Chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của nguyễn tuân trước cách mạng tháng tám năm 1945 - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM THỊ TÌNH

CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƢỞNG LẠC TRONG
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM THỊ TÌNH

CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƢỞNG LẠC TRONG
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức

Hà Nội - 2016

1.2. Sự nghiệp ................................................................................................. 19
1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám: .............................................................. 19
1.2.2. Sau Cách mạng tháng Tám ................................................................... 22
1.3. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời của Nguyễn Tuân ..................... 24
1.3.1. Giới thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người .................... 24
1.3.2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân ........................ 27
Chƣơng 2. CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƢỞNG TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NHÌN TỪ
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG....................................................................... 36
2.1. Một cái tôi cô đơn, bế tắc, bất lực trƣớc cuộc đời ............................... 36
2.2. Một cái tôi nổi loạn, phá phách đi tìm con đƣờng giải thoát trong
cuộc sống hƣởng lạc. ..................................................................................... 46
2.3. Một cái tôi luôn khao khát thế giới tinh khiết, thanh cao. ................. 63


Chƣơng 3. CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƢỞNG LẠC TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNH THÁNG TÁM NHÌN
TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT. ........................................................ 73
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật. ............................................................. 73
3.1.1. Khắc họa ngoại hình nhân vật. ............................................................. 73
3.1.2. Khắc họa nội tâm nhân vật .............................................................. 77
3.1.3. Khắc họa hành động nhân vật......................................................... 80
3.2. Giọng điệu ............................................................................................ 83
3.2.1. Giọng điệu khinh bạc ........................................................................ 83
3.2.2. Giọng điệu buồn thảm ........................................................................... 90
3.3. Sử dụng hình ảnh biểu tƣợng sự vật.....................................................93
3.4. Ngôn ngữ ................................................................................................. 97
KẾT LUẬN .................................................................................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 109




ai và không cho ai bắt chước được mình, chết là mang cả cái bản chính đi
chứ không để lại một bản sao nguyên cảo nào” [56, tr. 49].
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn đồng thời cũng là “một hiện tượng
văn học phức tạp, nhất là trước cách mạng tháng Tám” [26, tr. 25]. Và để
hiểu các tác phẩm của ông không phải là một điều đơn giản mà theo như Vũ
Ngọc Phan thì “chỉ những người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị,
vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức” [34,
tr. 52]. Có thể do chính những điều này mà tác phẩm của Nguyễn Tuân có sức
hút lớn lao đối với độc giả. Việc đọc và tìm hiểu tác phẩm của ông sẽ mang
tới cho người đọc một kho tri thức phong phú trên nhiều phương diện của đời
sống từ đó mà tâm hồn được mở rộng hơn, sâu sắc hơn.
Chủ đề cuộc sống hưởng lạc là một trong những chủ đề quan trọng
trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám. Với chủ đề
này, nhà văn đã chọn cho mình một lối đi riêng khác biệt. Đọc những sáng tác
thuộc chủ đề này, người đọc thêm yêu mến một Nguyễn Tuân luôn chân
thành, luôn muốn sám hối, luôn muốn được làm lại cuộc đời trong những
ngày tháng sa ngã. Bởi trong con người đó là cái Tâm luôn day dứt, là Thiên
lương trong sạch chống trả lại xã hội trưởng giả và những con người phàm tục
ngoài đời kia.
Mặc dù đã có khá nhiều bài viết và những nhận định khái quát về chủ
đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng
tháng Tám 1945. Tuy nhiên đó chỉ là những bài viết đơn lẻ, chưa thành hệ
thống và chưa thực sự chuyên sâu nghiên cứu về đề tài. Riêng đối với bản
thân từ khi còn học trong trường phổ thông, tôi đã rất yêu thích các tác phẩm
của Nguyễn Tuân. Tôi xin phép góp chút năng lực nhỏ bé của mình vào việc
đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 để làm rõ hơn phong cách
một cây đại thụ của văn học hiện đại Việt Nam.

diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật,
3


lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho
người ta thấy một trạng thái của tâm hồn” [47, tr. 415]. Ở mỗi đề tài lớn
trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, Vũ Ngọc Phan
đã đưa ra những nhận xét sắc sảo, toàn diện. Với Vang bóng một thời, Vũ
Ngọc Phan cho rằng đây là “một văn phẩm gần tới sự toàn thiện toàn mỹ”
[47, tr. 415]. Đọc Vang bóng một thời người ta có cảm tưởng gần giống
những cảm tưởng khi ngắm “một bức họa cổ” [47, tr. 416] vô cùng quý giá
và “cái quý giá ấy sẽ còn tăng lên nữa với thời gian như một thứ đồ cổ” [47,
tr. 416]. Với các tác phẩm Chiếc lư đồng mắt cua, Tàn đèn dầu lạc và Ngọn
đèn dầu lạc tiêu biểu cho đề tài về cuộc sống hưởng lạc, Vũ Ngọc Phan nhận
xét đó là “những quyển mà thói khinh bạc của ông bộc lộ rõ ràng, gần như
những “lời thú tội” [47, tr. 434]. Chiếc lư đồng mắt cua là “một tập tùy bút
hay một tập về hồi ức về một quãng đời của tác giả, đều được cả” [47, tr.
435]. Vũ Ngọc Phan tin tưởng rằng:“Một ngày không xa, khi mà văn chương
Việt Nam được người Việt Nam ham chuộng hơn bây giờ, tôi dám chắc những
văn phẩm của Nguyễn Tuân sẽ có một địa vị xứng đáng hơn nữa” [47, tr.
439]. Niềm tin tưởng đó quả là không sai, ngày nay người ta vẫn tìm đọc và
đọc rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Tuân – “một nhà văn đặc Việt Nam” [47,
tr. 439].
Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1975:
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân hăng hái nhập cuộc
và tham gia kháng chiến, rất nhiều tác phẩm được ra đời từ đây như: Chùa
đàn, Đường vui, Tình chiến dịch, … Giai đoạn này cũng có hàng loạt những
bài viết về Nguyễn Tuân khen có chê có, bài viết đánh giá về tác phẩm có, bài
viết nhận xét về con người cũng có. Qua hồi ức của Nguyễn Vỹ, Nguyễn
Tuân hiện lên hóm hỉnh dễ mến với bài viết “Nguyễn Tuân gàn hay chú mày

khác là lý tưởng “phóng túng hình hài”. Xã hội mục nát, không phải là một
cái cớ để mình chìm đắm vào một thứ cá nhân chủ nghĩa ích kỷ và một thứ
hành lạc chủ nghĩa quá quắt làm cho xã hội càng mục nát thêm. Nhưng, đọc
5


Nguyễn Tuân, ta cũng đồng thời không thể không nhận thấy rằng chính hoàn
cảnh xã hội đó đã biến một người vốn yêu đời như Nguyễn Tuân thành một kẻ
muốn tự hủy hoại mình như thế” [34, tr. 54-55].
Đầu năm 1957, Nguyễn Tuân viết bài tuỳ bút Phở đăng trên tuần báo
Văn. Bài viết đã gây ra nhiều phản ứng khác nhau trong giới văn nghệ sĩ. Thế
Toàn trong bài Tuần báo văn và con người thời đại in trong tạp chí Học tập
số 7 (7/1957), với cái nhìn hẹp hòi, ông cho rằng: “Nhìn lại một số lớn thơ
văn trên tuần báo Văn, chúng ta không khỏi ngạc nhiên, vì con người được
miêu tả trong đó rất xa lạ với chúng ta. Con người trong thời đại chúng ta
không phải là con người xa lánh cuộc sống, ngồi một góc phố nào đó để phân
tích một món ăn (Phở của Nguyễn Tuân) phát hiện ra vấn đề quá “quan
trọng” như xương với xẩu, như mũ phở…” [36, tr. 27-28]. Bác bỏ lại quan
điểm của Thế Toàn là ý kiến của nhiều nhà văn như: Nguyên Hồng, Nguyễn
Văn Bổng, Tế Hanh. Nguyên Hồng đã chỉ ra được những nét phong cách của
Nguyễn Tuân trong Phở: “Một ngòi bút cách đây 15 năm với Chiếc lư đồng
mắt cua, Nguyễn đã làm người đọc rợn hết cả tâm trí lên vì những ê chề, rã
rượi, quằn quại dẫy đạp của một tâm trạng bế tắc trong lòng một chế độ ngột
ngạt … giờ tha thiết tin yêu, hết lời ca ngợi hương vị của Tổ quốc: Phở cũng
là những sự việc, cũng là những suy nghĩ, cũng là kiểu nói của Nguyễn nhưng
cả một sự say sưa và niềm tin lấp loáng trên trang giấy “Hương vị phở…
lành mạnh hơn” vì “tôi thấy Tổ quốc tôi còn có phở nữa…” [36, tr. 28].
Cũng trong năm 1957, nhân Vang bóng một thời được tái bản, Phan Cự
Đệ đã viết liền hai bài đề cập đến tác phẩm này. Trong bài thứ nhất có tên
Đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân ký tên Thanh Hiền đăng trên báo

