Luận văn:NGÔN TỪ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN VÕ VÂN HÀ
NGÔN TỪ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN TRƢỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
5. Cấu trúc luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, NHÃN QUAN NGÔN
NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN 8
1.1. Cái nhìn độc đáo về con ngƣời 8
1.2. Quan niệm về nhà văn và nghề văn 19
1.3. Nhãn quan ngôn ngữ 29
CHƢƠNG 2: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 36
2.1. Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật 36
2.2. Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện 36
2.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện biết trước 37
2.2.2 Ngôn ngữ người kể chuyện hóa thân vào nhân vật 40
2.3. Ngôn ngữ nhân vật 41
2.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 42
2.3.2. Ngôn ngữ độc thoại 50
2.4. Ngôn ngữ giàu màu sắc văn hóa 51
CHƢƠNG 3 : GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 59
3.1. Khái niệm giọng điệu 59
3.2. Các giọng điệu chính 59
3.2.1. Giọng điệu khinh bạc 60
3.2.2. Giọng điệu hoài tiếc 77

nghệ thuật phong phú, kỳ diệu, mới mẻ và bao giờ cũng đem lại cho người
đọc một sự hứng thú đặc biệt. Hoài Anh nhận xét: “Nguyễn Tuân là người
nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn
học Việt Nam’’ [48, 230]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Có những người viết hàng chục quyển sách nhưng vẫn chẳng ai biết tên,
nhớ mặt. Có những người chỉ viết vài bài thơ, vài truyện mà khắc được bóng
dáng mình vào vĩnh cửu. Nguyễn Tuân là nhà văn được trời phú cho rất nhiều
khả năng trong việc bộc lộ giọng điệu. Trong cuốn Nhà văn hiện đại, nhà phê
bình văn học Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Văn chương Nguyễn Tuân đã làm
cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông và những
ý kiến cùng tư tuởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay, khinh bạc,
lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng
bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”.[51, 426,
427]
Tất nhiên khi nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta nhớ đến ông với tư cách
ông vua trong thể tùy bút. Với tài năng nghệ thuật của mình, ông đã đưa tùy
bút thành một thể văn sang trọng, lịch lãm. Bên cạnh đó, truyện ngắn của
Nguyễn Tuân cũng không kém phần đặc sắc. Trong luận văn này, chúng tôi
mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật của
nhà văn trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân trước năm 1945 để hiểu hơn sự
đa dạng của ngòi bút độc đáo này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu chung về Nguyễn Tuân
Việc nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Tuân trải qua ba chặng sau đây:
Trước năm 1945: Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay
từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút ký,

Nguyễn Tuân ở thể tùy bút, còn chưa quan tâm thật sâu đối với thể loại truyện
ngắn. Các tác phẩm của Nguyễn Tuân giai đoạn này chưa được đánh giá cao
vì đọc chúng người ta vẫn nhận thấy bóng dáng của những con người cũ. Bên
cạnh đó, phê bình văn học lúc bấy giờ quan tâm chủ yếu đến nội dung xã hội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
học, không chú trọng mặt nghệ thuật ngôn từ. Gió Lào ra đời 1947 đã nhận
được nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Trương Chính đã phê phán Nguyễn
Tuân: “Sao mà kềnh càng đến thế? Bao nhiêu nỗi vui buồn trước mắt, thân
thiết hơn, sao không nói! Ai còn có thì giờ đâu mà đi sâu vào lòng mình, mà
ngồi chẻ sợi tóc làm tư. Mới đến cảnh gió Lào xứ Nghệ mà kéo bảy tám trang
ròng! Nhắc đến đại đóa, hoa lay ơn, giữa khi xung quanh ngút khói lửa và
vang tiếng đại bác, cối mìn! Thật là quá đáng”.
Khác với ý kiến trên, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định Nguyễn Tuân là
nhà văn có tầm ảnh huởng lớn đến đời sống văn học nước nhà mấy chục năm
qua: ông “là một hiện tượng văn học phức tạp, nhất là trước cách mạng tháng
tám”. Tờ Văn hóa văn nghệ công an - số 10 năm 1997 có phỏng vấn nhà thơ
Tế Hanh về những tác phẩm văn học Việt Nam thế kỉ XX mà ông sẽ chọn
mang theo hành trang của mình vào thế kỷ XXI, nhà thơ đã không ngần ngại
nêu lên đầu tiên đó là Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân.
Sau năm 1986: Bước sang những năm 80, khi không khí văn học bắt đầu
đổi mới thì vấn đề nghiên cứu văn phẩm Nguyễn Tuân lại khởi sắc và có
nhiều cái nhìn mới thiện cảm hơn so với khoảng thời gian trước đó. Đây là
giai đoạn Nguyễn Tuân được đánh giá toàn diện, thỏa đáng. Thời kì này các
nhà nghiên cứu như: Phan Ngọc, Đỗ Đức Hiểu, Lại Nguyên Ân, Nguyễn
Đăng Mạnh, Nguyễn Minh Châu, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Phong Lê, Tôn
Thảo Miên, Hà Văn Đức… đã tiếp cận nghiên cứu tài năng của Nguyễn Tuân
từ nhiều huớng khác nhau. Đặc biệt, sau khi Nguyễn Tuân mất, đã có hàng

