Nghệ thuật trần thuật trong truyện và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trước cách mạng Tháng Tám - Pdf 26



1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ YẾN

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN
VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN HỒNG
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Văn Đức
HNG TRC CCH MNG THNG TM 27
1. NGH THUT T CHC KT CU 27
1.1. Kết cấu đơn tuyến: 28
1.2. Kết cấu theo mạch phát triển tâm lí 33
1.3. Kết cấu đảo lộn trật tự trần thuật 35
1.4. Kết cấu lắp ghép: 37
4
2.NGH THUT T CHC Cốt truyện 41
2.1.Ct truyn: 41
2.2 Cốt truyện trong sáng tác của Nguyên Hồng 43
2.2.1 Ct truyn n gin 43
2.2.2. Ct truyn an xen nhiu mch truyn 56
CHNG 3. NGễN NG, GING IU TRONG TRUYN V
TIU THUYT CA NGUYấN HNG TRC CCH MNG
THNG TM 61
1. Ngụn ng trn thut . 62
1.1. Ngụn ng i sng giu giỏ tr biu cm 62
1.2. Ngụn ng trn thut giu cm xỳc. 64
1.3. Ngôn ngữ bình dị, sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao 69
1.4. Ngôn ngữ đặc biệt 74
1.5. Từ ngữ tôn giáo 77
2. Ging iu trn thut của Nguyên Hồng 81
2.1 Giọng điệu cảm th-ơng thống thiết 83
2.2 Cấu trúc tầng tầng lớp lớp theo mạch cảm xúc của lời văn nghệ thuật 90
2.3. Các đoạn văn trữ tình ngoại đề 91
KT LUN 98
Danh mục và tài liệu tham khảo. 101

Với Nguyên Hồng sáng tác văn chƣơng là niềm đam mê lớn nhất của
cuộc đời. Viết về cuộc đời của chính mình, cho tầng lớp mình đó là mục
đích trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Ông đã hoà nhập vào cuộc
sống của những con ngƣời cùng khổ, vào những cảnh đời cực nhục để phân
tích, lý giải, thẩm bình và hơn nữa để bênh vực, bảo vệ xót thƣơng. Tác
phẩm của ông bao giờ cũng toát lên giá trị nhân văn sâu sắc.
Có lẽ cũng vì những lý do này, sáng tác của Nguyên Hồng luôn tạo
đƣợc ấn tƣợng trong lòng ngƣời đọc, luôn đánh thức tính bản thiện, tình
ngƣời trong mỗi con ngƣời. Với ông “ viết còn để tìm cho mình một đời
sống lâu dài trong tâm hồn mọi người và được yêu thương lại một cách
nồng nàn với những mối tình thắm thiết mênh mông”[16, 34]. 2
Sự khẳng định tên tuổi, tài năng của Nguyên Hồng chính là lĩnh vực
văn xuôi trƣớc Cách mạng. Trong cuộc đời viết văn của mình, Nguyên
Hồng tập trung nhiều nhất cho tiểu thuyết. Từ tác phẩm đầu tay Bỉ Vỏ đến
Cửa biển, một tác phẩm mà ông dành nhiều tâm huyết và tác phẩm cuối
đời Núi rừng Yên Thế đều là những sáng tác để lại ấn tƣợng sâu đậm
trong lòng độc giả. Nhƣng có lẽ điều giúp mọi ngƣời đánh giá, nhìn nhận
về con ngƣời ông một cách chân xác lại là thiên tự truyện Những ngày thơ
ấu và để khẳng định cho tài năng, vị trí của Nguyên Hồng trên văn đàn là
các truyện ngắn đặc sắc. Những tác phẩm này đã đƣa tên tuổi của Nguyên
Hồng lên đỉnh cao của văn học hiện đại Việt Nam.
Việc nghiên cứu về Nguyên Hồng đã đƣợc rất nhiều các nhà khoa
học, các độc giả yêu quý văn chƣơng của ông quan tâm. Các bài phê bình,
tiểu luận, tham luận, luận văn về thân thế, sự nghiệp, phong cách; về thể
loại, nhân vật, đặc điểm nghệ thuật mà nhà văn lựa chọn đã đƣợc nhiều
ngƣời nghiên cứu, đề cập đến. Những thành tựu của ông đã đƣợc đánh giá
một cách đầy đủ, trọn vẹn, ngƣời viết với mong muốn khẳng định thêm

