Đề tài quá khứ trong sáng tác của nguyễn tuân trước cách mạng - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------

PHẠM THỊ HỒNG NGỌC

ĐỀ TÀI QUÁ KHỨ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội- 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------

PHẠM THỊ HỒNG NGỌC

ĐỀ TÀI QUÁ KHỨ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ VĂN ĐỨC

Hà Nội- 2015




2.1.3.1. Nghệ thuật ẩm thực ............................................................................ 34
2.1.3.2. Thú vui chơi tao nhã .......................................................................... 40
2.1.3.3. Lối ứng xử tinh tế .............................................................................. 41
2.1.3.4. Nét tài hoa nghề nghiệp .................................................................... 43
2.2. Những kiểu nhân vật tiêu biểu trong sáng tác về đề tài quá khứ của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng .......................................................................................... 45
2.2.1. Giới thuyết vấn đề.................................................................................... 45
2.2.2. Những kiểu nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng47
2.2.2.1. Những nhà nho cuối mùa bi quan, chán nản trước thời cuộc. ........... 47
2.2.2.2. Những con người lãng tử thích cuộc sống giang hồ, xê dịch. ........... 52
2.2.2.3. Những con người nghệ sĩ tài hoa, tài tử. ........................................... 54
Chƣơng 3: Nghệ thuật thể hiện .......................................................................... 58
3.1. Thời gian và không gian nghệ thuật. .............................................................. 58
3.2. Tình huống truyện đặc sắc .............................................................................. 62
3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu: ................................................................................ 65
3.3.1. Ngôn ngữ ................................................................................................. 65
3.3.1.1. Ngôn ngữ kiểu cách, trang trọng ....................................................... 66
3.3.1.2. Hệ thống từ láy phong phú và tinh tế ................................................ 70
3.3.1.3. Ngôn ngữ so sánh, giàu hình ảnh, âm thanh và nhạc điệu ................ 71
3.3.2. Giọng điệu: .............................................................................................. 72
3.3.2.1. Giọng điệu khinh bạc ......................................................................... 73
3.3.2.2. Giọng điệu trữ tình mang màu sắc hoài niệm .................................... 75
3.4. Kết cấu ............................................................................................................ 77
3.4.1. Kết cấu tự do, linh hoạt, phóng túng ....................................................... 78
3.4.2. Kết cấu lồng ghép .................................................................................... 79
3.5. Thủ pháp nghệ thuật tương phản, đối lập ....................................................... 82
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 89



một phần trong những đóng góp quan trọng của ông. Đó là Đề tài quá khứ trong
sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng.
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, độc đáo và có cá tính mạnh nên từ trước đến
nay có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về Nguyễn Tuân. Ở đề tài viết về quá
khứ, nhiều nhà nghiên cứu đã có những bài viết khá sâu sắc, giúp người đọc khám
phá giá trị ẩn tàng trong từng trang viết của nhà văn. Tuy nhiên, đó chỉ là những bài
viết đơn lẻ, chưa thành hệ thống, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu về đề tài quá khứ trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng.
Bản thân tôi luôn hứng thú, say sưa và yêu mến những trang viết tài hoa của ông. Đi
sâu tìm hiểu về đề tài này, tôi có cơ hội bổ sung, trau dồi kiến thức về Nguyễn Tuân
thêm phong phú, vững vàng; có thêm hiểu biết về vẻ đẹp văn hóa tinh thần của một
thời đã xa, thêm trân trọng và giữ gìn vẻ đẹp đó trong thời đại mới, cũng như mang
lại cái nhìn rộng mở hơn khi giảng dạy các tác phẩm của ông trong nhà trường.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Kể từ khi xuất hiện trên văn đàn, văn chương và con người Nguyễn Tuân luôn
trở thành đề tài gây sự chú ý cho người đọc nói chung và cho các nhà nghiên cứu
nói riêng. Đã có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về cuộc đời, con người và
sáng tác của ông
2.1. Những bài báo, công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân nói chung
Những bài viết nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm nói chung: Có thể nói
người tiên phong đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này chính là Nguyễn Đăng
Mạnh. Ông cũng là người nghiên cứu về Nguyễn Tuân một cách khá toàn diện và
sâu sắc. Từ bài tiểu luận in ở đầu Tuyển tập Nguyễn Tuân (2 tập, năm 19841986) và bài giới thiệu trong Toàn tập Nguyễn Tuân (1988), bên cạnh đó ông còn
có bài viết Nguyễn Tuân- một phong cách độc đáo và tài hoa, Nguyễn Đăng
Mạnh đã giúp người đọc có sự nhìn nhận khách quan về nhà văn. Ông đã phân tích
một cách sâu sắc, thấu đáo sự nghiệp, quan điểm, phong cách nghệ thuật, đặc trưng
thể loại của nhà văn Nguyễn Tuân. Nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến nét nổi bật ở
nhà văn Nguyễn Tuân đó là cá tính Ngông: “Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như

