NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN QUA VỞ KỊCH “LÃO HÀ TIỆN” CỦA MOLIERE VÀ TIỂU THUYẾT “EUGENIE GRANDET” CỦA H.BALZAC - Pdf 13


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NGỮ VĂN
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
HÀ TIỆN QUA VỞ KỊCH “LÃO HÀ
TIỆN” CỦA MOLIERE VÀ TIỂU
THUYẾT “EUGENIE GRANDET” CỦA
H.BALZAC
SV. HÀ TỐ UYÊN
LỚP ĐH4C2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN QUA VỞ KỊCH
“LÃO HÀ TIỆN” CỦA MOLIERE VÀ TIỂU THUYẾT “EUGENIE
GRANDET” CỦA H.BALZAC


phẩm 4
1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
Moliere 4
1.2. Vài vét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của H.Balzac
9
2. So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn
học 13
cổ điển Pháp thế kỉ XVII và trong văn học hiện thực
phương Tây thế kỉ
XIX
2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển
Pháp thế kỉ
XVII. 13
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học hiện thực
phương Tây thế kỉ
XIX. 18 Chương 2: “HÀ
TIỆN” – NHÂN VẬT QUEN THUỘC TRONG
VĂN HỌC TÂY ÂU
1. Nhân vật Euclion trong vở “Cái nồi” của
Plaute 21 21

2. Nhân vật Sailock trong “Người lái buôn thành
Venise” 23
(Shakespeare)
3. H’Arpagon trong vở kịch “Lão hà
tiện” (Moliere) 25 25
4. Lão Grandet trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet”
(Balzac) 25
5. Nhận
xét 26

nhắc tới trong tác phẩm của mình, Moliere đứng đầu với 240 lần” (Theo
J.Belatre). Mặc dù sinh ra trong một gia đình tư sản hầu cận nhà vua, có một
cuộc sống khá vất vả và khó khăn nhưng bằng tài năng và lòng yêu thích nghệ
thuật đặc biệt là kịch, ông đã sáng tạo nên những tác phẩm để đời. Trong
những tác phẩm của ông chất hài kịch rất đậm nét. Thông qua tiếng cười để
phê phán, đả kích thói xấu xa của giai cấp quí tộc, tăng lữ, phong kiến Pháp,
thể hiện quan điểm của ông trước hiện thực xã hội. Những thăng trầm và trải
nghiệm trong cuộc sống đã là chất liệu và cảm hứng để Molier kiến tạo ra
những tác phẩm hài kịch đặc sắc.
Balzac, một nhà văn “thư kí của thời đại”, một nhà văn hiện thực xuất
sắc của Pháp thế kỉ XIX. Trong sự đa dạng và phong phú các tác phẩm của
Balzac, ta vẫn nhận ra được sự kế thừa và phát triển từ những bậc tiền bối
trước, đăc biệt có cả Molier. Hai tác phẩm, một là vở hài kịch “Lão hà tiện”
của Moliere và một là tiểu thuyết hiện thực “Eugenie Grandet” của Balzac có
những điểm tương đồng nhau trong cách xây dựng nhân vật hà tiện, tuy nhiên
cũng có những nét khá độc đáo mang phong cách riêng đã góp phần tạo nên
sự thành công không nhỏ của hai tác phẩm này. Tên của hai nhân vật
H’Arpagon và lão Grandet đã trở thành những danh từ được sử dụng khá quen
thuộc và phổ biến trong dân gian đặc biệt là ở Việt Nam, dùng để chỉ những
người giàu có nhưng keo kiệt và có phần tàn nhẫn.
Với đôi chút kiến thức đã học được cùng với sự yêu thích hai tác phẩm “Lão
hà tiện” và “Eugenie Grandet”, tôi xin mạnh dạn viết nên những cảm nhận về
cách xây dựng nhân vật hà tiện. Rất mong được sự đóng góp chỉ bảo của bộ
môn Ngữ văn và bạn đồng môn để luận văn này càng phong phú và hoàn thiện
hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cả hai tác phẩm “Lão
hà tiện” của Moliere và “Eugenie Grandet” của Balzac, điển hình như Đặng
Anh Đào với “Ônôre đờ Banzac và một thế giới bước đi” (NXB Trẻ – 2002),
Đỗ Đức Dục với chủ nghĩa phê phán trong văn học Phương Tây (NXBKHXH

