Tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trước cách mạng - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC

NGUYỄN THU HÀ TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA
NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004 Haứ Noọi - 2004

MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NGUYÊN HỒNG - NHÀ VĂN CỦA LÒNG THƯƠNG CẢM THỐNG THIẾT ĐỐI
VỚI CON NGƯỜI.
1.1. Chủ nghĩa nhân đạo - Cảm hứng chủ đạo trong sáng
tác của Nguyên Hồng. 13
1.1.1. Nguyên Hồng viết văn vì lòng thương cảm những
kiếp người cùng khổ. 13
1.1.2. Nguồn gốc cảm hứng thương cảm đối với con người
của Nguyên Hồng. 16
1.2. Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng. 19
1.2.1. Con đường nghệ thuật nhất quán. 19
1.2.2. Bức tranh xã hội và nhân sinh 22
1.2.3. Những nhân vật cùng khổ: 24
1.3. Tình huống gợi lòng thương cảm 26
CHƯƠNG II
NGÒI BÚT HIỆN THỰC GIÀU CHẤT LÃNG MẠN
2.1. Nội dung tình cảm dạt dào sôi nổi: 32
2.1.1. Tấm lòng nồng nhiệt của nhà văn đối với nhân vật 32
2.1.2. Tình cảm mãnh liệt của kiểu "nhân vật trữ tình mang
vẻ đẹp truyền thống”. 35
2.2. Ngòi bút hiện thực thấm đượm chất thơ. 37

C. KẾT LUẬN 88
D. PHỤ LỤC
1. Nguyên Hồng - thân thế và sự nghiệp (1918 - 1982) 94
2. Hai lần về mái nhà xưa của tác giả "Những ngày thơ ấu". 97

-THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CHUYẾN ĐI THĂM GIA ĐÌNH NGUYÊN
HỒNG LẦN THỨ 3
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài và mục đích nghiên cứu (hay lý
do chọn đề tài).
Trước Cách mạng, Nguyên Hồng thuộc vào loại hiếm hoi, không nói là
duy nhất ở nước ta, từ trong đám đông người nghèo đói, đau khổ, lầm than
vươn lên thành nhà văn. Ông đi theo dấu chân của nhà văn vĩ đại, người mở
đường của nền văn học hiện thực XHCN trên đất nước Xô Viết: M.Gorki.
Chính vì vậy, độc giả Việt Nam đã yêu mến gọi Nguyên Hồng là "Gorki của
Việt Nam".
Điều này càng có giá trị khẳng định Nguyên Hồng là một nhà văn lớn,
có vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.
Mà "Cuộc đời ấy thực sự là món quà tặng của lớp người cần lao cho văn học
Việt Nam hiện đại" (Vương Trí Nhàn).
Tuy cuộc đời của Nguyên Hồng bị khổ sở, cơ cực từ tấm bé nhưng ông
vẫn yêu cuộc sống, yêu thiết tha, yêu say đắm. Yêu tất cả mọi biểu hiện của
sự sống bằng tất cả tâm hồn và giác quan của mình. Ông nhiệt tâm với cuộc
sống: "Sống hiểu theo cái nghĩa phải viết nó ra thành sách". (Nguyễn Tuân).
Người ta dễ nhận thấy Nguyên Hồng là con người rất cởi mở, giàu khả năng