trên Tạp chí văn học số 8 – 1968 đã khẳng định: “Nhân tố tư tưởng cốt yếu
làm nên phần giá trị chân chính của tác phẩm Nguyễn Tuân từ sau Cách
mạng đến nay là tình yêu đất nước, tinh thần dân tộc”, và những yếu tố tinh
thần ấy tuy đã biến đổi qua thời gian nhưng “vẫn giữ lại ít nhiều màu sắc
riêng của nó, có mầm mống từ trước Cách mạng”. Vì dù sao đi chăng nữa,
7


các sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng có thoát ly vào con đường
nào thì ở mỗi con đường đó vẫn còn ánh sáng của một trái tim luôn hướng về
quê hương đất nước.
Từ 1975 đến nay:
Số lượng những bài viết nghiên cứu về Nguyễn Tuân thật phong phú đa
dạng không chỉ có những bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước
mà còn có cả những bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu nước ngoài có
thể kể đến như: Vương Trí Nhàn với “Nguyễn Tuân, huyền thoại một thời”
(1994), “Nhà văn Nguyễn Tuân”, Hà Văn Đức với “Nguyễn Tuân – một bậc
thầy về ngôn ngữ” (1991), “Nguyễn Tuân về cái đẹp” (1994), “Nguyễn Tuân
và quá trình nhận đường trong văn học của ông”. Marian Tôcasốp với “Mấy
lời bàn về Nguyễn Tuân” đăng trên báo Văn nghệ số 36 ngày 5-9-1987… Đến
năm 1981 bài viết tiêu biểu nhất phải kể tới là Lời giới thiệu cho Tuyển tập
Nguyễn Tuân do Nguyễn Đăng Mạnh giới thiệu và biên soạn. Lời giới thiệu
là những đánh giá sâu sắc và toàn diện cho tổng thể toàn bộ cả hai giai đoạn
sáng tác trước và sau Cách mạng của Nguyễn Tuân được rút ra từ quá trình
dày công nghiên cứu và nhiều tâm huyết của Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nhận
định: “Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học phức tạp, nhất là trước Cách
mạng”. Đối với chủ đề về cuộc sống hưởng lạc trong các nhà hát với thuốc
phiện, trà, rượu trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám,
ông đã có những phân tích sắc sảo, khách quan và khoa học. Ông nói rằng
viết về đề tài trụy lạc Nguyễn Tuân đã đi một đường hoàn toàn khác với các

hành vi tâm địa thấp hèn như nói xấu nhau, dối trá lừa lọc nhau, ích kỷ đến
độ trắng trợn của những kẻ nghiện hút. Nguyễn Tuân miêu tả những cảnh
huống và tâm trạng ấy một cách sinh động, với giọng văn tài hoa và khinh
bạc vốn có của mình” [8, tr. 606].
Thêm những nhận định về chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác
của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, Hoài Anh trong bài Nguyễn
Tuân nhà nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp đến thăng hoa đã viết: “Ông không
9