cứ đến chập tối là ran lên tiếng muỗi và tiếng trẻ khóc; Bỉ vỏ đã viết xong
trong một đêm lạnh lẽo, âm thầm mà mọi vật như đều rung lên cùng với
lòng thương yêu của một đứa trẻ ham sống dạt dào trong những bụi mưa
thấm thía” [18, 3].
Bỉ vỏ ra đời và đạt giải thƣởng của Tự lực văn đoàn năm 1937.
Cùng thời điểm Những ngày thơ ấu trở thành tác phẩm gây đƣợc sự
chú ý. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã đánh giá rất cao tác phẩm này “Mới
đọc tập tự truyện của Nguyên Hồng, tôi đã tưởng có dưới mắt một quyển
sách của một nhà văn Anh hay một nhà văn Nga. Không những thế, càng
đọc những trang sau, ta càng thấy Nguyên Hồng kể cho ta nghe hết cả
những cái cay đắng, những cái truỵ lạc của mình và những người thân
mình” [31, 35]. Cuốn tự truyện là những trang viết thấm đẫm nƣớc mắt về
chính cuộc đời nhà văn. Đó là một “cái tôi chân thật” (Vũ Ngọc Phan). .
Thạch Lam đã từng nhận xét“Những rung động cực điểm của một linh
hồn trẻ dại lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của một gia đình sắp 4
tàn” [22, 15]. và “Phải sống trong cảnh nghèo, phải luôn luôn gần gũi với
xã hội người nghèo mới có thể viết được những dòng thành thật và cảm
động như vậy” [31. 19] (Vũ Ngọc Phan). Năm 1941, tập truyện ngắn Bảy
Hựu tiếp tục ra mắt bạn đọc. Đây là tác phẩm xây dựng đƣợc những nhân
vật mang dáng vẻ phi thƣờng của ngƣời anh hùng. Đánh giá về Bảy Hựu
nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét: “ Chỉ khi nào lòng yêu nhân loại lên
đến cực điểm, là người ta mới thiết tha đến những người bị xã hội ruồng
bỏ”. Tác phẩm Đây bóng tối thể hiện cái nhìn xót thƣơng giữa những con
ngƣời nghèo khổ bất hạnh nhƣng có tấm lòng độ lƣơng, nhân ái. Trong Nhà
sƣ nữ chùa âm hồn, Nguyên Hồng lại xây dựng nội dung truyện nhƣ một
truyện trinh thám với trí tƣởng tƣợng vô cùng phong phú, thể hiện mối tình
thống thiết của đôi vợ chồng hủi. Bên cạnh đó là những cuộc đời cơ cực, lầm