nào, ông cũng sẵn sàng cống hiến cho công việc ấy với tất cả niềm say mê của
tâm hồn mình.
"Dường như bằng mỗi dòng văn của mình, ông muốn bảo vệ cái gì đó
sống thoát khỏi cái chết" (Nguyễn Tuân).
Khi viết về những người lao động cùng khổ, ông không nghiêng xuống
những người nghèo khổ để thương hại hoặc tô vẽ cho cuộc sống lao động cực
nhọc một vẻ dịu dàng nên thơ, mà ông đã xoáy sâu đến tận cùng những tấn bi
kịch của tầng lớp người dưới đáy.
Xuất phát từ tình yêu thương mênh mông với mọi kiếp người bất hạnh
mà Nguyên Hồng đã viết về họ một niềm tin "tin tưởng tha thiết" một "tình
yêu thương đắm đuối", một niềm đồng cảm sâu sắc của những con người 3
cùng một hoàn cảnh, cùng một đời sống thấp kém và tối tăm vì thiếu thốn mọi
thứ, vì phải chịu đựng đủ mọi thứ.
Những tác phẩm Nguyên Hồng để lại cho nền văn học nước nhà thật đồ
sộ, thành quả của cuộc đời lao động sáng tạo miệt mài của ông. Cùng với đó
là những công trình nghiên cứu những bài phê bình tiểu luận của các nhà văn,
nhà thơ, nhà lý luận phê bình, độc giả về con người và những tác phẩm của
ông. Và nhờ đó, văn chương của Nguyên Hồng ngày càng khẳng định được vị
trí vững vàng trong nền văn học hiện đại nước nhà. Tuy nhiên, việc tìm hiểu
những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên
Hồng chưa phải là nhiều và có hệ thống, chủ yếu vẫn là những bài riêng lẻ, đi
sâu vào từng khía cạnh cụ thể trong đặc sắc nghệ thuật của ông.
Gần đây nhu cầu đổi mới và phát triển của văn học, nhu cầu nhận thức
đầy đủ hơn những giá trị văn học trong quá khứ đang được đặt ra một cách
nghiêm túc. Chính vì vậy, việc tiếp tục đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách
toàn diện, sâu sắc thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng là việc làm thiết thực,
nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn với nền văn xuôi hiện đại Việt

cái xấu xa độc ác của người đời. Nhưng Nguyên Hồng bao giờ cũng tin vào
khả năng hướng thiện của con người. Vì thế khi đọc Nguyên Hồng, ta luôn
thấy tài và tâm, nhất là tâm nổi lên hàng đầu: "Nguyên Hồng viết văn như là
đặt luôn cái tâm nóng hổi của mình lên trang sách" ( Nguyễn Đăng Mạnh)
Điều này cắt nghĩa tại sao các tác phẩm của Nguyên Hồng toàn là
những cảnh đời tối tăm cực khổ, dữ dội nhưng không bao giờ tuyệt vọng. Đau
thương mịt mù đến đâu cũng vẫn thấy ấm áp tình người, loé lên những tia hy
vọng ở con người. Ông đã dâng hiến trọn vẹn cả thể xác lẫn linh hồn cho sự
nghiệp văn chương, vì cuộc sống, vì nhân dân, vì Cách mạng.Ông đã từng ao
ước:
"Tôi muốn ép mình trong khổ hạnh, sẵn sàng mai danh ẩn tích sống
như một kẻ vô danh để hiến dâng trọn vẹn mọi tâm huyết và sức lực cho đời". 5
Con đường nghệ thuật của Nguyên Hồng là con đường của nhà tư
tưởng hiện thực chủ nghĩa với chủ đề nhân đạo mãnh liệt và thống thiết.
Chính vì vậy mà Nguyên Hồng và những tác phẩm văn chương của ông luôn
sống trong lòng nhân dân, trong lòng bạn bè. Họ dành cho ông và tác phẩm
của ông những tình cảm yêu thương đằm thắm nhất. Hiếm có nhà văn nào
như Nguyên Hồng mà ngay trong những sáng tác đầu tay đã có đất đứng
vững, giành được giải cao. Nguyên Hồng thực sự thuộc hạng nghệ sĩ tạo ra sự
sống và trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn
học và những người yêu văn từ xưa đến nay.
a.Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng trước Cách mạng
tháng Tám.
Tác phẩm đầu tay đưa Nguyên Hồng đến với làng văn là tiểu thuyết Bỉ
vỏ. Đây được coi như một sự kiện văn học nóng hổi thời bấy giờ. Tác giả là
một chàng trai 17 tuổi phải sống trong cảnh nghèo khó đến cùng cực đã dám
đề cập đến những vấn đề về cuộc sống, xã hội của những kẻ lưu manh, gái

