Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước cách mạng - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THANH THỦY
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC
CÁCH MẠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



V. Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG I. VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
1930-1945 VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TÔ HOÀI 7
1.1. Diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 7
1.2. Sự nghiệp sáng tác văn chương Tô Hoài 14
1.2.1. Quan niệm của Tô Hoài về văn chương nghệ thuật 14
1.2.2. Những thành công trong sự nghiệp văn chương Tô Hoài 17
Tiểu kết 22
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC CÁCH MẠNG 23
2.1. Khái niệm về nhân vật 23
2.2. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng
tháng Tám 23
2.2.1. Nhân vật nông dân, thợ thủ công 24
2.2.2. Nhân vật trí thức 30
2.2.3. Hình tượng loài vật 32
2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài
trước Cách mạng tháng Tám 35
2.3.1. Nhân vật gắn với môi trường lao động, sinh hoạt 36
2.3.2. Nhân vật được chú trọng miêu tả ở ngoại hình, hành động, lời nói 37
2.3.3. Nhân vật được xây dựng dựa trên những chi tiết về phong tục 41 2.3.4. Sử dụng hình ảnh so sánh đặc sắc để miêu tả nhân vật 43
Tiểu kết 45
CHƯƠNG III. ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU, TÌNH HUỐNG
TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 46
3.1. Kết cấu 46
3.1.1. Khái niệm kết cấu 46
3.1.2. Kết cấu trong truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng 47

Tiểu kết 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

1
PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài
Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Tô Hoài được đánh giá là một
cây đại thụ. Ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 1996. Nhà phê
bình Vương Trí Nhàn đã nhận xét : “So với các cây bút đương thời, Tô Hoài
có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu viết đến
đấy. Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày”. Giáo sư Hà
Minh Đức cho rằng “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”.
Quả thật, Tô Hoài đã miệt mài sáng tác 70 năm nay và đã cho ra đời 160 đầu
sách. Ông thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, truyện
đồng thoại, tiểu thuyết, kịch, hồi kí, chân dung văn học. Nghiên cứu nghệ
thuật văn chương Tô Hoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơn những
đóng góp của ông với nền văn học nước nhà.
Tô Hoài nổi tiếng với những tác phẩm như truyện dài Dế Mèn phiêu lưu
kí, Quê người, Quê nhà, Đêm mưa, Xóm giếng, tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, Kẻ
cướp bến Bỏi, hồi kí Cát bụi chân ai, Tự truyện, tập truyện ngắn Tây Bắc
Không chỉ thành công ở truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, ở thể loại
truyện ngắn ngay từ ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình một
phong cách riêng. Truyện ngắn của ông hấp dẫn người đọc ở mọi lứa tuổi
với lời kể chuyện hóm hỉnh, tài quan sát và miêu tả, cách thể hiện nhân vật
sinh động. Chuyện về một làng quê làm nghề dệt cửi với biết bao lo toan,
xuôi ngược mà cuộc sống vẫn vất vả bộn bề đã để lại nhiều cảm xúc trong
lòng người đọc.
Ngày nay, truyện ngắn vẫn là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trong

vùng quê ven đô- quê ngoại và cũng là quê sinh - nơi tác giả đã sinh sống
suối đời cho đến hôm nay.” [31, tr 30]. Ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả sự
thay đổi của cuộc sống xung quanh mình những năm trước năm 1945.