mạnh mẽ hơn khi nhà văn tiếp nhận lý tƣởng Cách mạng của giai cấp vô
sản. Phan Cự Đệ đã đƣa ra ý kiến xác đáng, những nhận định khái quát
nhất về sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng trong bài viết “ Những bƣớc
tiến mới về tiểu thuyết Nguyên Hồng sau Cách mạng tháng Tám”
“Lò lửa và Địa ngục là một cái mốc trên con đường sáng tạo của
Nguyên Hồng. Tuy về căn bản nó vẫn là những tác phẩm hiện thực phê
phán nhưng cái ánh sáng chiếu rọi vào thì lại là của một thế giới quan đã
bắt đầu đổi mới”.
“Bỉ vỏ và Sóng gầm là hai mốc về tiểu thuyết của Nguyên Hồng. Hai
tác phẩm cách nhau một phần tư thế kỷ và cũng là hai thời kì khác nhau
trên con đường nghệ thuật của Nguyên Hồng. Bỉ vỏ là những tình cảm yêu
thương dào dạt, là khát vọng ngây thơ, trong trắng hồn nhiên của buổi ban
đầu. Sóng gầm, Cơn bão đã đến ra đời lúc cây bút Nguyên Hồng đã
trưởng thành, luôn luôn day dứt suy nghĩ về những vấn đề nghệ thuật và
đời sống”[7, 17].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh tiếp tục viết về “yếu tố trữ
tình”; “tình cảm lạc quan say sưa bồng bột” và trên hết vẫn là “tinh thần
nhân đạo chủ nghĩa thiết tha” (1973). 6
Chu Nga thì nhận thấy Nguyên Hồng đã đem đến tiếng nói mới,
tiếng nói riêng biệt góp phần vào dòng văn học hiện thực phê phán. Về căn
bản ông nhận thấy đó là tiếng nói yêu thƣơng, nhân đạo “sôi nổi lạc quan,
tràn đầy một niềm tin ở một ngày mai tươi sáng” vì nhìn thấy đƣợc những
phẩm chất đẹp đẽ ở những con ngƣời nghèo khổ hôm nay (1977).
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, việc nghiên cứu về Nguyên
Hồng đã có nhiều đổi mới. Các tác phẩm của ông đã đƣợc các nhà phê
bình, giới nghiên cứu, các bạn đọc quan tâm đƣa ra những nhận định, ý
kiến đánh giá khách quan.

thƣơng tiếc cho ngƣời thân, bạn bè, đồng nghiệp, các độc giả yêu mến văn
chƣơng của ông. Nhƣng đúng nhƣ lời nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu
“Nguyên Hồng mất đi nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ”. Điều này
khẳng định sức sống bền bỉ của văn chƣơng Nguyên Hồng trong lòng bạn
đọc. Thời gian là sự minh chứng cho Nguyên Hồng, kể từ khi nhà văn qua
đời sự nghiệp văn chƣơng và cuộc đời con ngƣời nhà văn vẫn không ngừng
đƣợc tìm tòi, nghiên cứu. Hàng năm đã có thêm nhiều công trình khoa học,
các bài nghiên cứu phê bình vẫn khai thác ở nhiều góc độ. Tiêu biểu trong
cuốn sách Phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, với cách tiếp cận từ góc
độ văn học sử, tác giả Bạch Văn Hợp đã trình bày một cách hệ thống
những nét độc đáo tiêu biểu, có ý nghĩa thẩm mỹ cao và những biến chuyển
nhất quán của phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, từ đó góp phần khẳng
định những cống hiến và vị trí của nhà văn trong lịch sử phát triển văn học
Việt Nam hiện đại. Trong đó truyện ngắn của Nguyên Hồng là đối tƣợng
chính đƣợc tác giả tập trung khảo sát.
Nhà nghiên cứu Lê Hồng My với luận án “Lời văn nghệ thuật
Nguyên Hồng” đã nghiên cứu, chọn cách tiếp cận sáng tác của nhà văn từ
góc độ tìm hiểu ngôn từ - lời văn nghệ thuật để “khám phá các phương thức
tổ chức, đặc điểm và đặc sắc của lời văn; khám phá mối quan hệ giữa tư
tưởng nghệ thuật và lời văn nghệ thuật; xác định vai trò của lời văn nghệ
thuật đối với thế giới nghệ thuật và phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng ”. 8
Trong luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Nguyễn Thu Hà (2004)
nghiên cứu “Tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn và
tiểu thuyết của Nguyên Hồng trước Cách mạng” đã làm nổi bật những
đặc điểm về nghệ thuật qua các sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết của
Nguyên Hồng.
Năm 2011, Trần Thị Thanh Yến với đề tài “ Thế giới nhân vật

