Chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng 8 – 1945 Luận văn ThS. Văn học - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN TUYẾT NHUNG
CHỦ NGHĨA XÊ DỊCH
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội – 2014

Hà Nội – 2014

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những luận điểm đƣợc trình bày trong Luận văn này là kết
quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi. Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trƣớc những luận điểm khoa học mà tôi nêu ra trong Luận văn này.

Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Tuyết Nhung 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Văn Đức, ngƣời
thày đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tri ân tới các thày cô giáo trong khoa Văn học,
trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã
giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn sự động viên, quan tâm giúp đỡ của những ngƣời thân
trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn Chủ nghĩa xê dịch
trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong muốn nhận đƣợc sự góp ý chân
thành của thày cô và các bạn. Tôi hi vọng những nghiên cứu đặt ra trong luận
văn sẽ trở thành nguồn tƣ liệu có giá trị đối với việc dạy học tác phẩm văn

CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 35
2.1. Cảm hứng về cảnh sắc thiên nhiên 35
2.1.1. Cảnh sắc đất nước quê hương 35
2.1.2. Cảnh sắc những miền đất lạ 43
2.2. Cảm hứng về con ngƣời 48
2.2.1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân về con người 48
2.2.2. Các kiểu người giang hồ xê dịch 49

6
CHƢƠNG 3. CHỦ NGHĨA XÊ DỊCH NHÌN TỪ NHỮNG PHƢƠNG
THỨC NGHỆ THUẬT 82
3.1. Xây dựng thành công những biểu tƣợng độc đáo về xê dịch 82
3.1.1. Biểu tượng thiên nhiên 83
3.1.2. Biểu tượng hành động, ngôn ngữ 89
3.1.3. Biểu tượng sự vật, đồ vật 90
3.2. Sử dụng thể loại tùy bút 95
3.2.1. Nguyễn Tuân gắn bó với thể loại tùy bút 95
3.2.2. Tùy bút thể hiện thành công đề tài xê dịch 97
3.2.3. Tùy bút xê dịch chứa đựng thông tin phong phú, đậm yếu tố tự sự
và giàu chất thơ 101
3.3. Lối hành văn tài hoa, uyên bác 106
3.4. Vẻ đẹp ngôn ngữ, nghệ thuật từ pháp 113
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

7
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Nguyễn Tuân (1910 - 1987), là một tác gia lớn của văn học hiện đại
Việt Nam, “là một trong mấy nhà nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn

quên trong truỵ lạc. Sau Cách mạng, nhà văn lại hăm hở hoà mình vào cuộc
sống muôn màu muôn sắc của nhân dân. Ngƣời đọc luôn bắt gặp một Nguyễn
Tuân đầy cá tính với những trang văn độc đáo, tinh thần lao động nghệ thuật
công phu, nghiêm túc trên hành trình đi khám phá tìm hiểu cái đẹp. Văn
Nguyễn Tuân còn là một lối văn kén độc giả, chỉ người ưa suy xét đọc
Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để
người nông nổi thưởng thức (Vũ Ngọc Phan).
Là một nhà văn tài hoa, ngƣời đọc mến Nguyễn Tuân về tài nhƣng còn
trọng về nhân cách. Mặc dù những sáng tác của ông coi trọng tính thẩm mĩ
cao nhƣng Nguyễn Tuân không phải là ngƣời theo chủ nghĩa hình thức. Các
tác phẩm của ông bộc lộ quan niệm Tài phải đi với Tâm. Đó là Thiên lƣơng
trong sạch, là lòng yêu thiên nhiên yêu nƣớc thiết tha, là nhân cách cứng cỏi
trƣớc uy quyền phi nghĩa và đồng tiền phàm tục.
Xê dịch là một đề tài quen thuộc, chiếm một mảng quan trọng của sáng
tác Nguyễn Tuân. Đề tài này phù hợp với tâm hồn lãng mạn, tự do, phóng
túng, ghét sự gò bó của nhà văn. Đọc những sáng tác này ngƣời đọc vô cùng
thích thú, nhƣ đƣợc nhập cuộc trong những cuộc du hí hấp dẫn qua những
miền đất lạ, khám phá cảm giác mới mẻ, lạ lẫm trƣớc phong cảnh, phong tục,
con ngƣời; thấy rõ hơn những tâm tƣ sâu kín của tác giả và thêm yêu mến
thiên nhiên, con ngƣời của đất nƣớc quê hƣơng.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về Nguyễn Tuân
nhƣng chúng tôi nhận thấy chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề
Chủ nghĩa xê dịch trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng
tháng Tám 1945. Là một giáo viên phổ thông, chƣơng trình dạy ở Nhà trƣờng