chủ thể văn tùy bút với sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật và dấu ấn độc đáo cũng như


sở trường của nhà văn Nguyễn Tuân. Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định “cá tính
và phong cách của Nguyễn Tuân tự tìm đến thể tài tùy bút như là một tất yếu. Trong
văn học, có lẽ đây là thể tài chủ quan nhất và tự do nhất” . Nhà nghiên cứu Hà Văn
Đức có bài Tùy bút Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám (Một số đặc điểm
thể loại) in trong tập Năm mƣơi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng
Tám (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996) đã đưa ra nhiều đánh giá và nhận định
sâu sắc về những đặc điểm của tùy bút Nguyễn Tuân xét về mặt thể loại.
2.2. Những bài báo, công trình nghiên cứu về đề tài quá khứ của Nguyễn Tuân.
Nhà văn Thạch Lam trong bài Đọc lại Vang bóng một thời (in trên tạp chí
Ngày nay, số 212, ngày 15 Juin 1940) đã phát hiện ra mảng đề tài quá khứ trong
sáng tác của Nguyễn Tuân ngay khi ông xuất hiện trên văn đàn. Thạch Lam cho
rằng: “Có lẽ thu nhặt và kể lại những truyện, việc ngày xưa là một việc đáng chú ý,
nhưng mà dễ. Nhưng phải yêu mến dĩ vãng, phải tiếc thương và muốn vớt lại những
vẻ đẹp đã qua, mới có thể làm sống lại cả một thời xưa được. Vì cái ý ấy, Nguyễn
Tuân cũng đáng cho chúng ta cảm ơn rồi. Tác phẩm của ông lại có một giá trị sáng
tác và văn chương đặt ông vào địa vị một nhà văn cho chúng ta nhiều hy vọng.
Vang bóng một thời là một sản phẩm đáng quý, đánh dấu bước đường trở lại tìm
những cái đẹp xưa mà các nhà văn ta thường xao nhãng” [24, tr. 91]. Thạch Lam
đã tỏ ra rất tinh tế khi phát hiện ra giá trị sáng tác và văn chương của Nguyễn Tuân
ngay từ buổi ban đầu. Năm 1971, Phan Cự Đệ trong bài viết Đọc lại Vang bóng
một thời của Nguyễn Tuân đã lần đầu tiên đề cập đến hệ thống nhân vật trong tập
truyện Vang bóng một thời. Còn Nguyễn Đăng Mạnh khi đánh giá về truyện ngắn
Nguyễn Tuân trước Cách mạng đã phát hiện ra “chất mĩ học hoài cựu”. Ông cho
rằng nhà văn đã biết dựng lại cái cổ xưa bằng khả năng của bút pháp, kỹ thuật hiện
đại. Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa tiểu sử và tác phẩm, ông chỉ ra “Nguyễn Tuân
đã sống Vang bóng một thời trước khi viết Vang bóng một thời” [34, tr. 260]. Tiếp
nối những người đi trước, nhà nghiên cứu Hà Văn Đức đã có một bài viết sâu sắc,