trần thuật của nhà văn, dù ở góc độ nào cũng toát lên tấm lòng nhân hậu,
bác ái. Đây cũng là nét đặc sắc trong văn xuôi Nguyên Hồng trƣớc cách
mạng tháng Tám năm 1945.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày đề tài, chúng tôi đã
vận dụng một số phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp loại hình học
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp
VI. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính của luận văn
gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN
THUẬT TRONG TRUYỆN Và TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN HỒNG
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM.
Chƣơng 2: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KẾT CẤU VÀ CỐT
TRUYỆN TRONG TRUYỆN Và TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN HỒNG
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM.
Chƣơng 3: NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
TRUYỆN Và TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN HỒNG TRƢỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM.

CHƢƠNG 1 10
NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN HỒNG
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

chuyện đƣợc bắt đầu. Trong tác phẩm, vấn đề ai kể chuyện và câu chuyện
đƣợc kể nhƣ thế nào bao giờ cũng đem lại hiệu quả.
Nhƣ trên đã nói, mỗi văn bản tự sự bao giờ cũng đƣợc kể từ một
điểm nhìn nhất định và bởi một ngƣời kể chuyện nào đó đóng vai ngƣời kể
chuyện để kể lại sự kiện xảy ra ở đâu? vào lúc nào? có nhân vật nào tham
gia câu chuyện? Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần
thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là
tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay nói cách khác,
điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả”. Theo
lý thuyết tự sự học, có các kiểu điểm nhìn phổ biến ở ngƣời kể chuyện:
- Điểm nhìn toàn tri, biết tuốt khi ngƣời kể chuyện có vai trò toàn
năng với cái nhìn thông suốt tất cả, ở ngôi thứ ba.
- Điểm nhìn bên trong thƣờng thể hiện độc thoại nội tâm của nhân
vật khi ngƣời kể chuyện là nhân vật xƣng “Tôi”.
Trong điểm nhìn nghệ thuật lại có các loại: Điểm nhìn tác giả, điểm
nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm
lý, điểm nhìn tƣ tƣởng Thật ra, trong tác phẩm văn học, chọn kiểu nhìn
nào, xuất phát từ điểm nhìn nào để ngƣời kể chuyện kể lại “chuyện” chính
là do cách tổ chức “truyện” (Không gian, thời gian, nhân vật) có dụng ý của
nhà văn. Có những tác phẩm chỉ có một kiểu điểm nhìn từ đầu đến cuối, có
những tác phẩm phối ghép những kiểu điểm nhìn hoặc luân phiên trƣợt
điểm nhìn. Cách kể từ điểm nhìn toàn tri, bên ngoài, bên trong cũng đều
xuất phát từ sự hình thành phong cách ngƣời viết văn xuôi. Ở đây, trong
chuyên luận nghiên cứu sáng tác của Nguyên Hồng ta chủ yếu tìm hiểu hai
kiểu điểm nhìn đó là “Nhìn toàn tri, biết tuốt” và “Nhìn từ bên trong”. 12
2.2. Ngƣời trần thuật
Hình thái của hình tƣợng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật

thức khác của cùng một đối tƣợng miêu tả. Loại thứ hai này cho phép tác
giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa thanh trong
ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết. Điều này đƣợc nhà văn thể hiện
rõ trong các sáng tác: Bỉ vỏ, Bảy Hựu, Cái bào thai, Quán nải,
2.2 .2. Ngƣời trần thuật tƣờng minh
Ngƣời kể chuyện với “điểm nhìn bên trong” của nhân vật xƣng “tôi”
là nhân vật ngay trong câu chuyện – tác giả đóng vai trò ngƣời trần thuật đó
là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất. Nhân vật trong câu chuyện là chính
tác giả với nhiệm vụ ngƣời kể chuyện, trần thuật lại. Điều này dễ nhận thấy
ở các tác phẩm tự truyện hoặc có dáng dấp tự truyện nó đòi hỏi các chuyện
phải kể về sự thật. Đó chính là câu chuyện đƣợc viết bởi chính những
ngƣời đã từng sống trong cuộc đời ấy. Với việc trần thuật ở ngôi thứ nhất,
tác giả đã viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến, nếm trải và
chiêm nghiệm. Đó chính là các tác phẩm tự truyện. Tự truyện tái hiện phần
hiện thực thƣờng nằm trong tầm nhìn của ngƣời viết căn cứ chủ yếu vào
những ấn tƣợng và hồi ức của bản thân ngƣời viết hoặc cái nhìn của ngƣời
viết vào tất cả những gì đƣợc kể lại, miêu tả lại. Hồi kí mang tính chủ quan
thƣờng là văn phong cảm động nêu cảm tƣởng trực tiếp của cá nhân tác giả.
Lối tự truyện này ở các nƣớc phƣơng Tây nhƣ Anh, Mĩ, Nga rất thịnh hành
nhƣng ở Việt Nam, Nguyên Hồng đƣợc đánh giá là ngƣời đầu tiên viết lối
tự truyện chân thành, với lời tâm sự thầm kín, thậm chí cả những tội lỗi
cũng đƣợc phơi trần ra ánh sáng, Nguyên Hồng đã phải trút bỏ hết cả
những thành kiến, đặt mình lên trên những dƣ luận hẹp hòi, gột rửa lòng tự
ái cá nhân. Tự truyện của Nguyên Hồng ra đời đã đánh dấu một bƣớc phát
triển mới của nền văn học Việt Nam mà ngay từ thời kì ấy đã gây không ít
ngỡ ngàng cho các nhà nghiên cứu, các nhà văn cùng thời.
Những ngày thơ ấu chính là lời tâm sự thiết tha thầm kín, những hồi
ức của chính tác giả về quãng đời thơ ấu đầy đau khổ của mình một cách
chân thành. Điểm nhìn của ngƣời kể chuyện chính là nhân vật xƣng “tôi”,


từ bản tính Thiện đến chỗ xấu xa, bỉ ổi. Dƣới giác quan của ngƣời nghệ sĩ, 15
điểm nhìn nghệ thuật thuộc ngôi thứ ba, Nguyên Hồng trong vai trò là
ngƣời kể chuyện khách quan, đứng ngoài cuộc mà câu chuyện đƣợc miêu
tả nhƣ chính thân phận, đau với nỗi đau tột cùng trong mọi ngõ ngách của
tâm hồn nhân vật. Nhân vật chính là cô gái quê mùa chân chất nhƣng
nghịch cảnh xã hội đã đẩy cô đến tận cùng của sự băng hoại đạo đức, ném
cô trong các cơn lốc xoáy, tuy nhiên con ngƣời vẫn giữ đƣợc nét bản chất
cao đẹp. Ngay khi mới ra đời tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã chiếm
đƣợc lòng yêu mến của độc giả, tác phẩm có vai trò lớn trong việc khẳng
định tên tuổi của nhà văn. Vì sao tác giả lại đƣợc đông đảo công chúng đón
nhận? Điều này liên quan đến nội dung câu chuyện – một đề tài không mới
về thân phận của một kiếp ngƣời dƣới đáy xã hội – nhƣng lại đƣợc kể qua
điểm nhìn của một ngƣời đã “biết tuốt” về một xã hội thị dân với đầy rẫy
những bất công, những sự bạo hành, những trái ngang nên câu chuyện ấy
đã dẫn dắt ngƣời đọc chứng kiến tất cả những gì thuộc về vô luân, vô nhân
nhất mà con ngƣời thật nhỏ bé phải đƣơng đầu với chúng. Trong vai ngƣời
kể chuyện (ngôi thứ ba, do tác giả sáng tạo ra), câu chuyện đƣợc dẫn dắt rất
khéo léo, tự nhiên dƣờng nhƣ không phải do ý kiến chủ quan, thể hiện ý đồ
của ngƣời sáng tạo. Với Bỉ vỏ, dƣờng nhƣ ngòi bút của ông không nhằm
mục đích tố cáo mà là để thể hiện niềm thƣơng cảm của nhà văn trƣớc số
phận con ngƣời. Nhân vật Tám Bính, là kết quả tất yếu của những kẻ quyền
thế bỉ ổi, sản phẩm của xã hội thị dân. Khi mang trong mình giọt máu của
kẻ ăn chơi sa đoạ, đã có lúc Bính rùng mình sợ hãi khi nhớ đến hình ảnh
một ngƣời đàn bà bị làng phạt vạ: “Một ngày tháng năm, đường đá, sân
gạch bỏng rẫy chân, thế mà chị Minh, người bị làng phạt vạ, phải quì ở
giữa sân đình, nón không có, bế đứa con mới được mười ngày, cũng đỏ hon
hỏn giữa trời nắng chang chang mặt mày tái mét, đẫm mồ hôi, răng thì