Bỉ vỏ là sáng tác đầu tiên nên Nguyên Hồng cũng khó tránh khỏi những
nhược điểm của người mới cầm bút:"Nhiều chỗ còn vụng về và cẩu thả
nhiều câu văn chưa gãy gọn. Rồi đây tất cả sẽ khác đi ".
Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay ấy, Nguyên Hồng một lần nữa gây xôn
xao trong giới văn học bởi cuốn tự truyện Những ngày thơ ấu - Một hình
thức sáng tác lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam và mở ra trước mắt người đọc
một thế giới hầu như chưa từng được khám phá trong văn học của chúng ta
cho đến lúc bấy giờ.
Hai cuốn sách đầu tay đó bỗng chốc phát lộ hai khía cạnh đặc sắc,
dường như tương phản của tài năng Nguyên Hồng. Một bên là sự miêu tả môi
trường hoạt động của đám lưu manh, đĩ điếm, cảnh sát, mật thám với những
lời lừa lọc, phản bội, giết chóc dữ dằn, một bên lại là sự hồi tưởng lắng động
đầy cay đắng xót xa của một tâm hồn ấu thơ dễ cảm xúc trong nghịch cảnh
gia đình và xã hội. Nhưng sự tương phản ấy chỉ là cái vẻ bề ngoài vì có một 7
âm hưởng chủ đạo rung ngân trong cả hai tác phẩm: Đó là cảm hứng của chủ
nghĩa nhân đạo thống thiết.
Trong tập tự truyện này, lối miêu tả của Nguyên Hồng không những
tinh tế mà còn có khả năng làm thức dậy mọi giác quan của người đọc. Chính
vì vậy một lần nữa nhà văn Thạch Lam đã phát hiện trong Những ngày thơ
ấu: "Những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại". Nguyên Hồng
đã cho ta biết rõ hẳn một quãng đời quá khứ của ông và kể cho người ta nghe
hết cả những cái cay đắng, cái truỵ lạc của mình và những người thân mình.
Nhận xét tinh tế của Thạch Lam thể hiện sự đồng cảm của hai nhà văn lớn.
Trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng gần gũi Thạch Lam ở lối phân tích
tâm lý tinh tế, lối viết đi sâu vào cảm giác, ở cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, ở
màu sắc trữ tình lãng mạn nhưng lại chân thật vô cùng. Nhà phê bình Vũ
Ngọc Phan cũng đánh giá rất cao "cái tôi chân thật” ấy của Nguyên Hồng:

phát hiện, đánh giá rất chính xác về tập truyện ngắn này:"Bảy Hựu là một tác
phẩm viết do một ngòi bút xuất sắc. Bảy Hựu, với những lời văn giản dị, trơn
tru, ta không phải tìm hiểu mà tự nhiên thấy vô hạn thương cảm những vai
chủ động không cầu kỳ, không sáo, đó là cái đặc điểm của văn Nguyên
Hồng”.
Qua những nhận xét, đánh giá về những tiểu thuyết, truyện, truyện
ngắn tiêu biểu của Nguyên Hồng trước Cách mạng, ta thấy "ở tập văn nào
của Nguyên Hồng tư tưởng nhân từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan"
(Vũ Ngọc Phan). Trước Cách mạng, các nhà nghiên cứu phê bình đều đánh
giá bút pháp của Nguyên Hồng là một nhà văn hiện thực mang tinh thần nhân
đạo chủ nghĩa cao cả. Đây cũng là định hướng cho toàn bộ cuộc đời sáng tác
của ông sau này.
b.Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng từ sau năm 1945 đến
khi nhà văn qua đời .(1982)
Sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp văn chương của Nguyên Hồng
vẫn tiếp tục được khẳng định và ra đời nhiều tác phẩm đồ sộ. Đặc biệt ánh
sáng của quan điểm giai cấp và những nhận thức chính trị đã nâng cao chất 9
lượng nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng.Cảm hứng nhân đạo vẫn tiếp tục
được phát huy trong truyện ngắn, tiểu thuyết của ông nhưng giờ đây đã mang
màu sắc mới.Từ cái nhìn nhân đạo chung chung, Nguyên Hồng dần chuyển
sang một cái nhìn ít nhiều mang tính giai cấp bằng một bút pháp rất gần với
bút pháp của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa. Ngòi bút của ông vẫn hướng
tình cảm của mình về phía người lao động đồng thời ca ngợi cuộc đấu tranh
kiên trì và tất thắng của họ như truyện Người đàn bà Tàu ( sau được đổi
thành Một người mẹ Trung Quốc ). Do đó sức tố cáo trong các tác phẩm
được tập trung, dồn nén hơn, kết cấu cũng chặt chẽ hơn . Một điều dễ nhận
biết bút pháp của Nguyên Hồng vẫn là chủ nghĩa nhân đạo thống thiết với