3
Vũ Ngọc Phan nhận ra ngay cả những truyện ngắn viết về loài vật của Tô
Hoài người đọc cũng thấy thấp thoáng cuộc sống của người dân quê: “Dưới
con mắt của Tô Hoài, những nhách chó nhỏ nằm vật lên nhau, rên ư ử mà
ngủ kia. Chính là “những đứa trẻ nằm mơ, những đứa trẻ khoai củ ở nhà
quê” chị gà mái “là một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực đa
tình, mà khi vướng vào cái bổn phận dạy dỗ nuôi nấng con trẻ lại đáng nên
một bậc mẹ hiền gương mẫu.” [31, tr 64-65]
Khi nghiên cứu về Tô Hoài, Phan Cự Đệ nhận xét: “Tô Hoài có một
khả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh, hóm hỉnh và tinh tế. Khả năng
này giúp anh thành công khi miêu tả những hiện tượng bên ngoài, dễ trực
tiếp quan sát và cảm thụ; cảnh vật thiên nhiên, sinh hoạt hằng ngày, phong
tục lễ nghi, thế giới loài vật, vv nhưng khả năng này rõ ràng là không đủ
khi nói về đời sống tâm lí bên trong, biện chứng tâm hồn, những quy lật bản
chất xã hội. Mặt khác, giống như một số nhà văn hiện thực phê phán chuyển
mình sang phương pháp hiện thực chủ nghĩa, Tô Hoài miêu tả khá thành
công các quan hệ gia đình, làng xóm, bạn bè, trai gái ”[31, tr 101]
Năm 2006, Mai Thị Nhung cho ra đời cuốn sách Phong cách nghệ
thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài trên tạp chí
văn học. Trong đó, tác giả cũng đã thu thập rất nhiều ý kiến về nghệ thuật
viết văn Tô Hoài [38, tr 8, 9,10].
Phan Cự Đệ nhận thấy “Tô Hoài có khả năng quan sát đặc biệt, rất
thông minh, hóm hỉnh và tinh tế”. Nguyễn Đăng Mạnh cũng đồng quan
điểm “Nhà văn có khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa”. Hà
Minh Đức trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài khẳng định: “Tô Hoài có
một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan”. Trần

gì đó giống người, quen thuộc với người. Tô Hoài bắt rất nhanh những nét
đặc trưng trong tính cách của chúng.”; “Truyện ngắn Tô Hoài chịu nhiều
ảnh hưởng của văn học dân gian. Nhưng lối dẫn truyện, kết cấu truyện,

5
giọng điệu trần thuật cũng như các thủ pháp khắc hoạ tính cách nhân vật đã
thuộc về truyện ngắn hiện đại”; “Trong số truyện, cũng giống như Nam Cao
trong Chí Phèo, Tô Hòai đã sử dụng ngôn ngữ văn xuôi đa thanh, giọng điệu
của người kể chuyện hoà lẫn với giọng điệu nhân vật”[5, tr 309, 310]
Như vậy, những đặc điểm truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng đã
được đề cập trong một số bài viết và các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có tính hệ
thống. Chính vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn của mình là
“Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng”.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng
Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
2. Phạm vi
Tuyển tập Tô Hoài, nhà xuất bản Văn học năm 1987, do giáo sư Hà
Minh Đức sưu tầm, tuyển chọn gồm 26 truyện ngắn.
1. Nhà nghèo
14. Ông dỗi
2. Lụa
15. Vàng phai
3. Một đêm gác rừng
16. Buổi chiều trong nhà
4. Chớp bể mưa nguồn
17. Khách nợ
5. Lá thư tình đầu tiên
18. Ông giăng không biết nói

V. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn
gồm có bốn chương
Chương I. Vài nét về diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 và
sự nghiệp văn chương Tô Hoài.
Chương II. Đặc điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
của Tô Hoài trước Cách mạng.
Chương III. Đặc điểm kết cấu và tình huống trong truyện ngắn Tô Hoài
trước Cách mạng.
Chương IV. Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Tô
Hoài trước Cách mạng. 7
CHƯƠNG I
VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM 1930-1945
VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TÔ HOÀI

1.1. Diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945
Truyện ngắn Việt Nam ra đời từ thời kì văn học trung đại. Theo dòng
thời gian, thể loại này ngày càng phong phú, đa dạng, hoàn thiện, chiếm một
vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà. Có thể nói, giai đoạn 1930-
1945, truyện ngắn Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt, với nhiều phong cách
đa dạng, độc đáo.
Nhìn lại thời kì trước đó, ta mới thấy sự phát triển của truyện ngắn Việt
Nam 1930-1945.
Truyện ngắn Việt Nam thời trung đại mang nội dung và ảnh hưởng của
lối kể chuyện dân gian. Giai đoạn này còn chịu ảnh hưởng của lối văn tự sự
trong các bộ sử, lối văn ghi chép sử ít có tính văn học. Truyện có lối kể
chính xác, khách quan, lời văn ngắn gọn đơn giản, ít miêu tả tâm lí của nhân