thôn quê đã hợp lực lại dồn đẩy con ngƣời lƣơng thiện vào bƣớc đƣờng
cùng, bế tắc. Cũng nhƣ Bính bao nhiêu cô gái đã bị mụ chủ chứa bóc lột
sức lực đến mức ho ra máu rồi chết. Cái chết của những kẻ làm nghề mạt
hạng ấy cũng giống nhƣ cái chết của hạng ăn mày, ăn xin nơi đầu đƣờng xó
chợ khốn cùng không họ hàng, không ngƣời thân thích, ngƣời ta thuê vài 17
ngƣời phu chợ đùm trong chiếc chăn cũ rồi đem chôn: “Tấm áo quan bằng
gỗ mỏng đu đi đu lại, cọ vào chiếc thừng treo lủng lẳng ở đầu đòn ống làm
thành những tiếng kẽo kẹt thay cho tiếng khóc viếng” [18, 25]. Với cái nhìn
xót thƣơng, dƣờng nhƣ nhà văn không muốn dừng lại nỗi đau thân phận
Bính, Bính vẫn tiếp tục bị dòng đời xô đẩy. Nếu so sánh với những ngƣời
con gái trong nhà chứa, Bính tƣởng chừng may mắn hơn khi đƣợc Năm Sài
Gòn cứu vớt, nhƣng thực chất Bính lại bị rơi vào bi kịch khác tồi tệ hơn.
Năm Sài Gòn thực chất là một tay “Chạy vỏ” khét tiếng, một “ông trùm”
của xã hội đen Hải Phòng, một kẻ chuyên sống bằng nghề đâm chém, giết
chóc. Bính sau nỗi đau thân xác, lại rơi vào cảnh sống lo âu, sợ hãi trƣớc
những cảnh chém giết, tù tội có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Và quy luật khắc
nghiệt của cuộc sống đã dần đào thải phần thanh sạch tâm hồn trong Bính,
nhào nặn Bính trở thành một kẻ lƣu manh, thậm chí thành dân “anh chị”có
máu mặt, một “bỉ vỏ” thứ thiệt, có số má. Bính từ một cô gái chân quê, biết
nhục khi bị làm nhục, biết ô danh khi bị đẩy vào nhà chứa thì nay Bính đã
tự nguyện đứng vào vai của kẻ lƣu manh không hổ thẹn, rất bài bản. Điều
gì đã xô đẩy thân phận con ngƣời? Nhà văn không lớn tiếng phê phán xã
hội nhƣng bản án của con ngƣời đã đƣợc định sẵn, đã dành cho một xã hội
bất công, một xã hội phi nhân tính. Một kết thúc bi thảm về cái vòng luẩn
quẩn tội lỗi của Tám Bính là cả Năm Sài Gòn và Tám Bính cùng bị bắt một
lúc, đau đớn hơn trong giây phút tủi cực ấy, Bính lại nhận ra đứa con của
mình bị chính Năm Sài Gòn giết chết. Những gì còn hy vọng và tin tƣởng

