên đầu có một đám sẹo to tướng chẳng biết từ bao giờ” [27, 96] và một
chiếc đuôi sam là toàn bộ những gì người đọc biết về bề ngoài AQ khi đọc
truyện. Nhưng hai cái sở hữu bất li thân ấy xuất hiện trong nhiều hành trạng của
AQ, bởi cái sẹo mà “y kiêng tuyệt không dùng đến tiếng “sẹo” và cả những
tiếng âm gần giống âm “sẹo”… Chẳng cứ người nào, bất kỳ vô tình hay hữu ý
tinh thần. Thím từ một người nông dân hiền lành, chăm chỉ, luôn muốn tự nuôi
sống bản thân nay bị vứt ra ngoài lề xã hội, ý chí và khả năng tự lập không còn
nữa, phải đi ăn xin để sống qua ngày. Hình dáng thím Tường Lâm khiến người
đọc phải xót xa, thảng thốt về những thay đổi của một người phụ nữ trước sự
đày đọa của xã hội u tối.
Miêu tả hình dáng, trang phục, nước da không chỉ cho người đọc biết được
hoàn cảnh xuất thân của nhân vật mà tính cách nhân vật từ đó cũng được bộc lộ.
Ta thấy Giamilia trong Giamilia của Aitmatôp được miêu tả: “Những bắp thịt
tròn mập trên cặp giò bánh mật đẹp đẽ của chị căng lên… tấm thân mềm mại
của chị uốn cong xuống dẻo dai như tấm thép… ” [1, 51], “chị dướn người lên,
ưỡn ngực ra, ghé vai đón và ngửa đầu về phía sau, để lộ cái cổ thon thả rất đẹp
và hai bím tóc cháy nắng ngả sang mầu nâu nâu của chị gần chấm đất” [1, 53].
Vẻ bề ngoài toát lên ở chị một cá tính mạnh mẽ, có phần hơi “đàn ông”, chị là
hiện thân cho “lửa” của thảo nguyên - những con người có khả năng vùng lên để
thoát ra khỏi hoàn cảnh làm nô lệ cho những tập quán lỗi thời.
Đôi mắt vốn được coi là cửa sổ tâm hồn, nơi ẩn chứa những suy nghĩ thầm
kín nhất của con người. Trong Vì sao tôi viết tiểu thuyết? Lỗ Tấn viết: “Muốn vẽ
đặc điểm của một con người mà hết sức tiết kiệm đường nét thì hay nhất là vẽ
hai con mắt. Tôi cho rất đúng. Nếu vẽ cả bộ tóc, thì dù tinh tế như thật, cũng
chẳng có ý nghĩa gì” [28, 743], vì vậy Lỗ Tấn rất chú ý khắc họa đôi mắt để thể
hiện nội tâm và tính cách nhân vật.
Nếu về miêu tả hình dáng, trang phục, nước da, thím Tường Lâm là nhân
vật được miêu tả sự biến đổi ngoại hình biểu cảm nhất thì về đôi mắt, nhân vật
này cũng được nhà văn miêu tả tinh tế không kém. Đôi mắt của thím Tường
Lâm không giống đôi mắt lá liễu của các thiếu nữ với chỉ một dáng vẻ u sầu
trong văn học cổ, không giống “đôi mắt hạnh đào đen láy màu biêng biếc…
bừng lên sức sống hăng say của tuổi trẻ… [1, 26] của Giamilia trong Giamilia
của Aitmatôp, mà là một đôi mắt nói lên những nỗi đau thím phải gánh chịu và
những biến động tinh thần, sự biến đổi tính cách của người phụ nữ ấy qua từng
chặng đường đau khổ.
lọc nào. Đôi mắt thể hiện tính cách trong sáng, ngây thơ, hiền lành, nhu mì của
A Thuận.
Nhân vật người điên được miêu tả “có hai con mắt to mà dài, dưới cặp lông
mày rậm, ánh lên hơi khang khác, nhìn ai là cứ nhìn chằm chặp không chớp, mà
lại có vẻ đau xót, giận dữ, nghi ngờ, sợ hãi” [27, 212-213]. Đôi mắt to và dài
chứa đựng nhiều cảm xúc cùng một lúc phần nào thể hiện sự sáng suốt nhưng
14
cũng có sự rối loạn, bất ổn trong tâm hồn nhân vật. Đôi mắt như nhìn thấy sự mê
tín, chìm đắm trong những lề thói cũ của người dân thôn Cát Quang, chính vì vậy
mà đôi mắt “càng sáng quắc lên” [27, 208], “chớp chớp, sáng loáng” [27, 221]
một cách kiên quyết khi muốn thổi tắt ngọn đèn tỏa ánh sáng “cứ xanh lè lè”
[27, 209] làm mê muội người dân nơi đây.
Trong truyện ngắn Lỗ Tấn, nếu coi nghệ thuật khắc họa nhân vật là một cá
thể thì đôi mắt là điểm nhấn có chiều sâu nhất trong miêu tả ngoại hình nhân vật,
từ đó cho thấy tính cách, diễn biến trong nội tâm nhân vật.
