Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Đức Ban - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------

HOÀNG VĂN THANH

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN ĐỨC BAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

VINH, 2012
1


MỤC LỤC
Tran
g
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

1

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

7



1.1.3. Những tìm tòi, thể nghiệm

17

1.1.3.1. Sự vận động ở dạng thức cấu trúc cốt truyện

17

1.1.3.2. Sự vận động đổi mới ở phương diện trần thuật

23

1.1.3.3. Sự vận động đổi mới ở phương diện ngôn ngữ

26

1.2. Đức Ban - đời và văn

31

1.2.1. Về cuộc đời

31

1.2.2. Con đường văn

32

1.2.3. Truyện ngắn - thành tựu nổi bật trong sáng tác của Đức

hiện đại

44

2.1.2. Các dạng cốt truyện trong truyện ngắn Đức Ban

47

2.1.2.1. Dạng cốt truyện biên niên

47

2.1.2.2. Dạng cốt truyện lồng trong truyện

50

2.1.3. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

53

2.1.3.1. Kết cấu cốt truyện theo thời gian tuyến tính

53

2.1.3.2. Kết cấu cốt truyện đồng tâm

55

2.1.3.3. Kết cấu cốt truyện phi tuyến tính


2.4.2.3. Nhân vật từ góc nhìn nghề ngiệp

70

2.2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

73

2.2.3.1. Miêu tả ngoại hình chi tiết cụ thể

73

2.2.3.2. Đặt nhân nhân vật vào tình huống bất ngờ

75

2.2.3.3. Cá thể hoá nhân vật qua ngôn ngữ, hành động

79

Chương 3
NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN ĐỨC BAN

3.1. Ngôn ngữ

86
86

3.1.1 Giới thuyết khái niệm


Ban
3.2.2.1. Giọng khách quan

102

3.2.2.2. Giọng hoài nghi mang tính chất vấn

105

3.2.2.3. Giọng suy tư, khắc khoải mang tính chiêm nghiệm về
thế sự nhân sinh

108

3.2.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu

111

3.2.3.1. Điểm nhìn trần thuật

112

3.2.3.2. Nhịp điệu trần thuật

116

3.2.3.3. Sự hoà trộn, đan xen giọng kể, tả, bình

120


1.1. Đức Ban thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành sau kháng chiến chống
Mỹ. Ông viết không nhiều, song khá đa dạng về thể tài (truyện ngắn, ký, kịch,
tiểu thuyết, chân dung văn học…). Trong đó, truyện ngắn được xem là thể
loại thành công nhất. Với truyện ngắn, ông đã khẳng định được tên tuổi của
mình trong văn Việt Nam đương đại. Nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Đức
Ban, vì vậy không chỉ để hiểu về tài nằng, cá tính của một nhà văn đã định
hình được phong cách, mà còn gợi mở nhiều vấn đề về những tìm tòi, thể
nghiệm của truyện ngắn đương đại Việt Nam.
1.2. Đức Ban là là cây bút chủ lực của văn xuôi Hà Tĩnh từ sau chống
Mỹ (1975) đến nay. Những sáng tác của ông góp phần làm giàu có thêm cho
văn xuôi Hà Tĩnh, vừa tạo được dấu ấn riêng trong truyện ngắn Việt Nam
mấy chục năm qua. Đến nay ông đã xuất bản trên 14 đầu sách. Nhiều tác
phẩm của ông đã được trao giải thưởng văn học, như: 3 Giải A cho các tập
truyện ngắn: Đêm thức, Chuyện vẫn còn và Kịch Nguyễn Biểu; 01 Giải B cho
tập truyện ngắn Hoa cúc vàng - Giải thưởng VHNT Nguyễn Du của UBND
tỉnh Nghệ tĩnh và UBND tỉnh Hà Tĩnh; 01 Giải A cho tập truyện ngắn Đêm
thức; Giải B cho truyện ngắn Sông nước - Cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ
- Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (1998 - 2000)… Tuy nhiên cho đến nay,
những nghiên cứu về truyện ngắn Đức Ban nói riêng, văn xuôi Hà Tĩnh nói
5


chung chưa có nhiều thành tựu. Vì lẽ đó, nghiên cứu truyện ngắn Đức Ban
không chỉ để hiểu sáng tác của ông mà còn để hiểu hơn về văn xuôi Hà Tĩnh.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về đặc điểm nghệ thuật truyện
ngắn Đức Ban vẫn là một vấn đề khá mới mẻ. Thuộc thế hệ những nhà văn
trưởng thành sau chiến tranh (1975), Đức Ban giữ một vị trí quan trọng trong
văn xuôi đương đại Xứ Nghệ. Ông hội tụ được một số phẩm chất của một
nghệ sỹ đường dài, như: vốn sống phong phú, khả năng giao lưu cởi mở, năng