Bên cạnh nhân vật Tám Bính, là những nhân vật mà nhà văn đã dành
nhiều tình cảm xót thƣơng, hình ảnh những ngƣời phụ nữ trong các sáng
tác của ông cũng thật tội nghiệp, đó là những ngƣời nhƣ Lệ Hà, Mũn,
Muống, Vịnh, Hai Mƣơi Hai, vợ Ký Phát mỗi ngƣời một hoàn cảnh
nhƣng dầu họ ở vị trí nào là dân “tứ chiếng” hay ngƣời dân nghèo khổ
cũng vẫn với những công việc nặng nề: phu phen, đội than, đội đá, bốc vác,
đun goòng, buôn bán vặt Họ lao động cực nhọc mà vẫn lam lũ, đói rách.
Khi không còn đủ sức để làm hay bị tàn phế vì tai nạn lao động thì phải đi
ăn mày, ăn xin Nguyên Hồng viết những tác phẩm này khi tuổi đời còn rất 19
trẻ, ngƣời đọc hình dung ra hình bóng của một chàng thanh niên đi bên
ngoài lề cuộc sống thất nghiệp lang thang trên phố phƣờng của thành phố
Hải Phòng, của những xóm chợ nghèo khó để quan sát và thu vào thế giới
quan của mình và trải ra trang viết hết sức chân thực nhƣng vô cùng ám
ảnh. Đó là những con ngƣời bất hạnh, cơ cực vì miếng cơm manh áo,
những nạn nhân của xã hội “chó đểu”. Truyện ngắn đầu tay Linh hồn của
Nguyên Hồng là tiếng nói tố cáo bộ mặt tàn nhẫn của chế độ nhà tù, kẻ cai
tù bất lƣơng đã hãm hiếp một ngƣời đàn bà phải đi tù thay chồng, khi đang
mang thai đến mức xảy thai. Từ tác phẩm đầu tay này, hình ảnh ngƣời đàn
bà oan khổ dƣờng nhƣ theo đuổi và ám ảnh ngòi bút của ông nên ông đã
dành phần lớn những trang viết của mình cho những ngƣời phụ nữ. Họ là
những ngƣời dân nghèo, yếu đuối nhƣng cũng phải bƣơn trải làm đủ mọi
thứ nghề để kiếm sống: từ việc buôn thúng bán bƣng, bán hàng cơm đêm,
khâu thuê vá mƣớn, phu phen, đội than đội đá. Nhà văn đã lên tiếng cảm
thông, thƣơng xót và chia xẻ những nỗi đau mà họ gặp phải. Hình ảnh cô
gái trong Vực thẳm hàng ngày phải đan thuê cho tới tận khuya để kiếm lấy
vài hào phụ giúp gia đình là một tình cảnh đáng thƣơng. Gia đình cô “ngày
ngày chỉ kiếm được năm sáu hào mà gạo ăn đã mất bốn hào, còn thức ăn