nghệ thuật tác phẩm. Một tác phẩm văn học có trở thành kiệt tác, ghi đậm dấu
ấn trong lòng độc giả hay không, có trở thành món ăn tinh thần của dân tộc hay
không, không chỉ tùy thuộc vào nội dung tu tuởng mà còn phụ thuộc vào chất
luợng hình thức biểu hiện ngôn từ. Ngôn từ chính là yếu tố quan trọng bậc nhất
của hình thức biểu hiện đó. Đáng chú ý là một số bài viết như: Nguyễn Tuân -

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa của Hoài Anh; Nguyễn Tuân -
Bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam của Mai Quốc Liên; Về truyện ngắn
Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân của Văn Tâm; Thầy chữ Nguyễn Tuân của
Hà Bình Trị, Như một ông lão thợ đấu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân-
chuyên viên tiếng Việt của Nguyễn Đăng Điệp in trong cuốn Chân dung nhà
văn Việt Nam hiện đại, nhà xuất bản Giáo dục 2005.
Giọng điệu nghệ thuật Nguyễn Tuân cũng được một số nhà nghiên cứu
chú ý. Luôn chất chứa những mâu thuẫn trong nội tâm, tư tưởng nên văn
Nguyễn Tuân là thứ văn đa giọng điệu như: giọng trào phúng, trữ tình, hoài
tiếc, triết lý, khinh bạc. Nhắc đến giọng điệu Nguyễn Tuân không thể không
nhắc đến giọng khinh bạc, đây là giọng điệu nổi bật nhất giai đoạn trước cách
mạng tháng Tám.
Ngoài ra có nhiều công trình, luận án, luận văn quan tâm đánh giá,
nghiên cứu toàn diện hoặc nhiều khía cạnh nội dung, nghệ thuật tác phẩm
Nguyễn Tuân như: Ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Tuân của
Nguyễn Thị Ninh- năm 2004. Tuy nhiên, riêng về phương diện ngôn từ và
giọng điệu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám
1945 hiện chưa có công trình nào nghiên cứu thật toàn diện và cụ thể. Đây là
một “khoảng trống” mà chúng tôi hi vọng sẽ phần nào bù đắp được qua quá
trình thực hiện luận văn này.
3. Đối tuợng, phạm vi nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG 1
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, NHÃN QUAN NGÔN NGỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN

1.1. Cái nhìn độc đáo về con ngƣời
Macel Proust - nhà văn Pháp nổi tiếng với tác phẩm Đi tìm thời gian đã
mất quan niệm: “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà họa sĩ phong cách
không phải là vấn đề kĩ thuật, mà là vấn đề cái nhìn. Như vậy cái nhìn chi phối
hình thức nghệ thuật của tác phẩm, chi phối phong cách tác giả. Cái nhìn từ
phạm vi tri giác tuy có cội nguồn cảm giác nhưng là một cái nhìn có tính tự túc
một lãnh hội ý tưởng”. Ngôn ngữ thì chung nhưng cái nhìn của mỗi nhà văn lại
có sự khác nhau, sự khác nhau đó được thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ của
nhà văn ấy. Cuộc sống vốn tồn tại muôn màu, muôn vẻ. Con người cũng có vô
vàn trạng thái tâm lý, cảm xúc khác nhau. Có những trạng thái tình cảm của
con người mà ngôn ngữ thông thường không sao biểu đạt được một cách chính
xác, đầy đủ. Người nghệ sĩ tài hoa phải là người viết được tình cảm ấy lên trang
giấy bằng thứ ngôn ngữ riêng của mình. Cái nhìn nghệ thuật chính là nền tảng
vững chắc để người nghệ sĩ tạo dựng cho mình một hệ thống ngôn từ riêng, qua
sự lựa chọn, chắt lọc ngôn ngữ chung. Trước sự vật, hiện tượng, mỗi nhà văn
có suy nghĩ, sự cảm thụ, liên tưởng, tưởng tượng khác nhau, điều đó đã quy
định cái nhìn nghệ thuật cũng có sự khác nhau.