9
có hai tác phẩm tiêu biểu cho hai chặng đƣờng sáng tác của nhà văn, đó là
truyện ngắn Chữ người tử tù (trích trong Vang bóng một thời) và tùy bút
Người lái đò Sông Đà (trích tùy bút Sông Đà). Nhƣng để hiểu thấu đáo cái
hay cái đẹp của từng trang viết, từng đặc trƣng thể loại văn Nguyễn Tuân đến

của nhà văn Thạch Lam, Tác phẩm Chùa Đàn của Giáo sƣ Hoàng Nhƣ Mai,
Cái thật và cái tài hoa trong Chữ người tử tù của Nguyễn Ngọc Hóa, Đọc
Sông Đà của Nguyễn Tuân của Trƣơng Chính, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của
Hoài Anh
Những bài viết ghi lại những hồi ức kỷ niệm về Nguyễn Tuân. Ở nhóm
này có thể kể đến những bài viết của vợ nhà văn, của bạn bè viết về ngƣời
chồng, ngƣời chú, ngƣời bạn và ngƣời thầy của mình. Đây là những bài viết
bộc lộ những cảm xúc rất thật, rất chân thành về nhân cách và tài năng của
Nguyễn Tuân. Hồi ức của họ là một trong những tƣ liệu quý giá nhất về nhà
văn.
Những bài nghiên cứu về tùy bút Nguyễn Tuân: bài viết của Giáo sƣ
Phong Lê Nguyễn Tuân trong tùy bút; Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh có bài Thể
tài tùy bút của Nguyễn Tuân (Trích trong lời giới thiệu cuốn Tuyển tập
Nguyễn Tuân, tập một, NXB Văn học 1981). Đó làm rõ mối quan hệ giữa thể
văn tùy bút với sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật và dấu ấn độc đáo cũng nhƣ sở
trƣờng của nhà văn Nguyễn Tuân. Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định “cá
tính và phong cách của Nguyễn Tuân tự tìm đến thể tài tùy bút nhƣ là một tất
yếu”. Trong văn học, có lẽ đây là thể tài chủ quan nhất và tự do nhất”.
PGS.TS Hà Văn Đức có bài Tùy bút của Nguyễn Tuân sau Cách mạng Tháng
Tám (Một số đặc điểm thể loại) in trong tập Năm mươi năm văn học Việt Nam
sau Cách mạng Tháng Tám (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1996) đã đƣa ra
nhiều đánh giá và nhận định sâu sắc về những đặc điểm của tùy bút Nguyễn
Tuân xét về mặt thể loại

11
2.2. Những bài báo, công trình nghiên cứu về đề tài chủ nghĩa xê
dịch của Nguyễn Tuân
Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết giới thiệu về Tuyển tập
Nguyễn Tuân (1981) đã khẳng định: trƣớc Cách mạng Nguyễn Tuân không
thuộc số những cây bút hoàn toàn thoát li xã hội, mất hẳn gốc rễ với cuộc

có thể đưa ông đến một cái tự tử, tự tử dần trong cuộc sống: tức là sự trác
táng và sự xê dịch. Xê dịch không mục đích, xê dịch mà để xê dịch. Trác táng
là thoát li trong thời gian và xê dịch là thoát li trong không gian. Thế rồi,
rượu, thuốc phiện, ả đào, và đi, đi để thay đổi hoàn cảnh, để có dịp trụy lạc
thêm. Những khi không có dịp trụy lạc và xê dịch thì hiu quạnh, thẫn thờ như
người không hồn, buồn da diết, buồn có thể tự tiêu diệt mình được. Ông kéo
dài cuộc sống bê tha đó, tưởng không có ngày nào chấm dứt. Đó không phải
là hình ảnh riêng của Nguyễn Tuân mà còn là hình ảnh của một số thanh niên
trí thức tiểu tư sản thành thị sống bế tắc trong chế độ cũ (Vài nét về con
người và tác phẩm của Nguyễn Tuân, Tuyển tập Trƣơng Chính, tập 2, NXB
Văn học, Hà Nội ,1997).
Giáo sƣ Phan Cự Đệ cũng có nhiều bài nghiên cứu với cái nhìn mới mẻ
và xác đáng. Bài viết trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975, tập 2, Phan
Cự Đệ đã có cái nhìn tổng quát về quá trình “lột xác” đầy đau khổ và sự thay
đổi quan điểm thẩm mỹ của nhà văn. Ông cũng có những đánh giá mới mẻ
nghiêng về khía cạnh nghệ thuật: Trước Cách mạng, các nhân vật trong tùy
bút lãng mạn của Nguyễn Tuân chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của tính
cách nhà văn mà thôi. Tác giả đã hóa thân ra thành Nguyễn, Vi, Bạch,
Hoàng, Thông Phu để tìm cách nói lên những cạnh khía khác nhau của cái
Tôi kênh kiệu, lập dị, của cái Tôi nổi loạn đập phá, của cái Tôi giang hồ lãng
tử [16;110]
Nhìn chung, những bài nghiên cứu về Nguyễn Tuân đã cung cấp cho
chúng tôi nhiều thông tin về nhà văn này. Các bài viết đều đã tiếp cận và đánh

