ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THANH YẾN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
3. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 10
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11
B. PHẦN NỘI DUNG 12
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Nguyên Hồng là một trong những đại diện tiêu biểu của nền văn học hiện
thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Cùng với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô
Hoài, Nguyên Hồng đã trở thành một trong những nhà văn tiên phong góp phần
xây dựng nền văn học mới, nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với
gần nửa thế kỉ cần cù và say mê sáng tạo nghệ thuật, nhà văn đã để lại cho chúng ta
một gia tài văn học đồ sộ, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị. Ông đã đặt "cả
cuộc đời, trái tim và tâm hồn, nhường tất cả hơi sức, hi vọng và lòng tin" trên mỗi
trang viết để viết về những con ngƣời cùng khổ và dựng nên một bức tranh hiện
thực về sự nghiệp cách mạng trọng đại của dân tộc.Ngòi bút của Nguyên Hồng
cũng góp phần vào không khí sôi động và sự phát triển liên tục của hành trình văn
học Việt Nam trong thế kỉ XX.Với ý nghĩa đó, sự nghiệp văn học của nhà văn
xứng đáng đƣợc chúng ta giữ gìn, ngợi ca và trân trọng.
Nguyên Hồng, ngay từ những trang viết đầu tay, ông đã tự vạch cho mình
một con đƣờng nghệ thuật riêng: nhà văn của những ngƣời cùng khổ. Cả cuộc đời
cầm bút, ông gắn bó sâu sắc, máu thịt với những con ngƣời nhỏ bé, những lớp
ngƣời dƣới đáy của xã hội thành thị. Sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng có nét
gần gũi với nhà văn Nga Mácxim Gorki – trong mỗi trang viết của ông nồng nàn
hơi thở của đời sống cần lao. Nguyên Hồng luôn khả năng nhìn thấy một vẻ đẹp
đầy chất thơ trong đời sống cần lao, trong những cái bình thƣờng, thậm chí tầm
thƣờng, xô bồ, bề bộn của cuộc sống, trong cảnh lầm than, lam lũ, khốn khổ, cơ
cực của con ngƣời . Và ông đã say sƣa miêu tả những sâu kín, thánh thiện ấy với
một thái độ đầy nâng niu, trân trọng, và với một niềm tin mãnh liệt Không ít nhà
văn hiện thực cùng thời với ông nhìn cuộc sống một cách bi quan. Không có thái
độ bi quan về con ngƣời và xã hội đƣơng thời nhƣ Nguyễn Công Hoan hay Vũ
Trọng Phụng, Nguyên Hồng, dù cả cuộc đời sống trong cơ cực lao khổ, vẫn luôn
nhìn cuộc đời bằng con mắt tin yêu, lạc quan tin tƣởng và với một tấm lòng nhân
đạo cao cả.
Nguyên Hồng bƣớc vào nghề văn do sự thôi thúc nội tâm , muốn nói lên nỗi
1945, tác giả luận văn mong muốn đƣa ra một cái nhìn có tính hệ thống về nhân
vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng đồng thời khẳng định những đóng góp của nhà
văn đối với nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nguyên Hồng là một trong số những nhà văn ngay từ đầu đã tự xác định cho
mình con đƣờng nghệ thuật đúng đắn và tiến bộ. Ngòi bút của ông luôn hƣớng về
đời sống cần lao và những con ngƣời lao động nghèo khổ, lam lũ.Con đƣờng nghệ
thuật Nguyên Hồng là con đƣờng của nhà tƣ tƣởng hiện thực chủ nghĩa với chủ
nghĩa nhân đạo mãnh liệt và thống thiết. Con ngƣời nhà văn và những sáng tác của
ông luôn giành đƣợc những tình cảm yêu thƣơng đằm thắm trong lòng bạn bè và
bạn đọc nhiều thế hệ. Nguyên Hồng là một trong số ít những nghệ sĩ mà ngay trong
những sáng tác đầu tay đã có đƣợc vị trí vững chắc trên văn đàn nghệ thuật và trở
thành nguồn cảm hứng và cho nhiều nhà nghiên cứu và những ngƣời yêu thơ văn.