quá nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian đó, nhiều ý kiến trái chiều, người khen khen
không ngớt, người chê, chê không tiếc lời nhưng cùng với thời gian, vị trí và giá trị


văn chương của Nguyễn Tuân trên văn đàn ngày càng được khẳng định vững vàng.
Sự độc đáo, một “cái tôi ngông ngạo” của nhà văn ngày nào bị “ném đá” thì nay lại
trở thành niềm say mê, hứng thú với lớp hậu thế. Di sản văn chương của ông trở
thành mảnh đất mỡ màu, được nhiều nhà nghiên cứu “canh tác” và gặt hái được
những thành tựu to lớn. Công trình của các nhà nghiên cứu trên đã góp phần làm
sáng tỏ nhiều vấn đề trong sáng tác của Nguyễn Tuân và có nhận định chính xác về
những đóng góp của nhà văn với nền văn học dân tộc. Đồng thời, công trình của các
nhà nghiên cứu cũng gợi mở đề tài cho các thế hệ sinh viên, học viên cao học
chuyên ngành Ngữ văn trên con đường khởi đầu nghiên cứu khoa học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân tích, lý giải Đề tài
quá khứ trong sáng tác của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng. Đây là một đề tài
rất lý thú và hấp dẫn song cũng đầy thử thách. Song với niềm say mê đặc biệt với
nhà văn, chúng tôi góp phần làm nổi rõ thành công của Nguyễn Tuân ở cả hai
phương diện nội dung, nghệ thuật và cả hạn chế trong sáng tác của ông trước Cách
mạng.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tƣợng:
Các đề tài sáng tác của Nguyễn Tuân rất đa dạng nhưng ở luận văn này chúng
tôi nghiên cứu tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Tuân ở đề tài viết về quá khứ
trong những sáng tác của ông trước Cách mạng. Ở đề tài này, chúng tôi nhận thấy
nhà văn đã thể hiện một cách tài hoa, nghệ sĩ và phô diễn một pho hiểu biết sâu sắc
về vẻ đẹp của một thời đã xa nay dần phai loãng trước sự tấn công ào ạt của văn hóa
phương Tây, sự nô dịch văn hóa trong chính sách cai trị của thực dân Pháp cùng
những biến động của lịch sử. Những tác phẩm của ông như những thước phim tư
liệu quý tái hiện cho thế hệ sau hiểu biết rõ hơn về đời sống của ông cha ta trong

Chương 2: Những cảm hứng lớn trong đề tài viết về quá khứ của Nguyễn Tuân
trước Cách mạng.
Chương 3: Những đặc sắc nghệ thuật.


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT
CỦA NGUYỄN TUÂN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945.
1.1. Hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng tháng Tám
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hán học, sáng tác của Nguyễn Tuân cho đến
trước năm 1937 hầu hết được viết theo bút pháp cổ điển. Những sáng tác buổi đầu
ấy chưa gây được tiếng vang. Tuy nhiên, có thể bắt gặp ở một số trang viết tiêu biểu
như Giang hồ hành (thơ), Vƣờn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn) những tín hiệu của
một phong cách nghệ thuật lớn. Ðó là tinh thần hoài cựu, luôn chăm chút nhặt
nhạnh những vẻ đẹp xưa dù đã tàn tạ, cuối mùa; là hệ thống nhân vật tài hoa tài tử,
nhuốm chút ngông nghênh kiêu bạc; là lối văn cầu kỳ trúc trắc mà uyên bác hơn
người.
Ðến 1937, Nguyễn Tuân lại xuất hiện trên các báo với những truyện ngắn hiện
thực trào phúng, ở đó thường vỡ ra những tràng cười châm biếm thoải mái, đậm đà
phong vị dân gian (Ðánh mất ví, Một vụ bắt rƣợu lậu, Mƣời năm trời mới gặp
lại cố nhân). Tuy nhiên, do trào lưu hiện thực phê phán lúc bấy giờ đã phát triển rất
mạnh với nhiều tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,
Nam Cao,... cho nên thật không dễ dàng đối với Nguyễn Tuân trong việc tìm một vị
trí có hạng trên văn đàn. Vả chăng, có lẽ hơn ai hết, Nguyễn Tuân sớm nhận ra rằng
thể loại truyện ngắn vẫn chưa phù hợp với sở trường của mình.
Nguyễn Tuân chỉ thực sự được công nhận như một phong cách văn chương
độc đáo kể từ tùy bút - du ký Một chuyến đi (1938). Tác phẩm là tập hợp những
trang viết từ chuyến du lịch không mất tiền sang Hương Cảng để tham gia thực hiện
bộ phim Cánh đồng ma. Nét đặc sắc nhất ở Một chuyến đi chính là giọng điệu. Có