với nền văn học Pháp ở trong hai thế kỉ XVII và thế kỉ XIX nói riêng và nền
văn học thế giới nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong một tác phẩm văn học có ít hoặc nhiều nhân vật, mỗi nhân vật đều có
vai trò khác nhau, thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Bên cạnh hàng loạt
nhân vật phụ còn có nhân vật chính, nhân vật thể hiện quan điểm tư tưởng của
nhà văn. Nhưng đôi khi, không hẳn nhân vật chính mới thể hiện điều đó mà
nhân vật phụ có vai trò khá quan trọng, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng
của nhà văn ví như lão Grandet chẳng hạn.
Trong luận văn này, đối tượng chính là vở hài kịch Lão hà tiện của Moliere và
tiểu thuyết hiện thực Eugenie Grandet của Balzac. Do vậy để tìm hiểu nghệ
thuật xây dựng nhân vật hà tiện người viết đi sâu vào tìm hiểu hai nhân vật
H’Arpagon và lão Grandet. 5. Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện qua hai tác
phẩm trên giúp ta nhận ra được một phần nào đó sự vận động và phát triển của
văn học. Đặt nó vào trong sự tương quan với những nhân vật hà tiện của nhiều
tác phẩm văn học ở một số nước giúp ta nhận ra được hành trình của những
nhân vật hà tiện ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua nghiên cứu xây
dựng nhân vật hà tiện giúp người đọc nhận thấy được bộ mặt của xã hội Pháp
thế kỉ XVII và thế kỉ XIX, thấy được sự ảnh hưởng giữa các nhà văn trong
quá trình sáng tác. Và có lẽ giúp ta hiểu được rõ hơn tại sao lại có những biệt
danh đựơc đặt cho nhiều người H’Arpagon hay lão Grandet.
Ta cũng thấy được sự khác biệt trong việc xây dựng nhân vật hài kịch và một
nhân vật tiểu thuyết hiện thực ở hai thế kỉ cách xa nhau.
Việc nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hà tiện có thể đã có
nhiều người nghiên cứu nhưng hy vọng luận văn này giúp người đọc tự mình
tìm được cái nhìn mới mẻ hơn, thấy được một cách đầy đủ hơn trong sự so

Mã cổ đại)
2. Nhân vật Sailoc trong “Người lái buôn thành Venise” của
Shakespeare
3. H’Arpagon trong vở kịch “Lão hà tiện” (Moliere)
4. Lão Grandet trong tiểu thuyết “Eugenie Grandet” (Balzac)
5. Nhận xét
Chương 3: MOLIERE XÂY DỰNG TÍNH CÁCH HÀ TIỆN. BALZAC
XÂY
DỰNG NHÂN VẬT HÀ TIỆN
1. Điểm giống nhau giữa hai nhân vật H’Arpagon (Moliere) và lão
Grandet
(Balzac)
2. Điểm khác nhau giữa hai nhân vật
2.1. H’Arpagon tính cách hà tiện
2.2. Lão Grandet nhân vật hà tiện
3. Cách nhìn của mỗi nhà văn đối với nhân vật hà tiện
3.1. Molier
3.2 .H.Balzac
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HAI TÁC GIẢ
1. Tác gia – Tác phẩm
1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Moliere
1.1.1. Cuộc đời
Moliere là một tên tuổi lớn của chủ nghĩa cổ điển Pháp, của lịch sử văn học
Pháp và của lịch sử sân khấu thế giới. Hoạt động chủ yếu vào cuối thế kỉ XVII
cùng thời với Boileau, La Fontaine, Racine, Moliere đem đến cho văn đàn
Pháp những cống hiến rất lớn với tư cách là nguời sáng lập ra hài kịch cổ điển

sự, thể hiện tài năng nghệ thuật của bản thân. Moliere–người diễn viên, người
đạo diễn, người sáng tác kịch bản, người lãnh đạo đoàn kịch- đã trưởng thành
lên sau một quãng thời gian dài gian khổ, khó khăn.
Từ năm 1650, Moliere đã trở thành người đứng đầu đoàn kịch và đã có điều
kiện xây dựng dần một số tiết mục sân khấu đặc sắc. Ông bắt đầu viết những
kịch hề và hài kịch trong đó có vận dụng những kinh nghiệm của kịch mặt nạ
Italia về kĩ thuật, về hành động về tính cách. Những vở kịch đầu tay của
Moliere: Chàng ngốc (1655), Ghen (1656) đã báo hiệu một tài năng xuất sắc.
Thành công của đoàn kịch vang đến tận thủ đô Paris. Năm 1658, đoàn được
vua vời về thủ đô. Chính nơi này Moliere đã cho ra mắt vở kịch hề Thầy
thuốc si tình. Với sự hấp dẫn của nó thì đoàn kịch Moliere đã chinh phục được
triều đình và họ được ở lại Paris, được dành cho rạp hát của triều đình là
Peautit Buorbon để biểu diễn. Sau một năm hoạt động vừa diễn vở cũ đồng
thời tuyển thêm diễn viên mới. Năm 1659 Moliere đã mạnh dạn đưa lên sân
khấu vở kịch Những ả kiểu cách rởm. Với ý nghĩa phê phán rõ nét của nó thì
ông đã vấp phải sự căm ghét của bọn quý tộc phong kiến, cho dù đối tượng
mà ông nói tới chỉ là những bọn quý tộc giả mà thôi. Từ đây cuộc đời Moliere
chuyển sang một trang mới, một giai đoạn mới – giai đoạn đấu tranh xây dựng
một nền sân khấu dân tộc hiện thực tiến bộ. Những tác phẩm của ông bắt đầu
hướng vào bọn quý tộc nhà thờ, chế độ chuyên chế. Có lẽ vậy mà ông đã phải
đấu tranh không ngừng để chống lại sự phản ứng quyết liệt điên cuồng của
chúng. Đồng thời cũng phải với những tác gia, những diễn viên kình địch
không ngớt lên án ông là không tôn trọng qui tắc cổ điển, báng bổ tôn giáo, vi
phạm những qui tắc hợp thức và làm hại sân khấu thẩm mĩ. Chính những gian
nan thử thách này đã tô luyện tài năng và khả năng sáng tạo của Moliere, ông
đã trở thành nhà sáng tác vĩ đại, nhà nghệ sĩ lão luyện, nhà tổ chức và giáo
dục có tài.
Năm 1662, cho diễn vở Trường học làm vợ lên án quan điểm phong kiến vô
nhân đạo, trái tự nhiên nhưng vô hiệu quả trong việc giáo dục phụ nữ. Vấp
phải sự phản ứng quyết liệt từ bọn phản động và cả những thành viên của rạp