nguồn từ một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc đối với những lớp người cùng khổ"
và khẳng định phong cách Nguyên Hồng là "Hiện thực giàu chất lãng mạn
Cách mạng và chất trữ tình say đắm" (1983)
Có rất nhiều bài viết nói về chất lao động trong văn Nguyên Hồng -
thực sự ông là nhà văn của quần chúng lao khổ.
Nguyễn Hoành Khung coi Nguyên Hồng là “nhà văn chân chính của
những người khốn khổ” và cũng thấy ở sáng tác Nguyên Hồng “một tình cảm
thiết tha đối với quần chúng lao động nghèo”(1983).
Đào Đức Doãn có một phát hiện khá mới mẻ đó là “cảm quan tôn giáo
trong sáng tác của Nguyên Hồng”(1991). Về bút pháp sáng tác, Linh Thi cảm
nhận cú pháp câu văn Nguyên Hồng bằng hình ảnh “Giọt lệ lớn và đoàn tàu
chợ”(1982).
Nguyễn Đăng Điệp nói về đặc sắc hồi kí Nguyên Hồng đó là “Hồi kí
tâm trạng”(1991).
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn thì thấy cái Nguyên Hồng mang lại đối
với văn chương đương thời không chỉ là cái lạ trong đề tài và nhân vật. Ông
còn nhận thấy “Nó là một cái gì đó khỏe mạnh đặt bên cái yếu mềm phù
phiếm, cùng cái hoang dã dữ dằn bạo liệt, bên cạnh cái mơ mộng ngọt ngào”.
Nhà lý luận phê bình Hà Minh Đức gần đây đã nhận định “Nguyên
Hồng là nhà văn của những khát vọng sống” (2001). Tác phẩm của Nguyên 11
Hồng cũng được giới thiệu ở nước ngoài và được các nhà nghiên cứu phê
bình văn học đề cập đến ở những mức độ khác nhau như:
Niculin : Văn học Việt Nam (1971).
Tkachốp : Nam cao – Nguyên Hồng tuyển tập (1979).
Nguyễn Khắc Viện - Hữu Ngọc : Lịch sử văn học Việt nam (1979).
Trên đây là những bài viết và công trình nghiên cứu khá công phu đề
cập đến nhiều mặt sáng tác của Nguyên Hồng. Các tác giả đã có nhiều phát

mạn.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết có ý thức khảo sát một cách
nhất quán những nét độc đáo trong đặc điểm nghệ thuật viết truyện ngắn và
tiểu thuyết Nguyên Hồng; từ những đặc điểm của cảm hứng đến những biểu
hiện cúa nội dung…Cách xem xét này giúp người đọc hình dung đặc điểm
nghệ thuật của Nguyên Hồng không phải như một số các đặc điểm rời rạc mà
như một chỉnh thể thống nhất các nét độc đáo xuyên suốt nội dung và hình
thức các tác phẩm của ông.
Bằng việc làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng,
luận án mong muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định những đóng góp và vị
trí của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn học Việt nam hiện đại đồng
thời, những kết quả của luận án còn góp phần vào việt nghiên cứu giảng dạy
và học tập về nhà văn Nguyên Hồng cũng như về văn xuôi Việt Nam hiện đại
trong các nhà trường hiện nay.
Đây cũng là tấm lòng đồng cảm và tri ân của người viết với một nhân
cách lớn - một chữ “Tâm” tràn đầy ở một con người bình dị.