viết của Nguyễn Tuân vẫn luôn được đón nhận bằng thái độ trân trọng và thông cảm
sâu sắc bởi độc giả nhận ra ở đấy một tấm lòng chân thành, gắn bó tha thiết với quê
hương bằng biết bao sợi dây tình cảm tế nhị, cả trong những thời điểm khắc nghiệt
nhất.
1.2. Các đề tài chính trong các sáng tác của Nguyễn Tuân trƣớc Cách mạng


1.2.1. Đề tài giang hồ, xê dịch
Sự tiếp xúc với văn học phương Tây hồi đầu thế kỉ XX đã ảnh hưởng lớn đến
văn học Việt Nam. Nhiều trào lưu, chủ nghĩa có nguồn gốc từ phương Tây đã du
nhập vào nước ta và được các nhà văn, nhà thơ Việt Nam tiếp nhận nồng nhiệt. Chủ
nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân là một thứ lí thuyết vay mượn từ văn học phương
Tây mà các đại diện tiêu biểu là A. Gide, Pôn Môrăng, nhà triết học Đức Friedrich
Nietzsche…A. Gide (1869- 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng nước
Pháp thế kỉ XX, từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Ông là người rất ham mê
du lịch khắp nơi trên thế giới. Câu nói nổi tiếng Pôn Môrăng đã được Nguyễn Tuân
lấy làm lời đề tựa cho tiểu thuyết Thiếu quê hƣơng của mình: “Ta chỉ muốn rằng
sau khi ta chết đi, người ta lột da ta để làm một chiếc va li”. Thêm vào đó, phong
trào dịch thuật phát triển đã tạo điều kiện cho lớp công chúng văn học thành thị,
trong đó có các nhà văn được biết đến các tiểu thuyết phiêu lưu giả tưởng của các
nhà văn phương Tây như: Robinson Crusoe của nhà văn Anh Daniel Defoe (16601731); Hai vạn dặm dƣới biển của nhà văn Pháp Jules Verne (xuất bản ở Pháp
năm 1870); các nhân vật trong tiểu thuyết của Satôbriăng du lịch sang châu
Mỹ…Còn ở phương Đông là tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân (1506?1581), hình ảnh tài tử, lãng mạn của những thi nhân thích du lịch trong thơ ca đời
Đường như Lý Bạch (701- 762), Đỗ Phủ (712- 770); cùng với đó là ý thức về cái
“tôi”- con người cá nhân giữa cuộc đời trở thành những động lực mạnh mẽ thôi thúc
các nhà văn Việt Nam lên đường sau khi đọc xong và gửi gắm niềm đam mê trong
các tác phẩm của chính mình. Còn văn học Việt Nam, nhiều tác giả thích cuộc sống
lãng du và say mê thể hiện vẻ đẹp của non sông đất nước trong tác phẩm của mình
như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, đặc biệt là
lối sống phóng túng của Tản Đà đã ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành tính cách và