Cảm hứng đó đƣợc trải dài từ những năm trƣớc 1945 cho đến nay
a. Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nguyên Hồng lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn bằng truyện ngắn Linh
hồn đƣợc in trên Tiểu thuyết thứ bảy vào năm 1936.Đó là thời gian Nguyên
Hồng vừa chuyển đến sống ở Hải Phòng, ban ngày ông là một thầy giáo tƣ dạy học
cho lũ trẻ con nhà nghèo trong xóm Cấm, ban đêm ông lại cặm cụi viết văn dƣới
ánh đèn leo lét, viết một cách đau khổ và đầy say mê.Nhà văn trẻ ấy đã bƣớc vào
nghề văn bằng sự trình bày thống thiết nỗi khổ ê chề của những con ngƣời nhỏ bé
dƣới đáy xã hội vốn hằng ngày sống xung quanh mình.Nhƣng phải đến cuốn tiểu
thuyết Bỉ vỏ-tác phẩm đƣợc nhận giải thƣởng của Tự lực Văn đoàn năm 1937 thì
cái tên Nguyên Hồng mới thực sự đến gần với bạn đọc.
Ngay từ tiểu thuyết đầu tay ấy,Nguyên Hồng đã bộc lộ đƣợc tƣ tƣởng nhân
đạo của một nhà văn hiện thực. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Nhà văn
hiện đại (1942) đã nhận xét:
“ Tập văn đầu tiên của ông là tập Bỉ vỏ…Nhưng cái tư tưởng thâm trầm nó
bao quát cả cuốn tiểu thuyết Nguyên Hồng là cái tư tưởng : Tuy đã sa chân vào
chốn trụy lạc, người ta vẫn có thể mang một tâm hồn trong sạch được.” Bỉ vỏ là
Phan).
Đánh giá về tập truyện Bảy Hựu, trên tạp chí Tri Tân số 6(8-6-1941),
Nguyễn Tử Anh nhận xét:
“ Bảy Hựu là tác phẩm viết do một ngọn bút xuất sắc . Bảy Hựu với những
lời văn giản dị, trơn tru, ta không phải tìm hiểu mà tự nhiên thấy vô hạn thương
cảm những vai chủ động…không cầu kì, khách sáo, đó là đặc điểm của văn
Nguyên Hồng”.
Khảo sát tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng trƣớc Cách mạng tháng Tám
1945, có thể thấy các nhà nghiên cứu phê bình đều đánh giá cao tài năng của
Nguyên Hồng và khẳng định ông là nhà văn hiện thực mang tinh thần nhân đạo cao
cả. Tuy nhiên các bài phê bình đánh giá thƣờng tập trung nhiều vào mặt nội dung
tƣ tƣởng của tiểu thuyết Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu.Truyện ngắn của Nguyên
Hồng vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu chuyên sâu trong giai đoạn này.
b.Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945
đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng tiếp tục cho ra đời nhiều tác
phẩm có quy mô đồ sộ .Đặc biệt ánh sáng của quan niệm giai cấp và những nhận
thức về chính trị đã nâng cao chất lƣợng nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng.
Ngòi bút của ông với vẫn hƣớng tình cảm của mình về phía nhân dân lao động
đồng thời ca ngợi cuộc đấu tranh kiên trì và tất thắng của họ.
Phan Cự Đệ trong bài viết "Những bước tiến mới về tiểu thuyết Nguyên
Hồng sau Cách mạng Tháng Tám" đã đƣa ra những nhận định khái quát nhất về sự
nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng :
" Lò lửa và địa ngục là một cái mốc quan trọng trên con đường sáng tạo
của Nguyên Hồng. Tuy về căn bản nó vẫn là những tác phẩm hiện thực phê phán
nhưng cái ánh sáng chiếu rọi vào thì lại là của một thế giới quan đã bắt đầu đổi
mới"
"Bỉ vỏ và Sóng gầm là hai mốc về tiểu thuyết của Nguyên Hồng. Hai tác
phẩm cách nhau một phần tư thế kỷ và cũng là hai thời kì khác nhau trên con
đường nghệ thuật của Nguyên Hồng. Bỉ vỏ là những tình cảm yêu thương dào dạt,
“ Chúng ta có thể nói đến Nguyên Hồng như một phong cách truyện ngắn
trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sưu tầm và tuyển chọn những tác phẩm trước và
sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta sẽ có một tập truyện ngắn giá trị với nhiều
màu sắc độc đáo”.