gỗ, tiếng đùa nghịch chòng ghẹo nhau của những chị phu hồ, phu than ríu
rít như bầy chim sẻ” [29. 68]. Mặc dù cuộc sống của họ vất vả gian khổ
nhƣng nhà văn vẫn nhìn thấy trong tâm hồn họ một niềm tin dù họ đang
phải đối mặt với cuộc sống khổ cực. Trong không gian buồn tẻ với những
ngọn đèn leo lét của những hàng cơm đêm, hàng phở, hàng tạp hoá, hàng
mã, hàng thiếc; của cái mái lá tồi tàn những gia đình phu phen lao động. Cả
một không gian thu nhỏ nhƣng ở đó đều chất chứa nỗi cực nhọc của con
ngƣời. Trong Đây bóng tối, ngƣời đọc đã vô cùng xúc động trƣớc tình cảm
mà Mũn dành cho chồng, cho con. Từ thuở ấu thơ Mũn đã phải sống trong
cảnh côi cút, cơ cực “Mồ côi cha mẹ, phải đi dắt thuê cho một bà lão ăn
mày, chẳng bao giờ được miếng ăn ngon” vì thế khi đƣợc Nhân cho ăn
những “miếng thịt lẫn lộn cơm và nước dãi” [ 29, 79]. Mũn đã cảm động
và sung sƣớng lắm rồi. Khi lấy Nhân, có cuộc sống gia đình Mũn vẫn phải 21
sống một cuộc sống nghèo túng, khổ cực nhƣng Mũn đã hết lòng yêu
chồng thƣơng con, giúp chồng xoá đi mặc cảm mù loà. Trong cuộc mƣu
sinh vì miếng cơm manh áo Mũn đã phải chết oan ức, chết mất xác để lại
nỗi bất hạnh lớn, không chỗ nƣơng tựa cho bố con Nhân. Trong con mắt
của nhà văn, số phận những con ngƣời nghèo khổ thật nhỏ nhoi, tội nghiệp,
với họ sự sống và cái chết chỉ còn trong gang tấc. Cái nghèo, cái đói đã
không buông tha họ khi họ đã cố gắng hết sức để chống trọi với đời. Họ đã
phải cả đời lam lũ vất vả mà vẫn bị đẩy đến cùng cực của cái nghèo, đói
mặc dù bản thân họ “Nào mình có lười biếng, đần độn mà sao càng đầu tắt
mặt tối thì lại càng công nợ, càng thiếu thốn” (Hai mẹ con). Trong tác
phẩm Sông máu ngƣời vợ, ngƣời mẹ bất hạnh này dù biết rõ cuộc mƣu
sinh bằng con đƣờng chở hàng lậu là vô cùng nguy hiểm đến tính mạng,
nhƣng chị vẫn cố gắng làm vì không biết trông chờ vào đâu, nợ nần ngày
càng nhiều, con cái thì nheo nhóc, chồng thì đã chết. Cái chết oan ức của

nghề nhào lộn vô cùng nguy hiểm. Cậu làm nghề để kiếm sống “cái nghề
nhào lộn ấy để kiếm cơm ăn”. Những đứa con của Mũn nheo nhếch, đói
khát, đứa con lớn, con của anh chị Năng trong Sông Máu phải dậy sớm
trông em để mẹ đi làm từ đêm vẫn ám ảnh về ngƣời cha, về những hình ảnh
ma quái vất vƣởng, hình ảnh Mũn mồ côi đói khát cả đời không biết miếng
ăn ngon nên khi đƣợc bạn dành cho “miếng thịt lẫn dãi dớt” Mũn cảm động
và ăn rất ngon lành Hình ảnh đáng thƣơng và tội nghiệp. Nếu so sánh với
Hai đứa trẻ của Thạch Lam, hình ảnh chị em Liên và An cũng phải kiếm
sống trên một quán tạp hoá nhỏ với cái đói về tinh thần, về sự khát khao
niềm vui thì ở đây trong sáng tác của Nguyên Hồng chúng không những bị
đày đoạ về tinh thần mà còn đói khát khổ cực từ miếng cơm manh áo.
Những đứa trẻ gợi niềm thƣơng cảm, xót xa. Nhà văn đã đứng từ vị
trí của bản thân để quan sát đồng cảm và xót thƣơng, nhân vật trẻ em gợi
nỗi day dứt, ám ảnh đến tội nghiệp.
3.2. Ngƣời kể chuyện tƣờng minh (nhân vật xƣng Tôi)
Cuốn tự truyện đƣợc coi là đầu tiên ra đời trong văn học Việt Nam
là tác phẩm Những ngày thơ ấu, đây là tác phẩm đã để lại ấn tƣợng sâu

Trích đoạn Ngụn ngữ trần thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status