Giai đoạn 1659–1663 là giai đoạn nhà văn bắt đầu nổi tiếng. Vở Những bà
kiểu cách rởm (1659) làm náo động kịch trường, chế giễu những ả con cái gia
đình thị dân nhưng lại thích ăn nói, sinh hoạt, yêu đương theo kiểu quí tộc.
Sau vở Trường học làm chồng (1661) nêu lên cuộc đấu tranh giữa hai quan
điểm về hôn nhân và gia đình, giáo dục con cái, là vở Trường học làm
vợ (1662) phê phán thói ngu dân, áp chế sặc mùi phong kiến trong việc giáo
dục phụ nữ. Bị công kích mạnh mẽ, Moliere đáp lại bằng hai vở kịch Phê bình
trường học làm vợ (1663) và kịch ứng tác ở Vecxay (1663).
Giai đoạn 1664 – 1666 là giai đoạn xuất hiện nhiều vở kicỵ kiệt tác chĩa mũi
nhọn về phía các thế lực đang thống trị. Tartuffe (Tartuffe,1664) vừa ra mắt
đã bị cấm đoán, bị lên án là chế giễu những người sùng đạo, báng bổ tôn
giáo. Don Juan, 1665 lấy tên nhân vật chính, một nhân vật vừa có tư tưởng tự
do vô thần, vừa là hiện thân của bọn quí tộc hết thời tham tàn, phóng đãng và
hết sức trơ trẽn. Đến Anh ghét đời (1666) nhà văn phê phán toàn bộ xã hội
thượng lưu bằng cách lựa chọn nhân vật trung tâm Aleeste là một anh ghét
đời, dưới mắt anh tất cả đều giả dối, ích kỉ và phản trắc.
Giai đoạn 1667–1673, nhà văn chuyển hướng, chĩa mũi nhọn vào giai cấp tư
sản qua các vở Lão hà tiện (1668) với nhân vật H’Arpagon cho vay nặng lãi
và keo kiệt, vở Trưởng giả học làm sang (1670) với nhân vật Juocdan muốn
học đòi quí tộc và vở Người bệnh tưởng (1673) với nhân vật lão Argan mắc
chứng bệnh tưởng tượng làm cho khán giả cười nôn ruột.
Vở kịch “Lão hà tiện”
Moliere đã để lại cho đời sau nhiều nhân vật bất hủ, những nhân vật quen
thuộc trong ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ hàng ngày của dân chúng
“H’Arpagon” là trong những nhân vật ấy. Một Hacpgon có nghĩa là một người
hà tiện, keo bẩn và tàn ác đến mức mất cả tính người. H’Arpagon là nhân vật
chính của vở hài kịch Lão hà tiện (1668).
H’Arpagon là một người làm giàu bằng nghề cho vay nặng lãi, lão góa
vợ có một con trai và một con gái, lão rất giàu có nên có cả gia nhân đày tớ và
xe ngựa. Song lão không muốn chi tiêu cho ai, cho bất cứ việc gì. Con trai lão,