Đúng nhƣ lời nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu “ Nguyên Hồng mất đi
nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ”. Từ sau khi nhà văn qua đời cho đến nay,
sự nghiệp văn chƣơng và con ngƣời nhà văn vẫn là đề tài cho các công trình khoa
học, các bài viết nghiên cứu phê bình văn học.
Tiếp cận đề tài từ góc độ văn học sử, trong cuốn sách Phong cách nghệ
thuật Nguyên Hồng, tác giả Bạch Văn Hợp đã trình bày một cách hệ thống những
nét độc đáo, tiêu biểu, có ý nghĩa thẩm mỹ cao và những biến chuyển nhất quán
của phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, từ đó góp phần khẳng định những cống
hiến và vị trí của nhà văn trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam hiện đại.Trong
đó, truyện ngắn của Nguyên Hồng là đối tƣợng chính đƣợc tác giả tập trung khảo
sát.
Nhà nghiên cứu trẻ Lê Hồng My với công trình " Lời văn nghệ thuật
Nguyên Hồng", đã chọn cách tiếp cận sáng tác của nhà văn từ góc độ "lời văn
nghệ thuật" để " khám phá các phương thức tổ chức, đặc điểm và đặc sắc của lời
văn; khám phá mối quan hệ giữa tư tưởng nghệ thuật và lời văn nghệ thuật; xác
định vai trò của lời văn nghệ thuật đới với thế giới nghệ thuật và phong cách nghệ
thuật Nguyên Hồng "(Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng- Lê Hồng My)
Tác giả Nguyễn Thu Hà với đề tài luận văn " Tìm hiểu những đặc điểm
nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trƣớc Cách
mạng", đã khảo sát những sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng
trƣớc năm 1945 để làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng.
Qua những bài viết và công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều mặt trong
sáng tác của Nguyên Hồng, các tác giả đã có những nhận định khách quan và chính
xác về thế giới nghệ thuật, phong cách nghệ thuật trong các tác phẩm tiểu thuyết và
truyện ngắn của nhà văn.
Tuy nhiên,chúng tôi nhận thấy những ý kiến phê bình đánh giá
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
- Phƣơng pháp phân tích-tổng hợp
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Phần Mở đầu và Phần Kết luận, nội dung chính của Luận
văn đƣợc tổ chức thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Hành trình nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con
người của Nguyên Hồng
Chƣơng 2: Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng
trước Cách mạng tháng Tám 1945
Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của
Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945
Cuối cùng là phần Thƣ mục Tài liệu tham khảo
Hồng ngày càng tích cực tham gia các hoạt động do Đảng cộng sản Đông Dƣơng
chủ trì trong suốt thời kì này.Cùng với Nhƣ Phong, Nguyễn Tƣờng Khanh, Trần
Minh Tƣớc, Lƣu Qúy Kì và La Hy, Nguyên Hồng tham gia sinh hoạt trong Đoàn
thanh niên dân chủ và viết bài trên các báo Thế giới và Mới.
Tháng 9/1939, Nguyên Hồng bị mật thám bắt tại Hải Phòng. Ông bị kết
án 6 tháng tù về"tội truyền bá văn học macxit và tham gia những tổ chức chống
phá trị an.". Trong thời gian bị tù đày gian khổ, các tập truyện Qua những màn
tối và Cuộc sống đã đƣợc ra đời, thể hiện những chuyển biến mới về tƣ tƣởng và
phong cách nghệ thuật của nhà văn.
Vào mùa hè năm 1943, Nguyên Hồng đã cùng với Nhƣ Phong, Tô Hoài,
Nam Cao, Nguyễn Đình Thi , Nguyễn Huy Tƣởng tham gia vào tổ chức Văn hóa
cứu quốc bí mật và đƣợc tiếp xúc với Đề cƣơng văn hóa 1943 của Đảng. Điều
này đã có ảnh hƣởng sâu sắc đến những tác phẩm đƣợc viết trong giai đoạn tiền
khởi nghĩa của Nguyên Hồng nhƣ: Hơi thở tàn, Hai dòng sữa, Ngọn lửa, Buổi
chiều xám
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia biên tập cho tạp
chí Tiên phong- cơ quan hoạt động văn hóa mới của Đảng. Thời gian này ông tiếp
tục cho ra đời tập truyện vừa Ngọn lửa, tập truyện ngắn Địa ngục và lò lửa. Trong
đó, một số truyện đã đƣợc in trên tạp chí Tiên phong.
Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nguyên Hồng cùng với một số gia
đình văn nghệ sĩ khác nhƣ Ngô Tất Tố, Kim Lân lên khai phá ấp Kì Nhân(tức ấp
Cầu Đen-Yên Thế) cạnh căn cứ của nghĩa quân Đề Thám năm xƣa.Tại đây, ông
tiếp tục tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam, là biên tập viên cho
tạp chí Văn nghệ của Hội và phụ trách Trƣờng văn nghệ nhân dân Trung ƣơng
từ nhũng khóa học đầu tiên.
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông cùng gia đình chuyển về
sống ở Hà Nội, đƣợc phân công công tác tại Hội nhà văn Việt Nam và làm thƣ kí
tòa soạn cho tuần báo Văn của Hội do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ
nhiệm.Sau đợt đấu tranh chống lại nhóm Nhân văn -giai phẩm, Nguyên Hồng
chuyển về tham gia lao động tại nhà máy xi măng Hải Phòng. Cũng tại nơi đây,
chất của truyện ngắn là ngắn, hàm súc, khái quát nghệ thuật cuộc sống theo chiều
sâu. Ở Việt Nam, truyện ngắn xuất hiện nhƣ một thể loại văn học từ đầu thế kỉ
XX, cùng với sự ra đời của văn xuôi quốc ngữ, gắn liền với tác động của báo chí.
Truyện ngắn hiện đại Việt Nam đạt đƣợc nhiều thành tựu xuất sắc trong
khoảng thời gian 1930-1945, gắn với tên tuổi và đóng góp to lớn của các nhà văn
nhƣ Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nguyên Hồng,
Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Kim Lân, Bùi Hiển Truyện ngắn giai đoạn này khá đa
dạng, đặc biệt phong phú về khuynh hƣớng thẩm mỹ, về đề tài, nội dung phản ánh,
về bút pháp, phong cách đồng thời còn đạt đến những giá trị mới về nội dung, cũng
nhƣ có sự đổi mới sâu sắc có hệ thống về hình thức, từ đó tạo nên sự xuất hiện của
những đỉnh cao nghệ thuật mới.
Nhờ có sự ra đời của báo chí mà truyện ngắn giai đoạn này đã áp sát tới gần
đời sống, kể về cuộc sống nghèo khổ của những con ngƣời tầm thƣờng dƣới đáy xã
hội.Về hệ đề tài, có thể nói truyện ngắn đã hƣớng tới tất cả mọi mặt của đời thƣờng
và khám phá tất cả những biểu hiện phong phú phức tạp trong đời sống tinh thần
của con ngƣời.
Cùng với sự phong phú về mặt nôi dung thì truyện ngắn 1930-1945 cũng rất
đa dạng về phong cách và bút pháp nghệ thuật.đó là Nguyễn Công Hoan tiêu biểu
cho phong cách truyện ngắn hài hƣớc mang đậm tính chất hiện thực; Nam Cao
mang một phong cách hiện thực nghiêm ngặt giàu tính chất tâm lý, mang dáng vẻ
hiện đại; với Thạch Lam thì " mỗi truyện ngắn là một bài ca trữ tình đầy xót
thương" và "những con người nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn học trong một
không khí trữ tình đầy mến thương toả ra một cách dịu dàng từ tấm lòng tác giả
"; và có một Nguyên Hồng với bút pháp viết truyện vừa hiện thực vừa lãng mạn.
Trong sự nghiệp sáng tác dồi dào của Nguyên Hồng, truyện ngắn có
một vị trí quan trọng không thua kém gì so với các tác phẩm tiểu thuyết của ông.
Gần nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, ông đã cho ra đời 7 tập truyện ngắn: Bảy Hựu
(1940), Hai dòng sữa (1943), Miếng bánh (1945), Ngọn lửa (1945), Địa ngục và
lò lửa (1946), Giữ thóc (1956) và Tuyển tập truyện ngắn 1983-1985. Trong đó,
những truyện ngắn đƣợc viết trƣớc năm 1945 đƣợc bạn đọc yêu mến và đƣợc giới
nhau. Tất cả những thủ pháp đó đề nhắm phản ánh cuộc sống của tầng lớp dân
nghèo thành thị, những con ngƣời lƣơng thiện bị vùi dập,những tấm lòng yêu
thƣơng, nhân nghĩa thủy chung, những khát vọng đẹp đẽ về một thế giới trần đầy
ánh sáng và hạnh phúc.