người khác cho là nghịch lí, nghịch thuyết thì ông đẩy nó lên thành chủ nghĩa tới
mức cực đoan. Ham du lịch, Nguyễn Tuân đã nâng niềm ham thích này thành lý
thuyết- “chủ nghĩa xê dịch”. Học theo chủ nghĩa xê dịch, nhà văn thể hiện khát khao
thích phiêu lưu, thèm khát những cảm giác mới lạ, những nẻo đường, những miền
đất mới, được gặp gỡ muôn mặt người trên con đường giang hồ mê mải. Những


điều này đã cùng gặp gỡ nhau nơi con người Nguyễn Tuân để rồi những trang viết
được thăng hoa qua ngòi bút của ông. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân
đã viết một loạt những tác phẩm thể hiện niềm đam mê cuộc sống giang hồ lãng du
của mình như Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hƣơng (1943), Tùy bút I (1941),
Tùy bút II (1943)…
Là một nhà văn có cá tính mạnh mẽ, phóng túng, trước sự ngột ngạt của xã
hội thực dân nửa phong kiến “ối a ba phèng” đương thời, đi và viết với Nguyễn
Tuân là một sự giải thoát khỏi những bế tắc, chán chường trong cuộc sống. Đó cũng
là phản ứng của chủ nghĩa cá nhân kiêu ngạo ở một thanh niên trí thức giàu sức
sống nhưng không tìm được lối thoát. Hơn nữa, là nhà văn của những tính cách độc
đáo, những cảm giác mãnh liệt, Nguyễn Tuân không thích cái gì bằng phẳng, nhợt
nhạt, khuôn phép, yên ổn, cầu toàn. Với Nguyễn, đi là để “thay đổi thực đơn cho
giác quan”, hồ hưởng cho hết những sinh thú bất thình lình và những cảm xúc
không chờ đợi. Ông thích khám phá những phong cảnh tuyệt mĩ của gió bão, núi
cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội…
Trước Cách mạng, hình tượng những cơn gió được nói đến khá nhiều trong tác
phẩm của Nguyễn Tuân về đề tài xê dịch. Trong tiểu thuyết Thiếu quê hƣơng, hình
ảnh những cơn gió giục khách lên đường, khích lệ con người sống mạnh mẽ: “Có
những trận gió nó bảo người ta rằng cái lối sống câu dầm là một điều thất sách và
những hy vọng tự chế ra để giữ mình chỉ là một cách chết mòn. Tất cả, hoặc là
không có gì. Gió chỉ thổi một chiều” [34, tr. 423]. Đối với những con người lấy sự
đi lại làm mục đích của cuộc đời như Bạch, Vi, Sương, Hoàng,… thì những cơn gió
có một sức hấp dẫn kì lạ, khó có thể cưỡng lại được “cũng như mùi vị gió lúc này

Hình tượng nhân vật hay những hình ảnh trở đi trở lại trong văn Nguyễn Tuân
chính là lăng kính phản ánh chính con người ông. Hình ảnh chàng Nguyễn trước
Cách mạng có phần nào đó sống vô trách nhiệm, kiêu bạc, chán chường, không lối
thoát trước cuộc đời. Tuy nhiên, trong cách phản ứng có phần tiêu cực của người
thanh niên có cá tính mạnh mẽ ấy, ta cũng nhận ra tình yêu đất nước thầm kín, là lời
bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết với cảnh sắc và phong vị đất nước bằng một ngòi
bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa, tình yêu của một thế hệ nghệ sĩ sống giữa


quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương. Không chỉ thế, Nguyễn Tuân đã
thực sự sống xê dịch trước khi viết về xê dịch. Những quan niệm về xê dịch của nhà
văn cũng không giống thái độ mục đích du lịch thông thường mà thực sự đã trở
thành một hệ thống tư tưởng, lý thuyết chủ nghĩa độc đáo. Sở thích lãng du, thậm
chí dám vượt biên giới để tìm kiếm và trải nghiệm những cảm giác khác lạ của nhà
văn đã thắp lên ngọn lửa sự sống đang lụi tàn trong tâm hồn không ít thanh niên tâm
huyết với đất nước mà bất lực trước thời cuộc đương thời.
1.2.2. Đề tài viết về vẻ đẹp quá khứ
Chủ nghĩa lãng mạn thường biểu hiện ở sự chối bỏ thực tại, vượt lên thực tại
buồn chán, bế tắc, hoặc hướng về tương lai hay ngoảnh lại quá khứ, hoặc khao khát,
bay bổng với hiện tại được mộng ảo hóa. Trong khi văn học Việt Nam 1930- 1945
phân hóa thành nhiều xu hướng, nhiều dòng văn học với những đề tài, chủ đề khác
nhau thì dòng văn học lãng mạn xuất hiện đề tài viết về quá khứ. Đề tài viết về quá
khứ nằm trong phong trào phục cổ, phong trào suy tôn Khổng giáo và bảo tồn quốc
túy mà Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, các tạp chí Nam phong, Đông Dương tạp
chí và Nhà xuất bản Alechxandre de Rhodes của thực dân Pháp phát động. Trở về
quá khứ cũng là một trong những con đường thoát ly của chủ nghĩa lãng mạn. Bên
cạnh đó, ta thấy lúc này ý thức cá nhân phát triển, các nhà văn, nhà thơ thất vọng
trước cuộc sống hiện tại ngột ngạt, bế tắc nên có xu hướng trở về quá khứ.
Người ta trở về quá khứ với nhiều tâm trạng phức tạp. Huy Thông muốn tìm
trong lịch sử một giấc mộng anh hùng (Hạng Vũ, Kinh Kha). Chế Lan Viên quay về

của mình. Tuy nhiên, Nguyễn Tuân viết về thời đã qua không phải vì muốn khôi
phục lại thời phong kiến suy tàn mà thực chất là phản ứng của ông trước hiện tại
nhố nhăng mà ông đang sống. Việc làm sống lại cái đẹp xưa, Nguyễn Tuân đã thể
hiện một cách giữ thiên lương, tỏ thái độ bất hợp tác với thực dân, một lòng thiết
tha với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Giữa làn sóng Âu hóa mạnh
mẽ, thái độ đó của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng.


1.2.3. Đề tài cuộc sống hƣởng lạc
Chủ nghĩa lãng mạn thường thoát ly hiện thực. Họ thoát ly bằng nhiều con
đường khác nhau: trốn vào tình yêu, trốn vào quá khứ và trốn vào trụy lạc để quên
lãng, để tìm những cảm giác lạ. Trong sáng tác của Nguyễn Tuân, đan xen với chủ
đề giang hồ xê dịch là chủ đề về cuộc sống hưởng lạc. Bản thân cuộc sống giang hồ
phần nào đã gợi lên trong những trang viết của Nguyễn Tuân một cuộc sống phóng
túng, chơi bời ở những tiệm rượu, tiệm hút, nhà chứa, xóm cô đầu. Hai chủ đề này
vì thế có mối quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau.
Trước Nguyễn Tuân, văn học Việt Nam có không ít cây bút đề cập đến đề tài
này. Vũ Trọng Phụng đã phơi bày cuộc sống bỉ ổi, đồi bại của tầng lớp thượng lưu
trong xã hội nhố nhăng trong tiểu thuyết trào phúng Số đỏ (1936). Nguyễn Công
Hoan, Nguyên Hồng… mô tả cuộc sống trụy lạc như một tệ nạn xã hội cần phê
phán. Còn các cây bút văn xuôi lãng mạn như: Nhất Linh, Khái Hưng… đi ra ngoài
quỹ đạo phê phán xã hội khi viết về đề tài này để hướng đến sự đề cao tự do, giải
phóng cá nhân và đề cao giá trị ẩn chứa bên trong những gì bị cho là nhơ nhuốc tận
cùng. Không chỉ trong văn xuôi, thơ ca lãng mạn giai đoạn 1930- 1945 cũng có
nhiều thi sĩ viết về đề tài này. Năm 1939, trong Tinh huyết, Bích Khê có lúc thi vị
hóa và thanh khiết hóa cái đẹp nhục thể (Tranh lõa thể), có lúc diễn tả những cảm
giác điên cuồng, ngất ngư trong khoái lạc. Trong thơ Thế Lữ cũng nói đến “khói
huyền lên” và Lưu Trọng Lư, ngoài Mộng và Tình lại thêm “Quẩy theo với rượu
một vừng giai nhân”. Đến Vũ Hoàng Chương thì rượu, thuốc phiện và gái giang hồ
đã trở thành đề tài thú vị của thi ca! Thơ ông nói nhiều đến cái say: say rượu, say