những nhà văn Ánh sáng như Diderot, Rousseau…vào trường luật, ông vẫn
theo các giáo trình văn–sử-triết ở đại học Sorbonne. Ra trường, ông không đi
làm luật sư mà theo đuổi con đường văn chương. Chính vì vậy, cha ông đã bắt
buộc ông trong hai năm phải chứng tỏ tài năng văn chương của mình. Và ông
lao vào sáng tác trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn và thiếu thốn trên một
gác xép lụp sụp nhưng đó lại là dịp để ông tiếp xúc với cuộc sống của những
người nghèo khổ. Ông đã từng nói: “Tôi cảm thấy như mình đang mặc chiếc
áo rách rưới của họ, mang những đôi giày thủng đế của họ”, “chỉ có những
tâm hồn bị người đời không hiểu và những người nghèo là biết quan sát vì tất
thảy đều làm họ mếch lòng và vì sự quan sát là do một nỗi đau khổ. Trí nhớ
chỉ ghi kĩ những gì là đau thương”.
Vở kịch đầu tay bị thất bại nhưng ông không thất vọng. Ông chuyển sang viết
tiểu thuyết đen, tiểu thuyết phiêu lưu để kiếm sống. Rồi thấy không thể sống
bằng ngòi bút ông chuyển sang kinh doanh xuất bản, mở nhà in, đúc chữ…
Cuối cùng thua lỗ, ông phải bán cả nhà in.
Có thể nói, trong mười năm đầu bước vào đời ông gặp phải đầy những thất bại
chua cay nhưng đó lại là mười năm tích lũy vốn sống, rèn luyện tay nghề “tôi
có được một khả năng quan sát mạnh mẽ là vì tôi đã bị quăng vào đủ loại
nghề nghiệp”, “tôi sống một cuộc đời lao động say mê. Lao động là tất cả đối
với tôi”. Balzac có một khả năng làm việc phi thường. Hàng ngày ông thường
làm việc từ 12 giờ khuya đến 8 giờ tối ngày hôm sau chỉ nghỉ 4-5 tiếng đồng
hồ mỗi ngày. Hàng chục tác phẩm ra đời trong một năm là thành quả của sự
lao động miệt mài và không mệt mỏi của ông.
Ông bắt đầu nổi tiếng năm 30 tuổi với tác phẩm: Những người Chouans(1829)
miêu tả cuộc nổi loạn của giai cấp quí tộc và sự thắng lợi của lực lượng dân
chủ. Rồi hàng loạt tác phẩm xuất sắc khác lần lượt ra đời:Gobseck (1830)
khắc họa hình ảnh người cho vay nặng lãi, Miếng da lừa(1831) nói về những
con người có mơ ước về một cuộc sống giàu sang nhưng bị tan vỡ, tiểu thuyết
hiện thực Eugenie Grandet (1832) phơi bày tấn bi kịch về sự băng hoại của
đồng tiền đối với con người…

Phần I : Khảo luận phong tục
1. Những cảnh đời tư
Gobseck, Nhà con mèo chơi bóng (1830), Người đàn bà ở tuổi ba mươi
(1831), Đại tá Sabert (1832), Lão Griot I, II (1934,1935), Lễ cầu hôn của kẻ
vô thần (1836)…
2. Những mảnh đời tỉnh lẻ
Cha xứ ở Tours (1832), Eugenie Grandet (1833), Bông huệ nơi thung lũng
(1835), Căn phòng chứa đồ cổ I (1836), Ảo mộng tiêu tan (1837), Cô gái già
(1838)…
3. Những cảnh đời Paris
Xazazin (1831), Nữ công tước De Langie (1834), Cô gái mắt vàng (1835),
Faxino Can (1836), Những viên chức (1837), Nhà ngân hàng Nucingen
(1838), Vinh và nhục của người kĩ nữ I (1839), Mặt trái của lịch sử hiện đại
(1842), Một tay buôn bán (1845), Ông anh họ Pon (1847)…
4. Những cảnh đời chính trị
Một giai đoạn của thời kì khủng bố (1830), Maccar (1841), Đại biểu ở Acxi
(1847)…
5. Những cảnh đời nhà binh
Những người Chouans (1829), Mối đam mê nơi sa mạc…
6. Những cảnh đời nông thôn
Người thầy thuốc ở nông thôn (1833), Người cha xứ nông thôn I (1838),
Người cha xứ ở nông thôn II (1839)…
Phần II : Khảo luận triết học
Thuốc trường sinh (1830), Kiệt tác chưa ai biết tới (1831), Miếng da lừa
(1831), Quán đỏ (1831), Gia đình Manara (1832), Louis Lambe (1833), Đi tìm
cái tuyệt đối (1834), Menmot quy thiện (1835), Đứa con bị nguyền rủa (1836),
Maximilia Đoni (1839)…
Phần III : Khảo luận phân tích
Sinh lí học hôn nhân (1829), Những nỗi phiền hà của cuộc sống vợ
chồng (1845).