Truyện ngắn của Nguyên Hồng đƣợc viết với giọng văn thƣơng cảm thống
thiết và lạc quan sôi nổi. giọng điệu ấy đi liền với cấu trức lời văn nghệ thuật.Câu
văn của ông thƣờng đƣợc mở rộng thành phần theo kiểu tăng cấp, liệt kê và sử
dụng các kết cấu lặp. Đoạn văn của ông thƣờng đƣợc tổ chức theo kết cấu tầng
tầng lớp lớp, kết cấu lửng theo kiểu lặp cấu trức câu. Vì vậy, văn của Nguyên
Hồng luôn dồi dào cảm xúc, giàu chất thơ và dễ đi vào lòng ngƣời.
Cùng với giọng điệu thƣơng cảm thống thiết ấy là ngôn ngữ giàu giá trị biểu
cảm.Nhà văn đã khai thác và vận dụng sáng tạo khả năng biểu đạt của nhiều loại
hình ngôn ngữ để diễn tả nỗi đau khổ cùng cực và những phẩm chất tinh thần tốt
đẹp của ngƣời lao động. Đó là cách sử dụng từ ngữ, thành ngữ, thán từ một cách
linh hoạt. Ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyên Hồng là ngôn ngữ gây ấn
tƣợng, tác động đến giác quan của ngƣời đọc.
Truyện ngắn của Nguyên Hồng có một lối tự sự chân thật giàu cảm xúc, thể
hiện lòng thƣơng cảm đối với những kiếp ngƣời cùng khổ và một niềm tin mãnh
liệt vào những phẩm chất tốt đẹp của ngƣời lao động. Truyện ngắn của ông còn thể
hiện một cái nhìn lãng mạn, tràn đầy chất thơ về đời sống cần lao, một giọng điệu
trần thuật sôi nổi thiết tha với những hình thức ngôn ngữ giàu biểu cảm, gấy ấn
tƣợng, là sự kết hƣợp hài hòa giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn. Tất
cả các yếu tố trên đã tạo nên cho truyện ngắn Nguyên Hồng một phong vị riêng,
vừa độc đáo vừa gần gũi với đời sống tinh thần, tình cảm của nhân dân lao động.
1.2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI
1.2.1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng
“Quan niệm nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn bó với quan
niệm thế giới quan, triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung, nhưng
tự bản thân nó đã là một “ý thức hệ” đặc biệt gắn liền với miêu tả nghệ
thuật” (Phan Cự Đệ). Nhƣ vậy, cái thúc đẩy sức sáng tạo nghệ thuật chính là quan
đã viết để đƣợc giãi bày tấm lòng mình, để đƣợc chia sẻ, cảm thông, để tìm ra ánh
sáng cho cuộc đời cơ cực và đau khổ của mình. Bởi vậy, Nguyên Hồng viết suốt
ngày, suốt đêm, viết một cách say mê bất chấp " cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng
trong đêm mưa lạnh hoang vắng". Bỉ vỏ- cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông cũng
đƣợc viết " trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng nước đen ngầu bột
của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân tro" 25,2].
Nguyên Hồng thƣờng mải mê viết truyện giữa tiếng tranh giành xô
xát, mỉa mai đay nghiến, eo sèo khắc khoải của những ngƣời dân nghèo trong các
ngõ hẻm của thành phố Hải Phòng.Ngay cả trong những ngày đang bị tù đày ở Bắc
Mê, sau khi đi làm cỏ vê về, ông lại cặm cụi ngồi viết ở một gốc cây mé sau trại
giam " dưới một bầu trời mờ mờ xám xám, xung quang là màu xanh hoang vu của
núi rừng dày đặc và tiếng gió rừng lạnh lẽo hú lên từ thung lũng này qua thung
lũng khác" [60, 129].