bổng, trong trẻo của những tâm hồn, những con người tài hoa, tài tử bị xô đẩy vào
con đường cùng nhưng vẫn ý thức được mình, được người. Căm ghét xã hội trưởng
giả, tầng lớp con buôn ngu dốt, bất tài chỉ biết có tiền, họ nâng đỡ, an ủi nhau trên
đôi cánh nghệ thuật, vui với lời ca, điệu hát cho qua ngày đoạn tháng và tẩy rửa vết
nhơ nhớp của hình hài:. “Một giọng hát hay và run run là một bài kệ ngâm lên để
rửa hết tội lỗi trong đời Tâm; trước cái thuần túy của đàn hát, nàng và tôi đang
cùng nói chung một thứ tiếng của tâm hồn” (Chiếc lƣ đồng mắt cua)


Ngoài Chiếc lƣ đồng mắt cua, chủ đề viết về cuộc sống hưởng lạc còn xuyên
suốt hai thiên phóng sự: Ngọn đèn dầu lạc (1939) và Tàn đèn dầu lạc (1941). Hai
thiên phóng sự này đã miêu tả cụ thể tình cảnh và tâm trạng của những người
nghiện thuốc phiện đến mức không làm chủ được bản thân để rồi rơi vào tình cảnh
khốn cùng, sống cuộc đời cô đơn, buồn tẻ. Tuy vậy, qua các tác phẩm ta vẫn nhận
ra những người này dù có thời sa chân vào cô đầu, thuốc phiện nhưng chưa hoàn
toàn mất hết nhân cách. Bởi lẽ, mỗi khi nhìn lại, họ tự thẹn với mình, đau đớn, xót
xa khi thấy mình trở nên đồi bại.
Có thể nói, viết về đề tài cuộc sống hưởng lạc là một cách để lãng quên hiện
thực đen tối, cũng là để tìm những cảm giác nồng cháy mới lạ của một con người ưa
xê dịch như Nguyễn Tuân. Những tác phẩm của ông ở đề tài này cho thấy sự bế tắc,
chán nản của một thế hệ thanh niên chưa tìm thấy lối thoát cho hiện tại, đằng sau
đó là khao khát đổi thay để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Phải chăng, chính điều này đã
thúc đẩy người nghệ sĩ Nguyễn Tuân sớm đến với Cách mạng và có những tác
phẩm ngợi ca cuộc sống, chiến đấu, lao động của quân và dân trong thời đại mới.
1.3. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân
1.3.1. Quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp
Socrate (469?- 399. TCN)- nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh
là bậc thầy về truy vấn, đề cao lí trí và sự thật từng phát biểu quan niệm của mình
về cái đẹp qua mệnh đề: “Tất cả cái đẹp đều phải hợp lý”. Tsecnưsepxki (18281889)- nhà dân chủ cách mạng Nga, người phát ngôn cho quan điểm mỹ học duy
vật trước Mác từng viết: “Cái đẹp là cuộc sống. Một sinh thể đẹp là qua chúng, ta