13
giá về nhân cách cũng nhƣ những đóng góp to lớn của Nguyễn Tuân đối với
nền văn học Việt Nam, một cái tôi vận động trƣởng thành qua hai giai đoạn
trƣớc và sau 1945, gắn với những bƣớc ngoặt to lớn của lịch sử dân tộc.
Đặc biệt, các bài viết về đề tài xê dịch đều khẳng định: Nguyễn Tuân là
ngƣời ham đi, luôn thích xê dịch, đam mê cuộc sống phiêu lãng giang hồ;

đặc điểm thiên nhiên, cảnh vật, con ngƣời đƣợc miêu tả trong những sáng tác
xê dịch; những đặc sắc nghệ thuật và đánh giá về thế giới quan, hình tƣợng
cái Tôi Nguyễn Tuân trƣớc 1945. Từ đó, chúng tôi muốn một lần nữa tái
khẳng định tài năng và phong cách độc đáo của ông.
Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc, có hệ thống đề tài xê dịch của Nguyễn
Tuân trƣớc Cách mạng tháng Tám. Từ đó, thấy đƣợc vị trí của đề tài xê dịch
trong sự nghiệp sáng tác của ông, đặc biệt thấy đƣợc hình tƣợng cái tôi lãng
tử cũng nhƣ tài năng của một ngƣời nghệ sĩ suốt đời cống hiến cho nghệ
thuật.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những công trình đi trƣớc kết
hợp với những tìm hiểu, nghiên cứu riêng trong phạm vi một đề tài nghiên
cứu, luận văn của chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu sau: Phƣơng
pháp lịch sử; phƣơng pháp hệ thống; phƣơng pháp loại hình; phƣơng pháp
phân tích, tổng hợp; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp tiếp cận
thi pháp học.
5. Những đóng góp của Luận văn
5.1. Luận văn vừa kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu
đi trƣớc, vừa tìm tòi lựa chọn khám phá để từ đó làm hiện rõ những đặc điểm
của chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng.
5.2. Kết quả của Luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hƣớng tiếp cận, đọc hiểu
những tác phẩm của Nguyễn Tuân ở đề tài xê dịch nói riêng và các tác phẩm

15
văn xuôi cùng đề tài xê dịch của một số nhà văn khác nói chung trên phƣơng
diện lí thuyết loại hình và đặc trƣng thi pháp. Giải quyết những vấn đề đặt ra,
luận văn không chỉ đem lại cho độc giả không chỉ yêu mến nhà văn Nguyễn
Tuân mà còn có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về tác giả. Đồng thời luận văn
có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh khi nghiên cứu về tác
phẩm, tác giả Nguyễn Tuân.

phong cách nghệ thuật của ông. Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc,
Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khổ sở, có lúc bế tắc,
tuyệt vọng.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (1929) thì bị đuổi vì tham
gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu ngƣời Việt. Học
bạ ghi trong 5 năm không công sở nào đƣợc nhận vào làm việc. Lúc này cha
mẹ, vợ và các em đều ở thị xã Thanh Hóa, nơi cụ thân sinh làm việc. Sau đó ít
lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới Đông Dƣơng sang đất Thái Lan
không có giấy phép. Theo hồi kí Cát bụi chân ai của Tô Hoài kể lại trong
chuyến tàu hoả từ Nôm Pênh ra đến Poipet có hai ngƣời trẻ tuổi, mặt non
choẹt, vƣợt biên giới sang Xiêm, đó là Nguyễn Tuân và Lƣơng Đức Thiệp. Cả
hai từng tham gia bãi khóa phản đối rồi bị đuổi học. Không biết ai đã nghĩ ra
cuộc đi mạo hiểm này, có thể bởi những uất ức khi bị đuổi học, cuộc sống tù