Vào những năm 20 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam đã có nhiều
bước đi táo bạo với sự phát triển của nhiều khuynh hướng văn học.
Truyện ngắn viết theo khuynh hướng đạo lí gắn liền với các tên tuổi như
Nguyễn Bá Học, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Chánh Sắt…Bản thân họ
xuất thân là nhà Nho. Trước lối sống thực dụng của xã hội thị thành đang bị
Âu hoá, nền đạo đức Nho phong trong các gia đình phong kiến đã dần bị
phá vỡ. Những tác giả nhà Nho cảm thấy đau lòng. Họ lên tiếng bênh vực
đạo đức truyền thống. Quan niệm văn dĩ tải đạo vẫn chưa thoát khỏi các
phẩm của họ. Các tác giả chưa chú trọng xây dựng nhân vật có cá tính được
thể hiện ở chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ, hành động. Nhân vật thực chất là một
mẫu hình để nhà văn thuyết giảng về đạo đức, vì vậy trở nên khô cứng, gò
bó, không có sức sống.

9
Khuynh hướng yêu nước và cách mạng gắn liền với tên tuổi Phan Bội
Châu và Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm của Phan Bội Châu có thể xem là
những đoản thiên tiểu thuyết bổ sung cho chính sử, cho lịch sử cách mạng
Việt Nam. Phan Bội Châu sáng tác để đề cao anh hùng, liệt nữ, để cổ vũ cho
phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc. Ông nổi tiếng với những tác phẩm
Sùng bái giai nhân (1907), Chân tướng quân (1917), Tước Thái thiền sư
(1917), Tái sinh sinh (1918), Truyện Phạm Hồng Thái (1925). Phan Bội
Châu còn chịu ảnh hưởng của bút pháp viết sử, sử bình của truyện kể trung
đại. Tuy nhiên, truyện của ông đã có những đổi mới, có những dấu hiệu của
truyện ngắn hiện đại. Tác giả đóng vai là người kể chuyện, đứng ra dẫn dắt
câu chuyện. Kết cấu truyện theo trình tự thời gian nhưng cũng có kết cấu
phá vỡ thời gian tuyến tính như Tái sinh sinh. Truyện kí của Nguyễn Ái
Quốc được đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng Sản Pháp và báo Người
cùng khổ của Liên hiệp các dân tộc thuộc địa từ năm 1922 đến năm 1925.
Các tác phẩm nổi tiếng của Người vào thời kì này được độc giả luôn ghi nhớ
như Con rùa, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Lời than vãn

trong tâm hồn người đọc những dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảm
thương những cuộc đời thầm lặng như những chấm sáng lù mù nhoè đi
trong bóng tối của một vùng quê tù đọng. Thạch Lam ít sử dụng cốt truyện
giàu kịch tính. Ông nghiêng về những cốt truyện tâm lí, hướng dến thế giới
bên trong con người, đặc biệt là thế giới ấn tượng và cảm giác như Hai đứa
trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc.
Cũng giống như Thạch Lam, Thanh Tịnh thiên về miêu tả thế giới nội
tâm, cảm giác. Truyện ngắn của ông thường chỉ có một tình huống. Cái kết
bao giờ cũng là một kỉ niệm buồn man mác: kỉ niệm ngày đầu tiên đi học
[Tôi đi học], kỉ niệm những ngày ở làng Mĩ Lí [Quê mẹ]. Lời văn giàu chất
thơ, nhẹ nhàng, tha thiết bày tỏ một niềm cảm thông với con người nghèo