Chỉ với một vài chi tiết miêu tả ngắn gọn về ngoại hình, Lỗ Tấn đã cho
người đọc thấy sự đa dạng trong tính cách của nhân vật. Đây là một thủ pháp
khá thông dụng mà hiệu quả trong văn học. Khi đọc Ông già và biển cả của
Ernest Hemingway, “thân hình gầy gò và khô đét, cái gáy sạm nắng của ông
hằn nhiều nếp nhăn to tướng và sâu hoắm. Cả khuôn mặt ông cũng cháy đen…
Hai bàn tay ông chi chít những vết sẹo sâu ” [11, 6] của ông lão Santiago, ta
thấy sự kiệt quệ của ông lão trước sự dữ dội trong những “cuộc chiến” với biển
cả, nhưng “đôi mắt màu xanh nước biển với những tia nhìn ấm áp, lấp lánh và
gan góc” [11, 6] đã át đi vẻ thiếu sức sống, mang đến cho ông lão một nội lực
mạnh mẽ, thể hiện sự gan góc, dũng cảm, dám đương đầu với sóng gió của
những con người ngày đêm vật lộn với thiên nhiên.
“Một nhân vật là gì nếu không phải là sự quy định cho hành động? Hành
động là gì nếu không phải là sự minh họa cho những nhân vật?” [33, 40], nhân
vật và hành động không thể tách rời. Cùng với việc miêu tả ngoại hình, miêu tả
hành động nhân vật cũng là một thủ pháp Lỗ Tấn sử dụng một cách hiệu quả để
Không chỉ với AQ, với các nhân vật khác, tính cách cũng được thể hiện
nhiều qua hành động. Trong truyện Ly hôn, hành động của cô Ái cũng cho thấy
tính cách và sự thay đổi trong tâm lí cô. Khi đi kiện người chồng phụ bạc, cô Ái
quyết liệt chống trả đến cùng, “vẻ giận dữ, ngửng đầu lên nói” [27, 224]. Nhưng
khi đến công đường, “cô Ái không dám nhìn, chỉ liếc qua” [27, 228], đến khi “cô
ta rùng mình một cái, vội dừng lại, không nói được nữa, vì cô ta thấy con mắt cụ
lớn Thất trợn tròn…” [27, 233]. Hành động của cô Ái rõ ràng có sự đối lập, nếu
trước cô hăng hái quyết tâm theo đuổi vụ kiện đến cùng với một ý chí sắt đá thì
khi đứng trước thế lực của quan lớn cô lại run sợ, trở nên nhỏ bé và chấp nhận
số phận. Thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc cũng vậy, thím chống đối quyết
liệt, thậm chí tìm đến cái chết khi bị mẹ chồng gả bán, nhưng không chống lại
được thì thím cũng cam chịu chấp nhận cuộc sống đó. Cả thím Tường Lâm và
Cô Ái đều có tính cách mạnh mẽ, có sự phản kháng bởi họ ý thức được bản thân
và quyền lợi của mình nhưng họ không triệt để, dễ thỏa hiệp trước thế lực mạnh.
Lỗ Tấn miêu tả hành động của người nông dân như AQ, cô Ái, thím Tường
Lâm và những người nông dân khác để qua đó nhân vật bộc lộ tính cách. Bên
cạnh việc miêu tả hành động người nông dân, xây dựng tính cách các nhân vật
người trí thức, Lỗ Tấn cũng sử dụng thủ pháp này như trong các truyện ngắn:
16
Tiếc thương những ngày đã mất, Cây trường minh đăng, Nhật kí người điên,
Con người cô độc, Khổng Ất Kỷ, Cao Phu Tử…
Trong Tiếc thương những ngày đã mất, tính cách nhân vật Tử Quân được
thể hiện đặc sắc qua hành động. Tử Quân có một tâm hồn ngây thơ trong sáng,
có lúc lại có suy nghĩ chín chắn, biết tự chịu trách nhiệm về số phận của mình
khi “nàng ngồi lặng suy nghĩ một lát, rồi nói như thế, hết sức rành rọt, kiên
quyết trầm tĩnh: người em là của em không ai có quyền can thiệp vào đời em
cả” [30, 333]. Điều đó phần nào toát lên sự mạnh mẽ trong tính cách của nàng.
Đặc biệt, nàng có nhiều hành động biểu lộ tính cách tự tin, dám khẳng định
mình: “Mắt nhìn thẳng về phía trước. Nàng bước đi một cách kiêu hãnh” [30,
334] hay “cứ khoan thai, bình tĩnh bước tới, thản nhiên như đi giữa chốn không
thể hiện qua ngôn ngữ.
1.2.1.3. Xây dựng tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ của nhân vật
và ngôn ngữ ngƣời kể chuyện
Trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ
nhân vật đan xen, có mối quan hệ chặt chẽ trong việc xây dựng nhân vật.
a. Xây dựng tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ của nhân vật
* Ngôn ngữ đối thoại
“Đối thoại là sự giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc nhiều hơn)”
[3, 129]. Trong văn học, đối thoại là sự tương tác bằng lời nói giữa các nhân vật
với nhau, qua đó bộc lộ ý chí, tư tưởng, tình cảm của nhân vật.