5.Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã sử dụng những phương pháp
sau:
Phương pháp lịch sử - cụ thể , phương pháp loại hình học (loại hình về
tác giả, loại hình về tiểu thuyết và truyện ngắn).
6.Bố cục của luận án: 13
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận án được tổ chức thành 4
chương:
Chương 1: Nguyên Hồng - Nhà văn của lòng thương cảm thống
thiết.

Đối với một người thanh niên thời đó, địa vị không có, gia đình suy tàn,
học thức tầm thường nhỏ nhoi, Nguyên Hồng nghĩ chỉ còn có một cách tồn tại
trong cuộc sống bằng cái cao quí, trong sạch của văn chương.
Sáng tác là niềm đam mê lớn nhất của cuộc đời Nguyên Hồng. Ông chỉ
có viết và viết. Viết từ trẻ cho đến già. Viết cả trong nhà tù và viết trong cái
đói thường trực. Tựa như ông dốc cạn cuộc đời ra mà viết, vắt kiệt mình ra
mà viết. Viết với tất cả tín niệm thiêng liêng, cao cả của nghề. Với Nguyên
Hồng, không viết không sống nổi, không viết không có gì minh chứng cho sự
hiện diện, sự tồn tại của bản thân mình. Quả thực Nguyên Hồng viết văn 15
trước hết là để khẳng định sự tồn tại của mình đối với cuộc đời. Cho nên ngay
từ ngày đầu cầm bút, Nguyên Hồng đã tự ý thức: "Cần thiết với tôi là việc
phải viết, viết ra thành chữ tất cả những gì chứa đựng nung nấu, quằn quại
và đau xót và bay bổng và bát ngát của tâm hồn, của suy nghĩ. Viết để mình
đọc trước nhất. Viết cho mình đọc trước nhất". (31 - 27). Nguyên Hồng đã
viết khi thấy cực quá, khổ quá muốn được giãi bày tấm lòng mình, muốn
được chia sẻ, cảm thông. Bởi vậy ông đã viết suốt ngày, suốt đêm, viết một
cách đau khổ, say mê, bất chấp "cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng trong đêm
mưa lạnh hoang vắng". Bằng sáng tác của mình, Nguyên Hồng đã tiếp nối
xứng đáng dòng văn chương thương cảm của dân tộc và làm giàu có thêm
truyền thống nhân đạo của văn học Việt Nam.
Khác với những bạn văn cùng thời với mình như Ngô Tất Tố, Kim Lân
là nhà văn của nông thôn và nông dân, Nguyên Hồng có nguồn suối tinh thần
yêu thương của riêng mình. Ông chuyên viết về người dân nghèo thành thị,
đặc biệt là những kiếp người bị xã hội thực dân phong kiến giày đạp tàn nhẫn
và đẩy đến bước đường cùng. Tác phẩm của Nguyên Hồng cho ta thấy quá
trình bần cùng hoá, lưu manh hoá của những người dân nghèo thành thị.
Nhưng cái hướng chính, hướng thiện của họ theo Nguyên Hồng vẫn là niềm