11
khổ. Bên cạnh đó, những sáng tác của ông còn đậm chất truyền kì, những
truyện kinh dị, kì bí [Ngậm ngải tình trầm].
Văn học lãng mạn còn xuất hiện một cái Tôi độc đáo- Nguyễn Tuân.
Suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, Nguyễn Tuân đến với các nhân vật tài
hoa, tài tử, những thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, trong văn hoá ẩm
thực. Vang bóng một thời, ông đề cao những thú chơi cổ xưa. Uống trà, chơi
hoa là một thứ nghệ thuật trang trọng, cầu kì [Chén trà trong sương sớm,
Thạch Lan Hương]. Lối chơi chữ thể hiện khí phách của người quân tử,
những con nguời có tài, có tâm [Chữ người tử tù]. Nhân vật của Nguyễn
Tuân có cái ngông, lập dị không phải là những con người bình thường. Dù
đứng ở phía nào thiện hay ác, nhân vật đều có tài đặc biệt hơn người, được lí
tưởng hoá, được phóng đại theo thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn. Truyện
của Nguyễn Tuân vẫn được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, ở ngôi thứ
ba. Cái tài của ông là xây dựng nhân vật. Ông nắm bắt những nét đặc trưng
nhất trong tính cánh của nhân vật, miêu tả những hành động theo cách riêng
hết sức độc đáo
Trong dòng văn học hiện thực phê phán, có những tên tuổi như Nguyễn

tác phẩm cùng tên đã để lại nhiều nhức nhối trong lòng người đọc. Một anh
Chí nông dân, hiền lành, chân chất bị Bá Kiến, một tên lí trưởng của làng
Vũ Đại vì ghen tuông đã đẩy vào con đường tù tội. Nhà tù thực dân đã tha
hoá, biến Chí Phèo trở thành con quỷ của làng Vũ Đại. Bi kịch của Chí là bi
kịch không được thừa nhận là con người mặc dù Chí đã tha thiết trở về con
đường lương thiện. Hiện tượng người nông dân bị lưu manh hoá như Chí
Phèo được lặp đi lặp lại như một quy luật qua một số nhân vật như Năm
Thọ, Binh Chức, Trương Rự, Trạch Văn Đoành. Nam Cao còn phản ánh bi
kịch của người trí thức nghèo. Họ có khát vọng to lớn làm nên tác phẩm để
đời nhưng những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền cứ ghì sát đất, nhà văn buộc
phải cho ra đời những tác phẩm nhạt nhẽo, nghèo nàn để mưu sinh hàng

13
ngày. Họ sống trong nỗi tuyệt vọng, đau khổ [Đời Thừa, Trăng Sáng]. Nam
Cao đã đưa ra những nguyên tắc sáng tác: “Văn chương không cần đến
người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ
dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai
khơi và sáng tạo những gì chưa có”.
Tô Hoài được đánh giá là nhà văn có sở trường về truyện ngắn.
Truyện của ông mang hương vị đồng quê với những phong tục tập quán lâu
đời của người dân quê vùng ven ngoại thành. Đằng sau cái màu sắc phong
tục, ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả rất rõ một xã hội đói khổ của những
người nông dân nghèo, những người thợ thủ công bị phá sản, những mối
tình cảm dang dở và những cuộc ra đi vì mưu sinh. Ông có tài phác hoạ chân
dung các kiểu người ở vùng quê ngọai thành Hà Nội thời đó. Một ngòi bút
sắc sảo tinh tế và hóm hỉnh khi tả về những phong tục sinh hoạt, chân dung
và hành vi nhân vật.
Nguyên Hồng là cây bút truỵên ngắn xuất sắc trong thời kì Mặt trận
Dân chủ. Truyện ngắn Nguyên Hồng đã làm sống dậy cuộc đời lam lũ, cơ
cực, bần cùng của những người lao động nghèo ở các vùng ngoại ô, ngõ

xu hướng sáng tác lãng mạn đương thời, cây bút trẻ ấy cũng bắt đầu sự
nghiệp bằng những bài thơ lãng mạn, nhưng sau này ông chuyển hướng.
Trong Tự truyện, Tô Hoài tâm sự: “Chưa bao giờ tôi bắt chước theo truyện
của Khái Hưng, mặc dầu tôi thích đọc những truyện ấy. Bởi lẽ giản dị: viết
truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết
cái giống thật thì nhân vật trong truyện của các ông nhà giàu con quan có
đồn điền như thế, tôi không viết những kiểu người ấy, không bắt chước
được” [23, tr 218]. Lời thổ lộ chân tình ấy của Tô Hoài đã bộc lộ rất rõ quan
niệm của ông về văn chương. Tô Hoài không thi vị hoá đời sống, không viết
về những đôi lứa “lá ngọc cành vàng”. Tô Hoài chỉ viết những điều mà ông
nhìn thấy ở quanh mình, ở chính mình: “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng

15
và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả những sáng tác của tôi, ý nghĩ tự nhiên
của tôi bấy giờ là viết những sự thực xảy ra trong nhà, trong làng quanh
mình” [23, tr 218]
Tô Hoài sống gần gũi quen thuộc với những người bình dân, những
con người lam lũ, nghèo khổ, nhếch nhác. Nhà văn từng bộc bạch: “Đời
không suông nhạt của mảnh cổ tích nhăng cuội, ở những chuyện trai gái
thông thường đem bôi nhèm trên giấy. Tôi có thể viết vô vàn truyện mơ
mộng hoa lá. Mà tôi viết không được. Xưa nay, tôi chỉ quen với những gì
vụn vặt, nhem nhọ” [31, tr 118]
Quan niệm văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống đã chi phối toàn
bộ các sáng tác của Tô Hoài. Bên cạnh đó, ở thể loại truyện ngắn, Tô Hoài
cũng có suy nghĩ riêng.
Nhiều tác giả văn học đã có những quan điểm rất rõ ràng về nghệ
thuật truyện ngắn. Môôm cho rằng: “Truyện ngắn là sự trình bày một sự
kiện theo trình tự diễn biến của câu chuyện , hoặc theo trình tự tâm tình.
Nhờ sự thống nhất có kịch tính, sự trình bày đó có thể loại trừ tất cả những
gì không cần thiết để bộc bạch suy nghĩ”[ 37, tr 84]. Nhà văn Bùi Hiển khi

rõ ràng nhất quán về thể loại này trong suốt cuộc đời hoạt động văn chương
của mình.
Trong Sổ tay viết truyện ngắn, ông đã từng bày tỏ niềm say mê của
mình với truyện ngắn: “Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng tìm đọc truyện
ngắn bởi nó là thể loại có tính chiến đấu mạnh mẽ”. Tô Hoài còn quan niệm
truyện ngắn là “cưa lấy một khúc đời sống” nhưng không thể vì ngắn gọn
mà làm mất đi “chất khoẻ khoắn của đời sống” [22, tr 8]. Ông đã hiểu được
hiểu được tính hiệu quả của truyện ngắn. Theo Tô Hoài, với truyện ngắn,
người viết phải biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ. Truyện ngắn là
nơi nhà văn có thể thử tìm phong cách cho mình.

17
Tô Hoài đã từng trăn trở về “truyện ngắn hay nhất”, làm thế nào để
viết ngắn “rút ngắn, rút ngắn nữa. Cho chặt, cho chắc, cho tinh tế”[21, tr
100]. Và tác phẩm ấy phải chứa đựng những suy nghĩ của người viết về
cuộc đời: “Cái truyện ngắn hay nhất bao giờ cũng là truyện sẽ viết. Người
viết thấy ra cái khó ấy, cái đau khổ ấy, niềm hy vọng không cùng ấy trong
lúc cầm bút” [21, tr 101]. Như với các thể loại khác, Tô Hoài khẳng định
người viết truyện ngắn cũng phải để lại cho bạn đọc một dư âm nào đó trong
lòng, tránh lối viết nhạt nhẽo: “Chúng mình làm nghề viết, thành nghề viết
rồi, có thể viết cái gì viết cũng có thể được in, ít nhất thì cũng tàm tạm sạch
nước cản. Nhưng, anh cứ tưởng tượng xem, một sáng tác ra đời, bạn đọc
xong rồi, dư luận im lặng. Nghe như hòn gạch ném xuống giếng, sau tiếng
rơi bõm vào lòng giếng, là cái im lặng mênh mông. Đối với người cầm bút
không có gì ghê rợn hơn, thất vọng hơn gặp phải cảnh như thế”[22, tr 65]
Quan niệm của Tô Hoài cũng giống với các nhà viết truyện ngắn
khác. Song Tô Hoài nhấn mạnh hơn yếu tố ngắn gọn. Đồng thời, ông khẳng
định một tác phẩm truyện ngắn có giá trị phải phản ánh hiện thực cuộc sống
và sự sáng tạo, hoài bão của nhà văn.
Như vậy, truyện ngắn trước hết phải súc tích. Người viết không được