Em trai Grandet ở Paris bị phá sản, trước khi tự tử đã gửi con trai là
Charles về Saumur nhờ lão cưu mang nhưng lão đã vội tống khứ Charles đi
Ấn Độ để rảnh nợ và giữ nợ cho y để sau này y tự trả. Trong thời gian ngắn ở
lại nhà bác, tình cảm giữa Charles và Eugenie đã nảy nở thành tình yêu. Biết
là Charles phải sang Ấn Độ nơi mảnh đất xa xôi, Eugenie đã giấu cha đem số
vàng mình dành dụm được trao cho Charles làm vốn kinh doanh. Khi Grandet
biết chuyện thì đã nhảy lồng lên và giam ngay con gái vào buồng kín chỉ cho
uống nước lã và bánh mì lạt. Bà Grandet vì đau buồn mà mất. Sợ vợ chết con
đòi gia tài lão liền giảng hòa với con. Sau khi lão mất thì chỉ còn Eugenie
sống bơ vơ với hy vọng là sẽ đón nhận được tình yêu của Charles khi anh ta từ
Ấn Độ trở về.
Sau bảy năm sống ở Ấn Độ, Charles đã kiếm được một số tiền
lớn nhưng đã thay đổi bản tính. Trên đường về Paris hắn đã đính hôn với một
cô gái quí tộc nhưng xấu xí nhằm kiếm chân trong xã hội thượng lưu đang là
mốt thời đó và quên hẳn mối tình đầu với Eugenie. Tuy bị phụ bạc nhưng
Eugenie vẫn đem tiền lên Paris trả nợ cho hắn, rồi sau đó kết hôn với một
người mà cô không hề yêu. Năm 33 tuổi thì Eugenie đã phải sống cuộc đời
góa bụa
Tiểu thuyết Eugenie Grandet là một trong những tiểu thuyết thành
công của Balzac, tác phẩm đã tạo nên một điển hình keo kiệt, bủn xỉn – lão
Grandet. Tác giả đã phơi bày thói tham lam, keo bẩn lại hám tiền, xem tiền
như là mạng sống của giai cấp tư sản. Grandet tạo nên một hình tượng rất thật
và hết sức sinh động về giai cấp tư sản với sự sùng bái tiền bạc như một thứ
tôn giáo. Tác phẩm phơi bày sức mạnh nghiệt ngã của đồng tiền, chính nó đã
hủy hoại tâm hồn con người, giết chết những tình cảm thiêng liêng nhất và có
thể biến chất con người. Quá trình Grandet làm giàu cũng là quá trình phất lên
của giai cấp tư sản sau đại cách mạng Pháp 1789, đó cũng là quá trình tích lũy
tiền tư bản trong điều kiện lịch sử mới.
2. So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển Pháp thế
kỉ XVII và trong văn học phương Tây thế kỉ XIX

thống nhất, chống lại cường quyền và áp bức. Vừa chống lại cung đình vừa
chịu ảnh hưởng của cung đình đó là những mâu thuẫn cơ bản của văn học cổ
điển Pháp thế kỉ XVII. Chịu ảnh hưởng tiêu cực của triết học duy lí
Descartes, các nhà văn cổ điển trong khi xây dựng tính cách nhân vật không
nhận thức được rõ ệt hoàn cảnh lịch sử quy định một phần tính cách hân vật,
họ tưởng rằng lí trí con người có khả năng khôi phục tự nhiên xã hội đưa loài
người đến tự do, hạnh phúc.
Hài kịch là một trong những thể loại thành công nhất và phát triển nhất
của văn học cổ điển Pháp. Để phục vụ cho việc nghiên cứu tìm hiểu đề tài,
luận văn này xin đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong hài
kịch cổ điển Pháp.
Hài kịch là kịch dùng hình thức gây cười để chế giễu hoặc đả kích
những thói xấu, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Ở Châu Âu, trước chủ
nghĩa cổ điển hài kịch chỉ những tác phẩm ngược với bi kịch và nhất thiết phải
có một kết cục vui vẻ (có hậu), các nhân vật hài kịch thường thuộc về tầng lớp
thấp kém. Trong nhiều hệ thi pháp hài kịch được xác định như một thể loại
bậc thấp (đối lập với thể loại bậc cao là bi kịch). Ở Văn học thế kỉ Ánh sáng,
tương quan đó bị phá vỡ bởi việc thừa nhận kịch bậc giữa, tức là kịch thị dân.
Ở thế kỉ XIX và nhất là thế kỉ XX, hài kịch là thể loại rất tự do và đa dạng.
Ở các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị
trí thân phận của nó và do vậy nó đáng là nạn nhân của tiếng cười. Tiếng cười
hạ uy tín của nhân vật ấy và bằng cách này tiếng cười thể hiện sứ mệnh lí
tưởng của mình. Phạm vi của hài kịch rất rộng, từ châm biếm chính trị đến hài
hước vui nhộn nhẹ nhàng. Tuy nhiên ở loại hài kịch có nội dung xã hội sâu
sắc thì sự đồng cảm sẽ lấn át tiếng cười và hài kịch sẽ biến thành chính kịch.
Các tính cách trong hài kịch thường được miêu tả một cách đậm nét, cận cảnh,
trạng thái tĩnh của tính cách và những nét gây cười của nó sẽ được nhấn mạnh.
Có rất nhiều thể loại hài kịch như hài kịch tính cách, hài kịch phong tục, …
Những hài kịch Cổ điển thường kết hợp với chất hài của tính cách (ví dụ như
hài kịch của Moliere).