17
túng, cùng quẫn hay cách nghĩ bồng bột tƣởng bƣớc chân đến những nơi xa
xôi là lên hƣơng đổi đời. Để làm lộ phí, Nguyễn Tuân đã phải lấy đi hoa tai,
khuyên vàng của vợ. Đến Thái Lan, hai ngƣời bị cảnh sát bắt vì vƣợt biên trái
phép; bị giam chung với những tội phạm ngƣời Xiêm rồi bị giải về Nôm
Pênh. Đến Nôm Pênh, bị tống ngay xuống Sài Gòn, giam ở bóp cảnh sát.
Hôm sau giải ra Hải Phòng, Hà Nội, rồi về giam tại Thanh Hóa khoảng một
năm. Ở tù ra, ông định vào Nam Kỳ nhƣng đi đến Vinh thì bị bắt trở lại. Kể từ
đây, ông lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc. Ông lao vào con
đƣờng ăn chơi trụy lạc, thành kẻ "bất đắc chí", nhƣ một ngƣời hư hỏng hoàn toàn.
Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ, tiếp
xúc với những ngƣời hoạt động chính trị. Gia đình dựng nhà cho ông tại quê,
tức làng Mọc, Ngã Tƣ Sở, Hà Nội. Ngôi nhà hai tầng, Nguyễn Tuân gọi là
“Am Sông Tô”. Theo Tô Hoài trong Cát bụi chân ai, ông còn có một chỗ ở
khác là một gian gác xép tại phố Hàng Đẫy (tức phố Nguyễn Thái Học ngày
nay): Khi thôi bị quản thúc, Nguyễn Tuân ra Hà Nội, viết để sinh nhai và cho

Viết văn trƣớc hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình. Ham du lịch,
Nguyễn Tuân đã nâng niềm ham thích này thành lý thuyết - “chủ nghĩa xê
dịch”. Học theo chủ nghĩa xê dịch, nhà văn thể hiện khát khao thích phiêu
lƣu, thèm khát những cảm giác mới lạ, những nẻo đƣờng, những miền đất
mới, đƣợc gặp gỡ muôn mặt ngƣời trên con đƣờng giang hồ mê mải. Với ông,
xê dịch là một nguồn sống bồng bột để giải thoát những bế tắc chán chƣờng
trong cuộc đời. Hơn nữa, là nhà văn của những tính cách độc đáo, của những
cảm giác mãnh liệt, Nguyễn Tuân không thích cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt,
khuôn phép, yên ổn, cầu toàn; ông thích khám phá những phong cảnh tuyệt
mĩ của gió bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội
Nguyễn Tuân còn là ngƣời rất mực rất mực tài hoa uyên bác, am tƣờng
Hán học, Tây học. Rất mực đề cao và gìn giữ nhân cách nghệ sĩ nên ông trân
trọng những thú chơi tao nhã của những trí thức Nho gia tài hoa sinh bất

19
phùng thời, căm ghét thói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa. Ông am hiểu
nhiều ngành văn hóa, nhiều môn nghệ thuật khác nhau nhƣ hội họa, điêu
khắc, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, địa lí để tăng cƣờng khả năng diễn tả của
nghệ thuật ngôn từ. Sự tài hoa uyên bác khiến cho các trang tùy bút Nguyễn
Tuân lấp lánh chất trí tuệ; mang đến cho ngƣời đọc những khoái cảm thẩm
mỹ và vốn tri thức văn hóa, khoa học ở nhiều các lĩnh vực khác nhau.
Nguyễn Tuân là nghệ sĩ chân chính có tinh thần lao động nghệ thuật
nghiêm túc, quý trọng nghề nghiệp và ý thức cá nhân phát triển cao. Ông
quan niệm nghề văn đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn (truyện Nhà
Nguyễn,1945); ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp
(truyện Hai tấm vé số, 1944) và nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm
túc, thậm chí khổ hạnh (Tùy bút Những đứa con hoang, 1943). Đối với ông
văn chƣơng trƣớc hết phải là văn chƣơng, nghệ thuật trƣớc hết phải là nghệ
thuật và làm nghệ thuật phải có phong cách độc đáo. Ông đƣợc đánh giá là
định nghĩa hoàn hảo nhất về ngƣời nghệ sĩ. Nhƣng về bản chất ông không