bần cùng của những người lao động nghèo khổ ở các vùng ngoại ô, ngõ hẻm
ở các thành phố lớn, như ngoại ô Bạch Mai, ô Yên Phụ, bãi Phúc Xá, bãi Nhà
Dầu ở Hà Nội hay xóm Cấm, xóm Chùa Đông Khê, xóm Chợ con, ngõ Hàng
Gà của Hải Phòng. Họ sống trong những xóm nhà lá hoặc lợp tôn chen
chúc, úp súp với những ngọn đèn leo lét, những ngõ hẻm lầy lội, nhớp nháp vì
người ta gánh nước đổ rác, gánh rau đậu đi chợ Và ở đó luôn ngập tràn
những âm thành hỗn độn của cuộc sống: Tiếng chửi bới của cảnh ăn uống,
mua bán, những tiếng kêu cướp giật hoặc một giọng cười khiêu khích của một
cô gái nhảy Nhưng có điều rất đặc biệt là những con người quằn quại trong
sự đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn muốn "ngoi lên ánh sáng như
những mầm cây xanh" (Ngọn lửa).
Trong số họ có những cô gái quê bị mẹ gả bán, ép uổng hoặc bị đầy đoạ
bởi những hủ tục, luật lệ phong kiến khắc nghiệt, đã bỏ làng ra tỉnh rồi bị lừa 17
bịp, cưỡng hiếp biến thành lưu manh, gái điếm như nhân vật Tám Bính (Bỉ
Vỏ); hoặc bị rơi vào ổ của bọn cờ bạc bịp và buôn hàng lậu như Muống
(Quán Nải) Nhưng ở những con người ấy lúc nào cũng chan chứa một lòng
thương yêu tha thiết và nỗi khát khao vượt ra khỏi cảnh tăm tối, muốn vươn
tới ánh sáng của một cuộc sống tốt đẹp hơn. Dường như Nguyên Hồng luôn
tìm thấy tất cả những cái có vẻ tầm thường của cuộc sống ấy, một chất đẹp,
một chất thơ mà người khác không nhìn thấy. Đằng sau cái vẻ lam lũ, xấu xí
là những tâm hồn rất cao đẹp, rất đáng quí. Đó là tình thương yêu, đùm bọc
lẫn nhau giữa những người cùng khổ. (Hơi thở tàn); tình nghĩa thuỷ chung và
hy sinh cho hạnh phúc của người khác (Đây bóng tối; Trong cảnh khốn
cùng); lòng tự trọng, dù đói khổ vẫn không chấp nhận lối sống truỵ lạc, bán rẻ
nhân phẩm để chạy theo đồng tiền và danh vọng (Cô gái quê, Nhà bố
Nấu ). Ngay ở cả những nhân vật "dưới đáy" của xã hội, như một gã ma cà
bông, một bỉ vỏ hay một tên trùm lưu manh cũng còn le lói những ánh sáng