phải là người ăn chơi trác táng trụy lạc như nhiều nghệ sĩ khác đương thời
mà là một người nghệ sĩ đi tìm cái Đẹp trong mọi biểu hiện của cuộc sống”.
Tiếp tục kế thừa từ những bài viết công trình nghiên cứu trên, năm 2003, tác
giả Nguyễn Thị Thanh Minh đã viết luận án tiến sĩ của mình với nhan đề
Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong sáng tạo nghệ thuật và cũng
trong năm 2003 tác giả đã cho in luận án thành một cuốn sách cùng tên. Tác
giả đã đi sâu và làm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân đó là
luôn nhìn nhận sự vật và con người dưới góc độ nghệ thuật, góc độ thẩm mỹ.
Khi nói về chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong ba tác phẩm tiêu biểu: Chiếc lư
đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc, tác giả cũng nghiên cứu
tìm hiểu trên quan niệm về cái đẹp và cho rằng xuất phát từ chính khát khao
cảm giác mãnh liệt đã đưa Nguyễn Tuân đến với chủ đề này.
Song song bên cạnh đó, với số lượng tác phẩm đồ sộ trên cả hai chặng
đường sáng tác, tác phẩm của Nguyễn Tuân trở thành đề tài nghiên cứu của
nhiều luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ. Có thể kể tới: Trương Việt Hùng với
Tìm hiểu một số tuỳ bút Nguyễn Tuân (1985), Phạm Thị Bích Ngọc với Đặc
trưng thi pháp Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1999), Nguyễn Thị
Hồng Hà với Đặc trưng tuỳ bút Nguyễn Tuân (2004), Nguyễn Thị Ninh với
Ngôn từ trong sáng tác Nguyễn Tuân (2005), …
Ngoài các công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Nguyễn

chúng tôi xin tập trung đi sâu vào ba tác phẩm chính đó là: Hai phóng sự
Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) và một tùy bút Chiếc lư
đồng mắt cua (1941) để qua đó làm nổi bật đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
trong chủ đề cuộc sống hưởng lạc của nhà văn.
3.3. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung tìm hiểu và khắc họa hình tượng cái “tôi” đầy mâu
thuẫn, phức tạp của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Từ đó có cái nhìn bao
quát và toàn diện hơn về sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng về cuộc

11


đời và con người của ông, góp phần khẳng định lại một phong cách độc đáo
mang tên Nguyễn Tuân.
Thấy được vị trí vai trò của chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong toàn bộ
hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để luận văn được thực hiện trọn vẹn, chúng tôi sử dụng các phương pháp
sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp loại hình.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
5. Cấu trúc của Luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của chúng tôi bao gồm có 3
chương cụ thể với các nội dung như sau:
Chƣơng 1. Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của
Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng Tháng Tám.
Chƣơng 2. Chủ đề cuộc sống hƣởng lạc trong sáng tác của Nguyễn

đẹp tận cùng của mỗi vùng đất, cảnh vật và con người. Và theo như Hoài Anh
trong bài viết Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa,
tác giả đã nhận xét Nguyễn Tuân là một “nghệ sĩ đi tìm cái đẹp trong mọi
biểu hiện của đời sống trần gian” [34, tr. 187].
Do hoàn cảnh gia đình đông anh em nhưng về sau chỉ còn lại hai anh
em nên Nguyễn Tuân được bố mẹ cho lập gia đình sớm. Năm 1927, ông kết
13


hôn cùng bà Vũ Thị Tuệ tại Hà Nội khi ông 17 tuổi và bà 18 tuổi. Bà Vũ Thị
Tuệ là một cô con gái Hàng Đào chăm chỉ, đảm đang, giàu đức hy sinh đặc
biệt rất mực hiểu chồng. Trong một cuộc trò chuyện sau này với nhà văn
Ngọc Trai, Nguyễn Tuân hóm hỉnh nói về người vợ của mình với tình cảm
trân quý và “nể” bà.
Thưở nhỏ, Nguyễn Tuân theo học chữ Nho sau chuyển sang học tiếng
Pháp, tiếp tục học đến bậc trung học tại Thành phố Nam Định. Năm 1929,
ông tham gia một cuộc bãi khóa phản đối giáo viên người Pháp nói xấu, xúc
phạm người Việt Nam và bị đuổi học, trong vòng 5 năm không được bất kỳ
một công sở nào được nhận ông vào làm việc. Bế tắc, chán ghét trước cuộc
sống ngột ngạt, kìm kẹp của người dân thuộc địa nô lệ lầm than cùng với một
tính cách phóng khoáng, Nguyễn Tuân luôn mơ tưởng đến những phương trời
xa. Ông tìm cách ra nước ngoài nhưng không có giấy phép, Nguyễn Tuân bị
mật thám bắt tại Băng Cốc (Thái Lan), giải về Hà Nội, cuối cùng đưa về giam
tại Thanh Hóa năm 1930.
Sau khi ở tù ra, trước khi bước vào con đường viết văn, làm báo,
Nguyễn Tuân cũng đã làm một số công việc khác như thư ký nhà máy đèn
Thanh Hóa, mở hiệu sách báo hay làm thông tín viên. Và cũng trong khoảng
thời gian này, ông cũng bắt đầu sáng tác văn học, viết ký, truyện ngắn, thơ,
phóng sự, làm báo đăng trên các tờ: Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam
tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy, … Các tác phẩm của ông được đăng dưới nhiều