thâm thúy, những truyền thống của kịch hề dân gian với những sáng tạo gắn
liền với thời đại.
Moliere đã sáng tạo ra hài kịch cổ điển Pháp. Với Moliere hài kịch đã
đạt được tới một trình độ rất cao đủ tư cách đứng ngang hàng với bất cứ một
thể loại sáng tạo nào khác. Chịu những ảnh hưởng của những tư tưởng triết
học lớn, tham gia tích cực vào việc dựng lên bộ mặt văn hóa, văn nghệ có tính
dân tộc Pháp dưới sự lãnh đạo tập trung của Nhà nước dân chủ chuyên chế
Pháp, sáng tạo theo đường lối phương châm chung của những nhà cổ điển chủ
nghĩa mà ông thường tiếp xúc, đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của thời đại.
Moliere đã cống hiến cho chủ nghĩa cổ điển bằng những sản phẩm riêng của
mình–những hài kịch cổ điển ưu tú được đông đảo công chúng Pháp thế kỉ
XVII và ngày nay hâm mộ. Moliere từng xác định “nhiệm vụ của hài kịch là
miêu tả, nói chung những thói xấu của con người và chủ yếu là của con người
thế kỉ chúng ta” (Kịch ứng diễn ở Verseille), “thể hiện trong lòng chủ nghĩa
cổ điển một cuộc cải cách về hài kịch trên cơ sở chủ nghĩa hiện thực”
(Mokouski). Nếu các cổ điển chủ nghĩa chạy theo “cái như thực” mà bỏ rơi
“cái thực” thì “Moliere là nhà hiện thực có ý thức” (P.Daix).
Như vậy đến Moliere thì hài kịch cổ điển Pháp mới thực sự phát triển
với những tác phẩm nổi tiếng: Tartuffe, Lão hà tiện, Trưởng giả học làm sang,
Người bệnh tưởng…
Moliere là người có đóng góp quan trọng trong phát triển văn học
Pháp thế kỉ XVII.
Một bộ phận quan trong trong gia tài hài kịch của Moliere là những hài
kịch tính cách. Những hài kịch này phản ánh xu hướng đi vào lòng người, mô
tả tâm lí, nghiên cứu tự nhiên của chủ nghĩa cổ điển nói chung. Để làm rõ các
tính cách khiến chúng điển hình trong khuôn khổ của sân khấu cổ điển,
Moliere đã chọn con đường riêng. Ông tập trung cao độ vào tính cách nhân
vật, thậm chí vào nét cơ bản trong tính cách nhân vật. Ông tước bỏ những chi
tiết phụ, rắc rối, đối lập không lợi cho sự chú ý theo dõi và xây dựng tính
cách. Trong hài kịch tính cách của Moliere chỉ còn thấy hiện lên một tính cách

cũng thấy một đầy tớ làm hề để cù khán giả, trong tất cả vở kịch ngày nay của
chúng ta, bao giờ cũng phải có một hầu tước lố bịch để mua vui thiên hạ”
(Kịch ứng tác ở Verseille). Thay đổi về chất trong hài kịch, Moliere đã hướng
ngòi bút tới ba đối tượng chính là: quí tộc, tăng lữ, tư sản.
Bên cạnh bi kịch, thơ ngụ ngôn…, hài kịch là một trong những thể
loại phát triển nhất của nền văn học Pháp thế kỉ XVII. Moliere đã khẳng định
vai trò của mình trong nền văn học Pháp nói riêng và văn học thế giới nói
chung.
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học hiện thực Phương Tây
thế kỉ
XIX
Trong văn học Phương Tây và trong văn học thế giới nói chung, chủ
nghĩa hiện thực với tư cách là một phương pháp sáng tác vừa là một trào lưu
văn học có vai trò và vị trí trất quan trọng. Một mặt, trên dòng văn học hiện
thực phát triển qua các thời đại, văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện như
đỉnh cao nhất của thời đại Tư bản chủ nghĩa, trước khi chủ nghĩa hiện thực xã
hội chủ nghĩa ra đời kể từ những năm ba mươi của thế kỉ XIX. Và khi nó sinh
ra ở Phương Tây vào lúc giai cấp tư sản bước lên vị trí thống trị, rồi trải qua
ba giai đoạn phát triển từ hình thái hiện đại, chủ nghĩa hiện thực phê phán
ngày càng trở nên phổ biến khi chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống toàn thế
giới và cho tới nay nó đã cung cấp cho kho tàng văn học loài người hàng loạt
những tác gia và tác phẩm xuất sắc, hết sức đa dạng. Đặc biệt thể loại tiểu
thuyết.
Văn học hiện thực phê phán xuất hiện sau năm 1820 dưới thời Trung
Hưng phát triển mạnh mẽ đến những năm 60 và có thể chia làm hai thời kì
trước và sau năm 1848. Sau cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830, chính quyền
thuộc về giai cấp đại tư sản mà Marx gọi là “quí tộc tài chính”. Đồng tiền
thống trị trong mọi lĩnh vực xã hội với quyền lực và sức mạnh tha hóa của nó.
Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra và giai cấp công nhân dần trưởng thành
đã dẫn đến cuộc cách mạng tháng 6 năm 1846. Giai đoạn trước năm 1848 là