Tuân là những cái tôi xê dịch: những con ngƣời buồn chán sống vô vị; mang
tâm trạng dằn vặt. Không gian thiên nhiên chỉ là những cái mơ hồ vụn vặt gắn
với nỗi ám ảnh thời gian và gợi sự bức bối, ngột ngạt. Ngƣợc lại sau Cách
mạng, thực tế phong phú tƣơi rói, sống động trang văn của ông: vùng đất Tây
Bắc, vùng giới tuyến Vĩnh Linh. Cảnh vật mang tầm vóc lớn lao kỳ vĩ và là
bè bạn với con ngƣời, tham gia vào công cuộc cải tạo của con ngƣời. Không
còn bắt gặp những cá nhân luôn đấu tranh nội tâm mà đại diện cho những
phẩm chất đẹp, tƣ thế khoẻ, tinh thần hứng khởi của ngƣời công dân một
nƣớc độc lập. Ông có dịp đi nhiều, mở lòng đón nhận thanh sắc của cuộc sống
mới đang từng giây từng phút sinh sôi. Nếu trƣớc kia chỉ có thể bộc lộ tâm sự
yêu nƣớc thƣơng dân một cách kín đáo, thì giờ đây con ngƣời tài hoa uyên

21
bác ấy nhƣ đƣợc tháo cũi sổ lồng, phát huy hết mọi sở trƣờng, cất cao lời ngợi
ca đất nƣớc con ngƣời Việt Nam trong thời đại mới.
1.2. Hành trình sáng tác và những tác phẩm chính về đề tài xê dịch
1.2.1. Hành trình sáng tác của một cuộc đời phong phú
Nguyễn Tuân không thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông
đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng
trƣớc khi dừng lại và tỏa sáng với tùy bút. Chủ nghĩa xê dịch, đề tài quá khứ,
truỵ lạc là ba mảng đề tài trung tâm của ông trƣớc 1945. Bộ ba đề tài này nhƣ
ba nhánh của một dòng sông cùng quy tụ lại một điểm để tạo nên một Nguyễn
Tuân vô cùng mới mẻ, độc đáo và đem lại sức sống mới cho dòng văn học
lãng mạn 1930 -1945 đang thoái trào, có nguy cơ đi vào ngõ cụt.
Do chịu ảnh hƣởng sâu sắc từ Hán học, sáng tác của ông trƣớc năm
1937 (Giang hồ hành, Vườn xuân lan tạ chủ) đƣợc viết theo bút pháp cổ điển
và chƣa gây đƣợc tiếng vang. Ðến 1937, Nguyễn Tuân lại xuất hiện trên các
báo với những truyện ngắn hiện thực trào phúng, với những tràng cƣời châm
biếm thoải mái, đậm đà phong vị dân gian (Ðánh mất ví, Một vụ bắt rượu,
Mười năm trời mới gặp lại cố nhân). Tuy nhiên, do trào lƣu hiện thực phê

cua (1941), Tùy bút I (1941) tuy mải mê với những lạc thú trần tục, cái "tôi"
vẫn còn đầy tự trọng và giữ đƣợc ý thức về bản thân thì từ 1942, đời sống tinh
thần của Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng ngày càng khủng hoảng sâu sắc.
Những trang viết thƣa dần. Bên cạnh những đề tài cũ viết về vẻ đẹp xƣa, đề
tài xê dịch, đời sống trụy lạc nhƣ Tùy bút II (1943), Tóc chị Hoài (1943),
Nguyễn (1945), xuất hiện thêm các đề tài mới hƣớng về thế giới của yêu tinh,
ma quỷ. Ngay tiêu đề các tác phẩm Xác ngọc lam, Ðới roi, Rượu bệnh, Loạn
âm cũng đủ nói lên tình trạng bế tắc của ngòi bút Nguyễn Tuân thời kỳ này.
Những năm đầu sau Cách mạng, ngoài một vài tùy bút ngắn ghi lại
tâm trạng vừa hoang mang vừa đầy ắp hy vọng của một trí thức tự "lột xác"