trong Hội văn hóa cứu quốc và đặc biệt là cuộc gặp gỡ với Tố Hữu, nhà thơ
cách mạng này đã thuyết phục ông tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi vào mặt trận
Nam Trung Bộ và ông đã nhận lời. Nếu như trong giai đoạn trước Cách mạng
tháng Tám, Nguyễn Tuân thích “xê dịch” đến nhiều vùng đất mới nhưng chủ
yếu là đi để thoả mãn cái tôi cực đoan của bản thân thì giai đoạn sau Cách
mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đi nhiều lại là đi để phục vụ kháng chiến,
phục vụ đất nước, nhân dân. Từ Vinh đến Thanh Hóa hay Tây Bắc đều in dấu
bước chân Nguyễn Tuân, qua mỗi mảnh đất kháng chiến ông đã cho ra đời
15


nhiều tác phẩm tâm huyết của mình như: Đường vui, Tình chiến dịch, Sông
Tuyến, Sông Đà, … Từ năm 1948 – 1958, ông giữ chức Tổng thư ký Hội văn
nghệ Việt Nam. Trong cả hai cuộc kháng chiến kiến quốc trường kỳ của dân
tộc, Nguyễn Tuân đều tham gia tích cực và dùng ngòi bút của mình khám phá
vẻ đẹp của tổ quốc và con người trong chiến đấu, lao động sản xuất, dựng
xây.
Ngày 28 tháng 1 năm 1987, Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội. Năm 1996,
ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu.
1.1.2. Con người
Một tác phẩm văn học ra đời bao giờ cũng là kết quả của cả một quá
trình lao động sáng tạo, những rung động thăng hoa của cảm xúc, của tâm
hồn, của suy nghĩ và có thể là hình bóng tác giả. Điều này sẽ không sai khi
tìm hiểu nghiên cứu về toàn bộ quá trình sáng tác với một số lượng tác phẩm
đồ sộ của Nguyễn Tuân theo dọc hành trình hơn năm mươi năm sáng tác của
ông đặc biệt là giai đoạn sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Các
nhân vật của ông dù là ẩn dưới cái tên nào đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là
“hình bóng của cái Tôi cá nhân chủ nghĩa của ông” [8, tr. 603]. Vì vậy trước
khi đi tìm hiểu nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Tuân thì một điều thực sự
rất cần thiết và quan trọng đó là biết và hiểu về con người nhà văn.

Tuệ có kể lại rằng trong những bữa ăn của ông nhiều hay ít thức ăn không
quan trọng mà quan trọng là bữa ăn “phải đẹp”, “phải sạch”. Xung quanh
con người Nguyễn Tuân đã có thật nhiều những giai thoại cũng như những kỷ
niệm đẹp cùng những người bạn đồng nghiệp trong nước và nước ngoài.
Thậm chí có những con người chỉ gặp một lần nhưng tất cả đều có những ấn
tượng mang màu sắc riêng độc đáo chỉ có ở Nguyễn Tuân – một cái duyên
của một tài tử nghệ sĩ luôn có sẵn ở trong mình “sức hút lẫn sức đẩy” [34, tr.
134].
Trong lao động nghệ thuật, Nguyễn Tuân là con người nghiêm túc,
luôn hết mình cho công việc, không ngừng rèn luyện trau dồi kiến thức.
17