hoàn cảnh hoang đường, hư ảo.
Về phương diện miêu tả những tính cách điển hình, các nhà hiện thực
cố gắng bảo vệ tỷ lệ của hoàn cảnh sống thực, miêu tả nhân vật trong sự liên
hệ phức tạp và trong mối quan hệ cụ thể lịch sử, trong sự phát triển của nó.
Tính cách của các nhân vật đều hình thành và phát triển trong những hoàn
cảnh điển hình.
Các nhà văn đã dần dần từ bỏ tính chất ước lệ lãng mạn mà thừa nhận
tính chất bất khả chiến thắng của những qui luật khách quan quyết định số
phận và tính cách của các nhân vật.
Trong khi miêu tả một cách chân thực cuộc sống, các nhà hiện thực thế
kỉ XIX đã lên tiếng phê phán, tố cáo xã hội tư sản. Balzac lên án đồng tiền
trong xã hội đó , lên án giai cấp tư sản đã biến tất cả những quan hệ tình cảm,
gia đình…thành ra “những quan hệ tiền nong đơn thuần”. Đíckenx đập mạnh
vào tính chất giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản Anh và tố cáo tội ác của
bọn giàu có.
Các nhà văn hiện thực phê phán bằng những hình tượng nghệ thuật, ở
mức độ này hay mức độ khác đều có nói đến thực chất của xã hội tư sản.
Các nhà văn hiện thực đi sâu vào phân tích tâm lí nhân vật dựa vào
nghiên cứu thực tại khách quan, lựa chọn chi tiết chân thực, đồng thời tôn
trọng những điều kiện lịch sử cụ thể và quan tâm đến sự phát triển lịch sử mới
đạt được những nhân vật hết sức sinh động, có chiều sâu, những nhân vật
hiện thực rất điển hình mà cũng có cá tính sắc nét, tính cách được hình thành
và biến chuyển của hoàn cảnh thực tại khách quan. Đó là những Julien Sorel,
Mathindez de la Maule De Renant trong Đỏ và đen của Standhal, hay những
Grandet, Gobsecs, Nucingen, Goriot, De Rastignac, Vaut’rin… trong bộ Tấn
trò đời của H.Balzac.
Hơn bất kì thể loại văn học nào, tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa với
khả năng, tham vọng và cũng là nhiệm vụ của nó là mô tả toàn bộ cuộc đời,
phản ánh tổng số đời sống xã hội, không thể không đạt tới khách quan hóa,
điển hình hóa, tới nhân vật điển hình. Mà thực sự trong văn học hiện thực, chủ

Mở đầu bằng một cảnh tự ngôn giáo đầu: Vị thần La (thần thổ địa,
thần giữ của) ở nhà Euclion kể cho khán giả nghe, ông nội của Euclion có
chôn một kho vàng trong nhà và giao cho thần gìn giữ bảo quản, trông coi.
Tính lão keo kiệt quá mức cho nên đến khi chết cũng chẳng muốn cho con trai
kho vàng đó. Con trai của lão, bố của Euclion lại còn keo kiệt hơn ông nội
nữa, nên đối xử với thần La rất tồi tệ, chẳng thèm để ý tới và dâng lễ vật cũng
không ra gì nữa. Thần La tức giận nên đã trả thù không nói cho hắn biết kho
vàng ở đâu. Đến Euclion cũng vậy, thần La chẳng được đối xử tốt hơn. Tuy
nhiên con gái của hắn là Phedrie đối xử với thần La rất thành kính. Vì thế để
trả ơn người con gái nghèo đó, thần La đã cho Euclion kho vàng để Phedrie
nhờ đó sẽ dễ dàng lấy chồng vì có của hồi môn lớn. Nhưng Phedrie lại gặp
chuyện không may. Trong đêm hội Sorex, một thanh niên quí tộc tên là
Lyconide đã say sưa quá trớn đến nỗi cưỡng hiếp Phedrie, khiến cô này có
mang. Trong khi Phedrie lại hoàn toàn không biết kẻ đã xúc phạm mình là ai,
tông tích thế nào và Euclion cũng không hề biết tới những chuyện lôi thôi mà
con gái mình mắc phải. Lúc này thần La hứa sẽ giúp đỡ Phedrie bằng cách sẽ
sai khiến Mégadore – cậu của Lyconide một thương nhân góa vợ, chán ghét
thói xa hoa, đua đòi đến xin cưới Phedrie, để từ đó Lyconide có thể biết
chuyện, thay đổi được tình hình và cứu Phedrie dễ dàng.
Sau cảnh tự ngôn giáo đầu là 5 hồi kịch liên tiếp thể hiện tính cách hà
tiện của Euclion và câu chuyện nhân duyên từ Megdore–Phedrie đến
Lyconide–Phedrie. Từ khi có cái nồi vàng trong tay, lão Euclion ngày đêm lo
ngại, sợ sệt lũ đầy tớ của mình, lão lúc nào cũng có thể nghi ngờ hết đứa nọ
đến đứa kia sợ chúng dòm ngó và biết chỗ lão chôn vàng. Khi Megadore đến
gặp Euclion để “ăn hỏi” thì lão ta lại nghĩ là đến để tìm cách ăn cắp cái nồi
vàng, được biết Megadore xin cưới con gái, không đòi của hồi môn thì lão
mừng rỡ ra mặt và ưng thuận liền. Thậm chí bữa tiệc cưới cũng do Megadore
gánh chịu hết mọi khoản kinh phí từ việc mua sắm đến cử cả đầu bếp sang nấu
nướng. Lão quyết trong bữa tiệc chỉ uống nước lã đề phòng Megadore dùng
kế chuốc cho hắn say để cướp đoạt nồi vàng.