anh nông dân chân chất, hiền lành ngày nào trở thành con quỷ dữ của làng Vũ
Đại, chuyên đi rạch mặt ăn vạ, một sự tha hóa đáng sợ. Cho dù Chí Phèo
muốn làm lại cuộc đời, muốn tìm được hạnh phúc cho riêng mình, nhưng Thị
Nở, bà cô Thị Nở hay cũng chính là sự miệt thị, ghẻ lạnh của xã hội đã đẩy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Chí đến sâu thẳm của đáy vực. Chí đã vác dao đến nhà Bá Kiến để đòi lại sự
lương thiện, nhưng ai có thể trả lại sự lương thiện cho Chí. Nguyễn Công
Hoan nhìn thấy sự phá hoại nhân cách ở tầng lớp quan lại, giàu có, quyền thế,
sử dụng địa vị của mình để chà đạp lên những người dân thấp cổ bé họng.
Nói đến Nguyễn Tuân, người ta nghĩ ngay đến một cây bút nổi bật của
xu huớng văn học lãng mạn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Đó là một
nhà văn của quan điểm duy mỹ, nghiêng nhiều về phía vị nghệ thuật. Đối với
Nguyễn Tuân, văn chương và nghệ thuật đứng trên mọi thứ thiện ác ở đời.
Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Tuân luôn khao khát vươn tới cái
đẹp, tôn thờ cái đẹp.
Tùy theo thái độ phản ứng lại đối với thực tại đời sống và cách tìm lối
thoát của các nghệ sĩ, chủ nghĩa lãng mạn được chia thành những khuynh
huớng khác nhau: khuynh hướng tiêu cực với thái độ bi quan về thực tại, tình
cảm chán chường và hoài niệm về quá khứ; khuynh hướng thứ hai là khuynh
hướng tích cực, tràn trề niềm tin vào cuộc sống thực tại, tương lai, lạc quan về
nhân thế và khả năng sáng tạo đời sống.[42, 87] Nguyễn Tuân và Thạch Lam
cùng chủ nghĩa lãng mạn theo khuynh hướng thứ nhất. Điểm chung của hai nhà
văn này là yêu vẻ đẹp cổ xưa, cùng hướng ngòi bút về cội nguồn văn hóa
truyền thống của dân tộc. Đều là nhà văn thuộc trường phái lãng mạn chủ
nghĩa, nhưng giữa hai cây bút Thạch Lam và Nguyễn Tuân lại có cái nhìn khác
nhau. Đương thời Thạch Lam là người không ưa sự hào nhoáng, bóng bẩy mà
yêu thích sự bình dị, kín đáo. Điều này đã ăn sâu vào tâm hồn nhà văn, nên

hội, có sự phản ứng quyết liệt chống lại hoàn cảnh bằng những hành động phá
phách, ngang tàng, khác đời, khác người. Nguyễn Tuân tạo ra những con người
có cuộc sống riêng, chống lại khủng hoảng, dằn vặt, thất vọng. Xây dựng
những nhân vật ấy, Nguyễn Tuân đã tỏ lòng mình cho thiên hạ thấy, không
phải ông chạy trốn thực tại mà thể hiện lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn
những nét độc đáo của văn hóa Việt, lưu giữ giá trị thẩm mỹ dân tộc cho con