Trong những trang viết về chuyện nghề, ông đã tâm sự hết sức chân thành với
bạn đọc những yêu cầu quan trọng đối với nghề văn chương đó là đi, đọc và
viết để có thể cho ra đời những tác phẩm có giá trị. Việc viết văn không chỉ có
năng khiếu mà đó còn là sự rèn luyện “khổ hạnh”, ngay chính bản thân ông,
hơn nửa cuộc đời hoạt động nghệ thuật không lúc nào ngừng nghỉ, ông luôn
giành thời gian dày công cho việc nâng cao kiến thức. Ở Nguyễn Tuân có một
sức đọc và sức viết thật đáng nể và được minh chứng cụ thể ở thành công tác
phẩm. “Trong văn chương, anh tự trọng mình, anh tôn trọng người đọc. Từng
chữ, từng chữ, từng trang của anh viết, được trạm trổ gọt giũa, như một nghệ
sĩ tạo hình. Anh không bằng lòng để người đọc phải chịu lặp lại ý cũ, từ cũ,
cách nói cũ. Dưới ngòi bút của anh, mỗi dòng sông, ngọn núi, cánh đồng, mỗi
làng quê, đường phố, … và mỗi con người không chỉ cần được khắc họa
thành đường nét, nhiều sắc màu mà còn cần tìm hiểu kỹ cả nguồn gốc, cũng
như quan hệ gần xa và phán đoán về tương lai phát triển của nó” [34, tr.158].
Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa, uyên bác. Ông không chỉ
hoạt động trong lĩnh vực văn chương, Nguyễn Tuân còn hoạt động trên nhiều
lĩnh vực nghệ thuật khác như: điện ảnh, làm báo, diễn kịch, phê bình văn học

Tuân được chia thành hai giai đoạn được đánh dấu bởi mốc quan trọng trong
lịch sử dân tộc đó là cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám:
Nguyễn Tuân đến với nghiệp văn từ đầu những năm 30 của thế kỷ
trước, trong khoảng năm năm đầu từ 1932 đến 1937 có thể gọi đây là giai
đoạn thử bút, tìm lối đi cho tác phẩm. Đến năm 1938, tên tuổi của ông bắt đầu
được chú ý nhiều hơn, phong cách sáng tác bắt đầu được định hình với tác
phẩm Một chuyến đi là kết quả của những ngày dài tham gia cùng đoàn làm
phim Cánh đồng ma được quay ở Hương Cảng.
Một tác phẩm đánh dấu sự thành công vang dội, đỉnh cao của sáng tạo
nghệ thuật trong hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân đó chính là tập truyện
Vang bóng một thời (1939). Nhà văn Thạch Lam sau khi đọc tác phẩm cũng
19


đã rất vui mừng mà khẳng định chắc chắn giá trị xuất sắc của văn chương là
đây. Tập truyện đã đưa người đọc quay về với những thú vui tao nhã nhưng
không kém phần cầu kỳ của những ông Nghè, ông Cử, ông Tú trong một thời
kỳ lịch sử phong kiến đã tàn. Tìm về quá khứ với cái Đẹp xưa trong một góc
nhìn thi vị, hoài cổ cũng chính là một đề tài chính trong sáng tác của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng.
Chán ghét xã hội thực tại “ối a ba phèng” của một người dân mất nước
cùng với việc chịu ảnh hưởng tư tưởng của những nhà văn Pháp tiêu biểu là
André Gide, Nguyễn Tuân hoang mang, bế tắc, “xê dịch” bản thân trong
những chuyến đi hoặc cuốn theo những cuộc vui thú hưởng lạc trong lời ca
tiếng hát ả đào bên những bàn đèn thuốc phiện. Trong quãng thời gian tiếp
nối này, ông đã cho ra mắt thêm nhiều những tùy bút, phóng sự, tiểu thuyết,
tập truyện. Với hai phóng sự tiêu biểu Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu
lạc (1941), cộng thêm tùy bút Chiếc lư đồng mắt cua (1941) là những tác
phẩm tiêu biểu cho đề tài về cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status