23
để dấn thân vào cuộc đời mới (Vô đề, Ngày đầy tuổi tôi Cách Mệnh), Nguyễn
Tuân còn có Chùa Ðàn - về một nhân vật mắc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa,
ích kỷ tàn nhẫn; nhƣng từ sau 1945, nhƣ đƣợc uống liều thuốc tiên, tự cải tạo
vƣơn lên thành con ngƣời mới, chan hòa với xung quanh. Mới đọc qua, dễ có
ấn tƣợng về một quá trình đổi thay có vẻ giản đơn, công thức. Nhƣng nếu
xem xét tác phẩm trong cả quá trình sáng tác thì Chùa Ðàn là một cố gắng
đáng trân trọng.
Tiếp theo, hai tập tùy bút Ðường vui (1949), Tình chiến dịch (1950)
ghi nhận chuyển biến thật sự sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Tuân. Ðáp lời kêu
gọi của Ðảng, ông hăng hái xốc ba lô lên vai dấn thân khắp các nẻo đƣờng
chiến dịch. Cái "tôi" giờ đây không còn phá phách, ngông nghênh nữa mà
rƣng rƣng hòa nhập, sẻ chia với đồng bào đồng chí. Giọng điệu sôi nổi tin
yêu, tràn ngập tình cảm chân thành đối với quê hƣơng đất nƣớc. Nguyễn Tuân
tiếp tục bôn ba trên hành trình đi tìm cái Ðẹp, cái Thật. Có điều khác là những
giá trị ấy giờ đây không phải mất công tìm kiếm ở cõi quá vãng hoặc vô hình
nào mà hiện hữu ngay trong cuộc đời thực sinh sôi cuồn cuộn trƣớc mắt.
Hàng loạt tùy bút đặc sắc ra đời trong mạch cảm hứng ấy: Phở, Cây Hà Nội,
Con rùa thủ đô, Tìm hiểu Sê Khốp,

quê hương (1943), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943). Sau Cách mạng,
Nguyễn Tuân hòa vào cuộc sống và kháng chiến với những công tác bận rộn
của một nghệ sĩ giàu tinh thần dân tộc nhƣng dòng máu đam mê những
chuyến đi, những mảnh đất lạ vẫn tuôn chảy trong những tác phẩm nhƣ
Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến và hòa bình
I,II (1955), Bút kí đi thăm Trung Hoa (1955), Tùy bút Sông Đà (1960), Cảnh
sắc và hương vị đất nước (1988) Có thể khẳng định Nguyễn Tuân là nhà
văn Việt Nam đam mê và viết nhiều nhất về những chuyến đi.

25
1.3. Đề tài chủ nghĩa xê dịch trƣớc Cách mạng tháng 8 - 1945
1.3.1. Giới thuyết
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng năm
2008, “xê dịch” là chuyển vị trí đi một quãng ngắn; là thay đổi, biến đổi trong
một khoảng nhất định [23;1414]. Chủ nghĩa xê dịch vốn là một lí thuyết vay
mƣợn của phƣơng Tây cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đề cao lối sống cá nhân
tự do phóng túng đi rộng biết nhiều để thỏa mãn sở thích cá nhân và trải
nghiệm cảm giác thực tế. Chủ nghĩa xê dịch theo đó đƣợc hiểu nhƣ là sự
chuyển đổi vị trí về địa lý, chuyển đổi cảm giác về hình ảnh. Nhiều nhà văn
trên thế giới thích viết về du lịch.
Cảm hứng “không gian” có thể xem nhƣ là một chủ đề quan trọng của
các nhà văn viết du ký. Ngƣời viết xê dịch thƣờng thích đi đó đây để thay đổi
nhãn quan tâm hồn. Rõ ràng chỉ khi đi qua những vùng đất, liên tục xê dịch,
họ mới thể hiện đƣợc những giá trị của bản thân. Đi nhiều, vừa thể hiện đƣợc
cá tính, thỏa mãn “thị dục” và nỗi khát khao mơ ƣớc, đồng thời làm giàu có,
phong phú thêm vốn sống tri thức, hiểu biết của mình về con ngƣời và những
mảnh đất đã qua. Nhƣ một nhu cầu chia sẻ, những trang viết du kí luôn thôi
thúc tâm hồn những ngƣời muốn khám phá thế giới.
1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến lối sống và đề tài xê dịch
Chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân chịu ảnh hƣởng lớn từ của văn học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status