Nguyên Hồng luôn quan niệm " văn chương là sự thật ở đời, và mỗi nhà
văn, người nghệ sĩ phải đi thẳng vào cuộc đời xốc vác lấy một phần công việc với
mọi người". Ông tự nhắc nhở mình " không được viết những truyện tình yêu phù
phiếm bợm bãi, những truyện mơn trớn khêu gợi, những tình cản thấp kém , những
truyện để mua vui, để chiều ý, để cầu lấy chút khen ngợi hay nhắc nhở của một bọn
vô công rồi nghề phè phỡn". Đối với Nguyên Hồng, một nhà văn chân chính thì "
không nên và không được viết những gì a tòng, những gì tô điểm cho lối sống và
bộ mặt của chúng" [7,846].
Chọn con đƣờng viết văn để phản ánh sự thật, ngay từ đầu Nguyên Hồng đã
là một nhà văn hiện thực.Cũng nhƣ các nhà văn có cùng khuynh hƣớng, nhà văn
hiện thực đã có sự gặp gỡ kết hợp với tinh thần nhân đạo tha thiết. Tấm lòng yêu
thƣơng những con ngƣời nghèo khổ trong xã hội cũ nhƣ đám thợ thuyền, phu phen,
những ngƣời phụ nữ góa bụa, những kẻ lƣu manh tội lỗi, đám trẻ mồ côi lang thang
đã thôi thúc ông cầm bút viết về họ bằng một tình cảm da diết, mãnh liệt và thƣờng
trực của tâm hồn.
Quan điểm nghệ thuật tiến bộ của Nguyên Hồng có sự gặp gỡ với các nhà
văn cùng thời . Thạch Lam, một nhà văn trong Tự Lục văn đoàn, là nhà văn lãng
thƣơng vô hạn, với một trái tim nhân hậu và nồng ấm.
Nguyên Hồng quan niệm mỗi nhà văn đều phải nỗ lực không ngừng để tạo
nên một phong cách riêng: “Dù tôi non nớt, dù tôi vụng về, dù tôi không tài không
giỏi không lọc lõi không cao tay nghề nhưng tôi nhất định không chiu kém trong
tinh thần cố gắng trong công sức sáng tạo” [7,897].
Để có đƣợc cái cá tính và cái riêng biệt trong sáng tác của mình, ông tự nhủ
“ phải làm sao “cái đó” toát lên ở tâm hồn biết yêu thương của mình, ở màu sắc
sự sống mà mình diễn tả, ở thái độ trước cuộc đời mà mình suy nghĩ, ở sự gửi gắm
với người đọc, đem lại cho người đọc một sự kết đọng cao quý và trân trọng vì
nhân sinh”.
Nguyên Hồng ý thức đƣợc văn học phải tái hiện hiện thực cuộc sống và
ngƣời nghệ sĩ phải hòa mình vào cuộc sống của nhân dân thì nghệ thuật và con
ngƣời công dân mới kết hợp làm một và tiếng nói nghệ thuật mới cộng hƣởng đƣợc
với hơi thở và nhịp đập của cuộc sống ngƣời lao động :
"Không phải ngòi bút của tôi chỉ có sức sống vì đắm mình vào trong sự đau
khổ quằn quại, làm việc một bóng một đèn, mà sẽ dồi dào sinh lực chính ở trong
lao động và đấu tranh sát cánh với những con người lao động".
Nguyên Hồng khẳng định ngòi bút nhà văn phải biết tố cáo, biết phá bỏ và
biết xây dựng cuộc sống, đó chính là ngòi bút của cách mạng, của lí tƣởng cộng
sản.
Với Nguyên Hồng, viết văn là để ngƣời đọc phải nghĩ về sự thật và thấy
rằng cuộc sống không cho phép chúng ta trốn tránh, vô trách nhiệm, nhẫn tâm với
ngƣời xung quanh, viết mà ngòi bút nhà văn không trăn trở, suy nghĩ, không có
cái Tâm thì nhà văn đó không thể tái hiện đƣợc cuộc sống , con ngƣời và cuộc đời.
Trong cuộc đời viết văn đầy tin tƣởng và say mê của mình, Nguyên Hồng
luôn tự nhắc nhở :
" không được bằng lòng với chính mình, không được cho phép mình gian dối
và phải không ngừng trau dồi vốn sống".
Cũng chính vì quan niệm nghệ thuật văn chƣơng đúng đắn mà văn Nguyên
Hồng luôn" ngồn ngộn chất sống", ông chủ trƣơng cho cuộc sống ùa vào trang viết