truyện ngắn đến tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim. Ở đề tài
và thể loại nào, ông cũng ghi lại những dấu ấn riêng.
Là một trong những nhà văn thành công ở thể loại hồi kí, tự truyện,
Tô Hoài được người đọc biết đến qua những tác phẩm Cỏ dại, Tự truyện,
Cát bụi chân ai, Chiều chiều. Những tác phẩm này ghi lại những chặng
đường đời khác nhau của nhà văn. Cỏ dại ghi lại kí ức về một thời thơ dại
với những kỉ niệm buồn trong những “ngày cũ buồn bã”. Tự truyện tái hiện
lại chặng đường thời niên thiếu từ lúc còn là học sinh lớp nhất trường Yên
Phụ cho đến khi phải nghỉ học, lang thang khắp đất Kẻ Chợ đến cảng Hải
Phòng tìm việc, rồi vào nghề văn, tiếp tục những ngày “phiêu lưu kiểu kiến

19
bò cho qua cơn trống trải” cùng các nghệ sĩ đến những ngày tháng sôi nổi
hoạt động cách mạng trong phong trào Văn hoá cứu quốc. Đến Cát bụi chân
ai và Chiều chiều, những chi tiết đời tư mờ dần, tác giả không kể nhiều về
mình, về gia đình mình. Nội dung chủ yếu của tác phẩm là những câu
chuyện về cuộc đời, về bạn bè, đồng nghiệp, về những người đã từng gặp gỡ
trong công tác xã hội hoặc ngoài đời thường…
Tô Hoài còn thử sức trong lĩnh vực sân khấu nghệ thuật. Ông viết
kịch bản phim: Vợ chồng A Phủ (NXB Văn học), Mường Giơn (Tạp chí Văn
nghệ Quân đội), Kim Đồng (NXB Kim Đồng), Ông Gióng (NXB Văn hóa),
Trâu húc (NXB Hà Nội), Xây thành Cổ Loa (NXB Kim Đồng), Sự tích
Thăng Long (báo Văn nghệ). Tô Hoài còn tham gia viết kịch nói, kịch múa
rối: Thạch Sanh (NXB Kim Đồng), Con mèo lười (NXB Thanh Niên), Ông
Gióng (Hội Văn nghệ Hà Nội). Hầu hết những đóng góp của ông đã gây
tiếng vang lớn.
Tên tuổi Tô Hoài được nhắc nhiều ở thể loại truyện dài. Trong suốt
bảy năm sáng tác, Tô Hoài đã để lại một khối lượng khá lớn. Bao gồm các
truyện Dế Mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941, NXB Tân Dân),
Giăng Thề (1943, NXB Tân dân), Xóm giếng ngày xưa (1943, NXB Bách

chất nửa tâm lý, nửa triết lý mà các vai lại là loài vật O chuột là truyện
ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho lối văn đặc biệt
của ông, một lối văn viết dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị và màu sắc
thôn quê. Cái tinh ma và cái xác thực có lẽ gặp nhau ở chỗ này” [31, tr 63].
Nhà nghèo ( là một tập truyện ngắn viết về nông thôn. Tô Hoài
thường nhìn nông thôn thiên về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh, sắc
sảo. Có lẽ đây là chỗ hấp dẫn đặc biệt của ngòi bút Tô Hoài: ông nói về tục
tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), tục đòi nợ (Khách nợ), tục cúng bái mê tín, cả
đến “tục” vợ chồng cãi nhau, làng xóm nhiếc móc nhau (Nhà nghèo, Mẹ
già ).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status