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
cháu đời sau. Thời gian có thể qua đi, nhưng những vẻ đẹp cổ xưa vẫn còn
mãi mãi trong tác phẩm của ông.
Với cái nhìn lý tưởng về con người và là “Ngòi bút huớng nội nhất trong
các cây bút văn xuôi lãng mạn Việt Nam” ( ý kiến của Văn Tâm trong bài Về
truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân)[48, 291] nên những nhân vật
của ông không thể là những con người bình thuờng mà phải chí khí hơn người.
Điển hình là nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù. Huấn Cao
''văn võ đều có tài cả'', đức tài gồm đủ trí dũng song toàn. Ông bị bắt vào ngục
cũng chỉ vì muốn chống lại sự vô lý của cường quyền để rồi sa cơ lỡ vận trở
thành kẻ tử tù suốt ngày đêm cổ đeo gông, chân vướng xiềng. Xây dựng Huấn
Cao, Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh vào yếu tố thiên lương và đề cao tài năng đặc
biệt hơn người của ông là ở tài thư pháp. Mở đầu truyện, chúng ta bắt gặp cuộc
đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại, qua đó hé mở về kẻ tử tù xấu số
chuẩn bị đưa đến nhà lao:
''Này thầy bát, cứ công văn này thì chúng ta sắp nhận được sáu tên tù
án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là
Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà người mà vùng
tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó''.
''Thầy liệu cái buồng đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy
hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn là Huấn Cao, ngoài cái tài viết

Bằng bút pháp lãng mạn, Nguyễn Tuân đã tạo nên hình tuợng người anh hùng
Huấn Cao có một không hai. Nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên
mẫu có thực ở ngoài đời là Cao Bá Quát, dạy học đất Tây Sơn từ trăm năm
trước, duới xã hội xứ Đoài thời ông Huấn - triều đại Thiệu Trị, Tự Đức cũng
chính là xã hội Việt Nam thời Nguyễn Tuân đang sống. Qua đó, nhà văn thể
hiện tình yêu nước sâu sắc đến khắc khoải của mình. Người nghệ sĩ chân chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
ấy đã không xưng mình là người yêu nước, quay trở lại với quá khứ chính là để
tìm lại những giá trị dân tộc đang dần phai mờ. Tình cảm của Nguyễn Tuân
chính là ở chỗ ấy, thực kín đáo và đáng trân trọng biết bao.
Những tác phẩm thuộc thể tài Yêu ngôn được ra đời vào giai đoạn sáng
tác bế tắc nhất Nguyễn Tuân. Lúc này, Nguyễn Tuân nhìn đời như một sân
chơi quái đản, kì dị, vô hồn, trống rỗng. Nhưng một điều dễ nhận ra là ngay cả
khi tâm lý bị đè nặng bởi sự u uất thì nhân vật của ông vẫn là những con người
mang số phận dị biệt và có tính cách, tài năng phi thường.
Nhân vật Bát Lê trong Bữa Rượu máu gây ấn tượng mạnh mẽ với người
đọc về lối chém treo ngành. Y có cái tài chém đầu người, chỉ bằng một nhát
gươm mà đầu vẫn dính vào cổ lần da gáy.
Một nỗi niềm thương cảm, xót xa lan tỏa trong lòng mỗi người, tiếc cho
số phận một kẻ tài hoa, tài tử mà mệnh bạc. Cái cậu Ấm Đới trong Đới Roi đã
từng dám đem bán bộ chén ngọc liệu của dòng họ để sắm màn Hồng Kông cho
người tình, còn bao nhiêu thì đem uống sâm banh dần với tình. Nay sa cơ lỡ
vận, để sự nghiệp tiêu tan theo giọng hát tiếng đàn phải sống bằng nghề chuốt
roi chầu, vót gọng ô nan hoa xe đạp làm tiêm bán cho các tiệm ấy đã không
chấp nhận mãi lòng thương hại của người đời đã lựa cho mình cái chết ra đi
trong sự thanh thản. Cái chết của cậu Ấm đã khẳng định nhân cách, lòng tự
trọng của một người tài tử.