Trong AQ chính truyện, chủ yếu là đối thoại giữa AQ với một số nhân vật
khác, thường rất ngắn. Thua trong cuộc đụng độ với bọn vô công rồi nghề ở làng
Mùi, AQ tự hạ thấp mình: “Đánh con sâu! Được chưa! Tớ là sâu! Chưa thả ra
à?” [27, 98]. Trong lần gây sự với Vương Râu xồm, những lời đối thoại là
những lời mắng chửi, hạnh họe, gây sự. AQ mắng Vương Râu xồm: “Đồ sâu
róm!” [27, 103], nhưng khi Vương Râu xồm mắng lại: “Đồ chó ghẻ, mày mắng
ai đấy!”, “Thằng này lại ngứa xương ống rồi hẳn ”[27, 103-104], AQ sợ và rút
lui: “Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đi đấu sức?” [27, 103-104]. Hay trong lần
đi nhổ trộm củ cải ở chùa Tĩnh Tu, bị sư bà bắt quả tang, AQ cãi lại: “Ai nhảy
vào vườn nhổ trộm cải nhà bà? Bao giờ nào?”, “Đây là của nhà bà đấy à? Bà
gọi lên xem nó có thưa không?” [27, 120-121]. Qua những đoạn đối thoại ấy,
AQ hiện lên là một người vô học, có thói du côn chuyên gây sự bắt nạt người
khác, nhưng tính cách lại nhu nhược, không dám đấu tranh với kẻ mạnh hơn
mình. AQ như một con người dưới đáy xã hội, mang trong mình những tật xấu
của những người đã trở thành phế phẩm của xã hội.
Nhân vật thím Hai Dương trong Cố hương hiện lên với tính xấu qua cuộc
đối thoại với nhân vật “tôi”:
“Quên à? Phải, bây giờ cao sang rồi thì để ý đâu đến bọn chúng tôi nữa!
Thế thì tôi nói anh nghe nhé! Anh Tuấn này! Anh bây giờ sang trọng rồi, còn
cần quái gì thứ đồ gỗ hư hỏng này nữa. Chuyên chở lại lịch kịch lắm. Cho chúng
trạng trong xã hội hiện đại, vẫn còn những tồn đọng của xã hội cũ đang ngăn cản
sự phát triển của xã hội, tồn đọng ấy lại nằm trong tầng lớp trí thức, những con
người đáng lẽ phải tiên phong trong việc cải cách.
Rõ ràng, thông qua ngôn ngữ đối thoại, tính cách nhân vật hiện ra rõ hơn.
Nếu như cách miêu tả ngoại hình của nhân vật mới chỉ tạo nên hình dáng bên
ngoài, thì đối thoại phần nào tạo nên cái hồn của nhân vật.
19
Tính cách nhân vật không chỉ thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại của nhân vật mà
còn được thể hiện sâu sắc qua những lời nhân vật tự nói với bản thân, những suy
nghĩ thầm kín, đó là ngôn ngữ độc thoại nội tâm.
* Độc thoại nội tâm
Độc thoại nội tâm là “phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện
trực tiếp quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của
con người trong dòng chảy của nó” [10, 122]. Khi nhà văn để cho nhân vật của
mình độc thoại, nhân vật sẽ bộc lộ suy nghĩ về những vấn đề thầm kín thuộc về
bản thân và những người xung quanh mà chỉ khi nhân vật tự đối diện với bản
thân mình thì mới bộc lộ. Truyện ngắn của Lỗ Tấn cũng chú ý nhiều đến thủ
pháp độc thoại nội tâm, đây là sự chuyển biến lớn so với những tác phẩm văn
học trung đại.
Trong AQ chính truyện, lần AQ bị bắt lên huyện chém đầu, AQ nghĩ:
“Người ta sinh ra ở trong trời đất thì tất cũng có lúc bị dắt vào dắt ra trong
ngoài một cái trại giam, có lúc cũng phải nắm lấy một cái quản bút mà vẽ một
cái vòng tròn. Chỉ có vẽ không được tròn thì mới thật là cái vết dơ duốc trong
đời mình mà thôi” [27, 145], nhưng AQ lại tự an ủi: “Con cháu tớ ngày sau hẳn
là vẽ được tròn trĩnh hơn tớ” [27, 145]. Ngay cả khi biết mình bị chém, AQ còn
“cảm thấy rằng: người ta sinh ra trong trời đất, trước sau cũng có thể có một
lần bị chặt đầu!” [27, 148-149].
Những dòng độc thoại nội tâm cho thấy tính cách AQ: nhu nhược, sẵn sàng
chấp nhận thực tại, không dám đấu tranh, tự nghĩ những chuyện xảy ra xung
quanh như một lẽ thường phải xảy ra vậy. Đó cũng là điểm chung của rất nhiều