trong chuyện tình cảm, phải khổ đau như thế nào. Nhưng người đọc cũng vui
mừng khi tới cuối tác phẩm Euclion đã nhận ra keo kiệt có ảnh hưởng như thế
nào tới cuộc sống của mình và người thân.
Đây thực sự là một vở kịch hết sức có ý nghĩa, nó giúp người đọc hiểu
hơn về con người và những tính cách của con người trong cuộc sống, tự rút ra
cho mình những bài học đạo đức để hoàn thiện tính cách mỗi người.
2. Nhân vật Sailock trong “Người thương nhân thành Venise” của
Shakespeare
Chiếm một vị trí đặc biệt trong hài kịch của Shekespeare. Tác giả kết
thúc vở kịch bằng tiếng cười chào mừng thắng lợi. Mặc dầu vậy, hình ảnh của
Sailock với tâm địa độc ác, tàn nhẫn của hắn vẫn ám ảnh tâm hồn người xem,
đè nặng lên họ không phải chỉ như một ác mộng thoáng qua mà như một mối
đe dọa khủng khiếp.
Câu chuyện kể lại như sau: Antonio là một thương gia giàu có và nổi
tiếng hào hiệp ở Venise. Để giúp bạn là Baxanio đến xứ Benmont và cầu hôn
nàng Porcia, Antonio vì không sẵn tiền mặt đành phải đến vay Sailock, một gã
Do Thái chuyên cho vay nặng lãi nổi tiếng là keo kiệt và tàn nhẫn.
Sailock xưa nay vẫn căm ghét Antonio đã làm hắn thua thiệt rất nhiều
(chàng sẵn sàng cho vay không lấy lãi hoặc giúp đỡ tiền nong một cách hào
phóng), hơn nữa chàng từng làm nhục hắn, nhổ nước bọt vào hắn, xúc phạm
đến cả dòng giống hắn. Hắn thuận cho Antonio vay với điều kiện, nếu đến kì
hạn mà chàng không trả đủ tiền thì chàng phải cho hắn xẻo ½ livrơ thịt trên
người chàng, xẻo ở chỗ nào mà hắn thích.
Chuyện xảy ra theo y như dự kiến của hắn, Antonio không có tiền trả
nợ. Hắn bèn kiện ra tòa. Ở phiên tòa, mọi người đều khuyên hắn nên có lòng
thương người nhưng hắn khăng khăng đòi phải thi hành cam kết, nghĩa là phải
để hắn xẻo thịt Antonio. Phiên tòa bế tắc trong im lặng ngột ngạt. Giữa lúc đó
Baxanio về. Chàng nghe tin Antonio lâm nạn nên vội vàng từ giã Porcia, giờ
đây đã là vợ mới cưới của chàng – để về Venizo cứu bạn. Chàng ném trả tiền
cho Sailock– hắn từ chối. Chàng bèn cho hắn gấp đôi và có thể trả hắn gấp

người, có lẽ vậy thế giới loài người không thuộc về hắn mà ngược lại với lịch
sử tiến hóa hắn thuộc thế giới loài quỉ dữ. Shakespeare đã hơn một lần gọi
đích danh hắn là quỉ ác.
Một số nhà phê bình cho rằng với việc xây dựng nhân vật Sailock như
vậy, Shakespeare đã bộc lộ tư tưởng bài Do Thái của ông. Đây chưa hẳn là
một nhận định đúng, không ở đâu trong vở hài kịch này quyền làm người của
người Do Thái lại được khẳng định rõ ràng đến thế, hùng hồn đến thế : “ta là
một người Do Thái. Vậy người Do Thái không có mắt à ? Người Do Thái
không có mặt mũi, tay chân như một giáo dân Cơ đốc à ? Về mùa hè nó không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status