"Ngày 1.12.1931. Cậu ơi! Cậu sống khôn chết thiêng, cậu có biết cho
con không? Mà con cầu xin lẽ nào cạu lại không nhận lời con? Cậu phù hộ
cho con được lấy một hào thôi! Con đói lắm cậu ạ! Trời lại mưa rét quá".
Mất cha, mẹ lại đi bước nữa và phải đi làm ăn xa khiến bé Hồng phải
sống trong sự ghẻ lạnh, khinh miệt của gia đình, họ hàng, làng xóm, Người
bà, người cô ruột của Hồng muốn gieo rắc vào đầu cậu những ý nghĩa xấu xa
về mẹ mình. Với quan niệm của xã hội phong kiến thời ấy, họ không thể chấp
nhận một người đàn bà chưa đoạn tang chồng mà đã có con với người khác.
Điều đó làm cho trái tim vốn nhạy cảm của cậu bé Hồng càng đau đớn hơn.
Và ngay với Hồng, họ hàng cũng ghê sợ, rẻ rúng trước đứa con trai "mới một
dúm tuổi mà đã trải hết nhà lao này sang nhà lao khác". Trước sự hắt hủi xa
lánh của mọi người, mẹ con Hồng đã phải dắt díu nhau ra Hải Phòng tìm kế
sinh nhai. Lúc ấy Nguyên Hồng mới 16 tuổi. Và từ đó, Nguyên Hồng đã thực
sự nhập hẳn vào cuộc sống của hạng người "dưới đáy" của xã hội thành thị.
Chính cuộc sống thiếu tình thương và phải tự lập từ nhỏ ấy với những trải
nghiệm bản thân trong thế giới của những người cùng khổ khiến Nguyên 19
Hồng dễ cảm thông, chia sẽ những khổ đau, bất hạnh của con người. Và điều
đó cũng sớm hình thành ở nhà văn một cá tính riêng đặc biệt giàu xúc cảm, dễ
xúc động. Lòng ông thắt lại trước cuộc sống cùng cực của những con người
buôn thúng bán bưng, những thợ thuyền phu phen, những lưu manh, gái điếm
mạt hạng, những hình ảnh xác chết vô thừa nhận, những đám tù giải đi xử
án Những cảnh ngộ buồn thảm đó và những ngày thất nghiệp kéo dài đã ám
ảnh, trĩu nặng xuống tâm hồn nhạy cảm của Nguyên Hồng khiến ông "nhiều
lúc thấy bối rối, lo sợ và tưởng mình sẽ chết ở tuổi 16".
Nhiều lúc tuyệt vọng quá sau những ngày lang thang không xin được
việc, Nguyên Hồng đã có ý định tự tử khi thấy ngày mai càng mịt mù, tối tăm.
Nhưng rồi, người thanh niên ấy lại thấy ham sống, thèm sống tha thiết khắc

khổ, lưu manh, ma cô, gái điếm như vậy mà ông vẫn không bị chìm ngập
trong cuộc sống tối tăm, tội lỗi. Nhưng mặc dù vậy, Nguyên Hồng lại phản
đối thái độ quì mọp trước tôn giáo để cầu xin sự thưởng phạt công bằng của
Chúa. Nguyên Hồng ca ngợi những đức tính tốt đẹp chịu thương, chịu khó,
giàu lòng hy sinh nhưng ông đã không lý tưởng hoá đức tính cam phận, nhẫn
nhục của họ. Ngược lại, Nguyên Hồng luôn chủ trương đánh thức dạy ở họ ý
thức đấu tranh cho một cuộc sống bình đẳng, công bằng hơn, hạnh phúc hơn.
Những yếu tố đó được bổ sung, nâng cao một cách đáng kể bởi tư
tưởng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa khi Nguyên Hồng giác ngộ và đi theo
Cách mạng từ thời kỳ Mặt trận dân chủ. Chính ánh sáng của quan điểm giai
cấp và những nhận thức chính trị đúng đắn đã giúp Nguyên Hồng có được
những cách nhìn tiến bộ đó. Vì thế mà những nhân vật của Nguyên Hồng luôn
để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng rất sâu sắc, gợi cho chúng ta nhiều
suy nghĩa về số phận của những người phụ nữ trong xã hội cũ như Tám Bính,
Muốn, Mũn, Mợ Du Số phận của họ hình như đôi lúc vẫn thấp thoáng trong
cuộc sống đời thường hiện nay.
Đấy chính là sức sống mãnh liệt của ngòi bút Nguyên Hồng
1.2. Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng.
1.2.1. Con đường nghệ thuật nhất quán. 21
Trên con đường đến với văn chương ở những thuở ban đầu, Nguyên
Hồng có chịu ảnh hưởng của nhà thơ Thế Lữ. Hình ảnh thi nhân tác giả những
Cây đàn muôn điệu, Tiếng sáo Thiên thai và Nhớ rừng đã là "một

trong những hình ảnh lồng bằng hào quang và chiếu gợi vô cùng" đối với nhà
văn. Ông thấy có gì đó đồng cảm với thi nhân về gia cảnh mồ côi, nghèo
túng Nhưng trên hết vẫn là những lời chỉ đạo tận tình, nâng niu những cảm
xúc ban đầu và khích lệ động viên Nguyên Hồng tiếp tục viết và có một định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status