nghệ thuật đứng trên mọi thiện, ác ở đời. Ông tách rời cái đẹp khỏi cái có ích, đề
cao một cái đẹp thuần túy, không vụ lợi. Tư tưởng này được Nguyễn Tuân bộc lộ
qua nhiều tác phẩm trước Cách mạng, mà rõ nhất là Vang bóng một thời, Thiếu
quê hƣơng, Chiếc lƣ đồng mắt cua, Tóc chị Hoài...
Có thể nói, quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân mang màu sắc chủ quan và
có phần cực đoan rất rõ. Ông rất coi trọng cảm giác của con người cá nhân hơn là


lô- gic mỹ học và đạo đức thông thường của cuộc sống. Chủ nghĩa duy mỹ mà ta
quan niệm ở Nguyễn Tuân không phải bộc lộ yếu tố tiêu cực mà theo Lại Nguyên
Ân trong Từ điển thuật ngữ văn học là: “Tinh thần duy mỹ ở Nguyễn Tuân chỉ bộc
lộ ở thời hậu lãng mạn, khi năng lực tự phản xạ vốn có ở chủ nghĩa lãng mạn thời
đầu bị yếu đi; lối miêu tả mang tính trò chơi nghệ thuật đối với thực tại thay cho xu
hướng không tưởng của cách trình bày thực tại theo quan điểm tự do và nhân văn
chủ nghĩa” [2, tr. 97]. Như vậy, quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân đã phần
nào phản ánh ý thức về cái tôi của người nghệ sĩ và hướng tới giá trị nhân văn cao
đẹp.
1.3.2. Quan niệm nghệ thuật
Những năm 1930- 1945 là giai đoạn văn học Việt Nam phát triển rất mạnh và
phân hóa làm nhiều dòng, nhiều xu hướng khác nhau. Ban đầu, dòng văn học lãng
mạn thống trị trên văn đàn, các nhà văn bước vào văn chương đều sáng tác văn học
lãng mạn. Nhưng đến 1936- 1939, văn học hiện thực phát triển mạnh và chiếm ưu
thế trên văn đàn. Trong đời sống văn học lúc này xuất hiện cuộc tranh luận giữa hai
phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” (do Hoài Thanh đứng đầu) và “nghệ thuật vị nhân
sinh” (do Hải Triều đứng đầu) kéo dài dai dẳng từ 1935- 1939. Từ sau 1940 trở đi,
đời sống xã hội Việt Nam đầy biến động kéo theo những biến động trong văn học.
Giai đoạn này, văn học lãng mạn đi vào thời kỳ bế tắc và suy thoái. Tiêu biểu là hai
nhà thơ Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương ca ngợi rượu và thuốc phiện. Đây cũng
chính là thời kỳ mà Nguyễn Tuân đến với văn chương nghệ thuật. Nguyễn Tuân đến
với văn chương khi cuộc tranh luận giữa hai trường phái nghệ thuật đã ngã ngũ và

về sự lựa chọn tự do cá nhân với ý thức về giá trị tồn tại thực sự của con người.
Điều này, thể hiện qua thế giới nhân vật trong những sáng tác của Nguyễn trước
Cách mạng. Đó là những người nghệ sĩ tài hoa, tài tử hay những con người thích
cuộc sống giang hồ, xê dịch.
Nguyễn Tuân tán thành chủ trương nghệ thuật đứng lên trên mọi mối quan hệ
hiện thực, dẫn đến tách rời nghệ thuật khỏi ngọn nguồn của nó là cuộc sống và lao
động. Nghệ thuật biến thành nơi tái hiện những cảm giác chủ quan của nhà nghệ sĩ
và tạo nên những vẻ đẹp thuần túy không có gốc rễ ở cuộc đời. Chìm sâu vào quan



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status