đòi lại công bằng cho một cô Cốm. Chẳng biết ông đã nói gì nhưng đứng
ngoài vòng dinh, mọi người nghe thấy tiếng quan Thượng mắng lũ lính canh
đã để thích khách vào. Hôm sau, ông già được tha ra về và ngay sau đó cô
Cốm cũng được trả về cuộc đời cũ nơi thôn ổ. Chí Phèo của Nam Cao cũng
say, nhưng cũng có lúc Chí đã tỉnh để nhận ra sự xấu xa của xã hội. Còn Bố Ô
thì chìm đắm trong những cơn say triền miên, say vô tận. Khi bị ngọn lửa vô
tình thiêu cháy, ''Xác Bố Ô nứt đến đâu là mùi thịt thui ấy thơm lừng như mùi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
cá mực nướng bằng ruợu không có chút gì là hôi khét cả. Và lúc mà lửa đã
hoại xong cái xác kia thì cỗ xương ấy bệch ra như thạch cao ải vụn ra trông
trắng nhỏ không khác gì thứ bột để luyện những hòn men''.[58, 284] Còn
chiếc chén gỗ của Bố Ô sau vụ hỏa hoạn vẫn còn nguyên, sau vào tay một vị
Thái bộc mang theo luôn trong người để phòng việc hỏa hoạn.
Nguyên Tuân đã khoác lên bộ ba nhân vật Cai Xanh, Lý Văn, Phó
Kình- những tấm áo anh hùng chốn giang hồ, lấy tiền bạc của bọn bất nghĩa
chia cho dân nghèo trong Một đám bất đắc chí. Để độc giả không sao quên
được huyền sử bao quanh con dao thép hai lưỡi sáng ngời và huyền sử chạy
chung quanh cái hộp đựng thuốc lào trạm trổ tỉ mỉ cái mặt hổ phù của Cai
Xanh, cái tài ném bút chì của Phó Kình: “Bỗng sau một tiếng phập, thân trên
cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh roẹt”[58, 145] hay tiếng lưỡi mai ở
tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vụt, một tiếng gà kêu oác.
Nguyễn Tuân là người yêu cái đẹp, nhạy cảm với cái đẹp, ông nhìn sự
vật hiện tượng nghiêng về góc độ thẩm mỹ. Bởi là người tài hoa nên Nguyễn
Tuân yêu quý những con người tài hoa. Nhà văn đã dành trọn tâm huyết của
mình để xây dựng nên những cụ Nghè, cụ Thượng, cụ Ấm. Qua ngòi bút của
Nguyễn Tuân, họ hiện lên là những người sống thanh cao, biết yêu và thuởng
thức cái đẹp, nâng niu giá trị văn hóa dân tộc chứ không phải là lớp quan hám

đơn thuần mà chơi hoa cũng là cả một nghệ thuật, một phần cuộc sống của cụ.
Cái tiệc Thạch lan hương của cụ vào ngày nguyên tiêu cũng là một lối chơi
đầy vẻ lễ nghi, cầu kì, khác người, uống ruợu nhắm với đá cuội tẩm kẹo mạch
nha trong mùi lan thoang thoảng khắp vườn.
Còn cụ Sáu trong Những chiếc ấm đất chỉ uống trà bằng nước giếng
pha trên chùa Đồi Mai. Cụ không bước chân đi đâu xa được vì không đem
theo được nước giếng chùa và thề rằng giếng chùa mà cạn thì sẽ cho ngay
người nào muốn xin bộ đồ trà quý báu và dám cả gan đánh đổi sản nghiệp lấy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
một chén trà ngon. Nhân vật người khách kì lạ xuất hiện trong câu chuyện về
những chiếc ấm cũng thực hiểu biết về nghệ thuật thưởng trà, với kẻ hành
khất sang trọng này uống trà đã trở thành một nghệ thuật tinh túy.
Lãng tử giang hồ mang phong cách sống nghệ sĩ, nay đây mai đó mang
cái tài hoa của mình đi làm niềm vui cho cuộc đời cũng là loại nhân vật được
Nguyễn Tuân yêu quý. Nhà văn dành tình cảm đặc biệt cho ông bà Phó Sứ
trong Đánh thơ, họ là một đôi lứa tài tử. Cái nghề thả thơ của họ buộc họ phải
xê dịch luôn luôn và mãi mãi. Suốt một dải Trung Kỳ họ đi đi về về như là
trẩy hội. Một tuần trăng cặp đôi này lại ở một tỉnh. Đi đến đâu họ cũng một
cái túi đựng toàn thơ ra đố cho mọi người đặt tiền trên chiếu bạc văn chương.
Cái nghề của cặp đôi Phó Sứ - Mộng Liên nhờ vả cổ thi kiếm được nhiều tiền
nhưng họ yêu nghề và cái nghề ấy không thể ở yên một chỗ được. “Quê
hương của họ là cờ bạc và đờn hát. Nhà của đôi lãng du ấy gửi vào trong cái
truy hoan của thiên hạ. Cái lãi trong đời bấp bênh của họ là ở chỗ nhiều người
nhắc nhỏm tới cái tên Mộng Liên và Phó Sứ mỗi khi lứa đôi chậm tới hay là
đã lâu rồi mà chưa thấy trở lại. Người đánh thơ được, người đánh thơ thua
liểng xiểng, ai ai cũng đều nhớ đến họ khi xa vắng‟‟ [58, 100, 101]. Họ
nguyện đem cuộc đời mình ra phục vụ cho thơ ca. Cuối cùng, người chồng tài

Sau cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân đã thay đổi cách nhìn về con
người. Chính cách mạng đã đưa nhà văn lãng mạn Nguyễn Tuân đến một thế
giới mới. Nguyễn Tuân đã thấy cái đẹp ở khắp nơi trong cuộc sống. Nhân vật
của ông giờ là những con người dám thành thực với cuộc đời, yêu và ghét rõ
ràng. Thể hiện cái tôi cá nhân riêng biệt, ngạo nghễ, thích sự khác đời, khác
người nhưng khác đời, khác người mà lại hơn người ở sự tài hoa, thẳng thắn.
1.2. Quan niệm về nhà văn và nghề văn
Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời
sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật. Nó gắn với phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
trù các phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của
hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật
của văn học có liên quan mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về
mặt triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình.
[42, 275]
Câu mở đầu trong lời giới thiệu - Nguyễn Tuân toàn tập (Nhà xuất bản
Văn học), Nguyễn Đăng Mạnh đã viết: “Nguyễn Tuân là một hiện tuợng văn
học phức tạp, nhất là trước cách mạng tháng tám”. Theo Nguyễn Đăng Mạnh,
muốn hiểu tác phẩm của Nguyễn Tuân thì trước hết phải hiểu quan điểm nghệ
thuật của ông. Nhưng quan điểm nghệ thuật của ông cũng là một mặt của hiện
tuợng phức tạp, nghĩa là có những mâu thuẫn, những chỗ không nhất quán.
“Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến một nhà văn của quan điểm
duy mỹ, chỉ trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung, chủ trương viết văn
không khuynh huớng, nghĩa là muốn đặt nghệ thuật lên trên mọi thứ thiện ác
ở đời''.
Nguyễn Tuân quan niệm nhà văn là người đi tìm cái đẹp. Điều này có
thể nhận biết trong bài viết của một số tác giả như: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn

một bậc trượng phu đến tấm lòng trong sáng của kẻ biết quý trọng cái tài, cái
đẹp. Huấn Cao với tư cách là một nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết
chữ có một không hai. Chữ ở đây không phải chỉ là ký hiệu ngôn ngữ mà còn
thể hiện tính cách con người. Chữ của ông Huấn vuông lắm cho thấy ông có
khí phách hiên ngang. Ý chí kiên cường và khát vọng, hoài bão tung hoành
bốn bể. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời. Nhân cách
của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê không hề có chút trầy xuớc nào.
Khi biết được tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục, Huấn Cao
không những vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt lên: ''Ta cảm tấm lòng biệt
nhỡn liên tài của các ngươi. Ta đâu biết một người như thầy quản đây mà lại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong
thiên hạ''. Quang cảnh cho chữ thât lạ, đúng là cảnh tuợng xưa nay chưa từng
có, trong một buồng tối chật hẹp, ẩm uớt tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất
bừa bãi phân chuột phân gián. Người cho chữ - kẻ tử tù cổ đeo gông, chân
vướng xiềng lại là người có quyền uy nhất trong nhà ngục này đang tô đậm
từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Trong
khi đó, viên quản ngục lại khúm núm, cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô
chữ đặt trên tấm lụa óng. Thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực.
''Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn lừa lọc, thì tính cách
dịu dàng, biết trọng người ngay của viên coi ngục này là một thanh âm trong
trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn độn xô bồ''. Đây là nét
chữ cuối cùng của người nho sĩ tài hoa, những nét chữ kia chứa chan tấm lòng
của Huấn Cao và thấm đầy nước mắt thương cảm của bạn đọc. Vẻ đẹp nhân
cách của Huấn Cao là vẻ đẹp thống nhất giữa cái tài và cái tâm. Trong cái tài
đã ánh lên cái tâm. Có tài, có tâm đã đẹp lắm rồi mà cái tài, cái tâm lại đi liền
với nhau đã tạo nên một Huấn Cao mang đầy đủ phẩm chất của con người cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status