truyện ngắn); Trăng vỡ (Tiểu thuyết); Đêm thức (Tập truyện ngắn); Khúc hát
ngày xưa (Tập truyện ngắn); Mạng nhện bạc (Tập truyện vừa); Nguyễn Biểu
(Kịch)… Qua các tác phẩm xuất bản và các giải thưởng đã trao, phần nào cho
thấy sự thành công khá đa dạng của nhà văn trên nhiều phương diện của đời
sống cũng như các thể loại văn học (từ truyện ngắn, truyện vừa, kịch, tiểu
thuyết và truyện viết cho thiếu nhi…). Nhưng có lẽ Đức Ban thành công hơn
cả là ở thể loại truyện ngắn. Với một “thi pháp tự sự” đổi mới có chọn lọc đã
đem tác giả đến với những thành công, những giải thưởng… và quan trọng
hơn, đó là một vị trí đáng kể của nhà văn Đức Ban trong làng văn đương đại
Xứ Nghệ cũng như trong lòng bạn đọc cả nước. Tác phẩm của ông đã thu hút
sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và đông đảo bạn đọc trong cả
nước, một cách lặng lẽ, tự nhiên.
Bàn về truyện ngắn Đức Ban, Nguyễn Thị Nguyệt trong bài Nghĩ từ
văn xuôi Đức Ban đăng tải trên Website http://www.baohatinh.vn đã phân tích
khá cụ thể, bao quát trên cả hai phương diện con người và tác phẩm của nhà
văn Đức Ban. Theo tác giả “... Với những đóng góp quan trọng của mình cho
mảng văn xuôi, Đức Ban được xem là nhà văn tiêu biểu nhất của Hà Tĩnh
trong vòng ba chục năm lại đây. Bút lực dồi dào, vốn sống, vốn hiểu biết
phong phú, sâu sắc cộng với niềm đam mê, tâm huyết và đặc biệt là sự lao
động thực sự nghiêm túc, cẩn trọng với nghề văn chương chữ nghĩa đã tạo
nên những thành công đã được ghi nhận của ông” [60, tr. 1]. Cũng theo tác
giả, từ tập truyện ngắn đầu tiên Mưa rừng (1978) cho đến tập truyện dài được
xuất bản gần đây nhất Mạng nhện bạc (2004), trải qua quá trình sáng tác hơn
ba thập kỷ sau chiến tranh với bao thăng trầm, biến động của cuộc sống,
nhưng tất cả những hiện thực, những vang động đó đều có sự lắng động trong
7


các tác phẩm của ông. Đức Ban viết khá nhiều về mảng đề tài chiến tranh, hậu
chiến tranh và cùng với những vấn đề của nó đã có mặt trong hầu hết các


Trong bài Truyện ngắn được giải Báo văn nghệ - mười năm còn lại
đăng trong tập Phê bình - Tiểu luận Mùa màng văn học mấy năm qua của tác
giả Văn Chinh do Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành năm 2010 đã có đánh
giá, nhận xét khá hay và sâu sắc về Đức Ban và các nhà văn cùng thời đối với
thể loại truyện ngắn viết về thời hậu chiến. Đó là tính đa dạng của giọng điệu
của các số phận. Bên cạnh đó, nhà văn đã chú ý hơn đến khía cạnh thua thiệt
của nhân vật, họ lẫn khuất ở đâu đó dưới lam lũ đời thường, quá khứ chiến
tranh thi thoảng mới hiện về như một kỷ niệm buồn đau đã xa vời, đôi khi
như không phải là chính họ. Nó được thể hiện qua một số tác phẩm đạt giải
của Báo Văn nghệ, như: Một lứa bên trời (Trần Thị Huyền Trang), Người
đàn ông huyền thoại (Hồ Tĩnh Tâm), Nghề sông nước (Đức Ban), Nửa mặt
trăng trong mặt trời (Phạm Thị Ngọc Liên)…
Trên Website http://www.vanchuongviet.org, đăng bài Đức Ban với đề
tài nông thôn thời hậu chiến của tác giả Yến Nhi đã có những nhận xét khá cụ
thể về tác giả và mảng đề tài trong tác phẩm. Theo tác giả, Đức Ban là người
có một vốn sống phong phú, một khả năng giao lưu cởi mở và một năng lực
tiếp nhận cái mới của kỹ thuật nghề nghiệp. Chính vì vậy mà khi viết, phản
ánh về mặt trái của cơ chế thị trường ở nông thôn, với nhiều nghịch cảnh
nhưng tác giả không đem đến cho người đọc những bi quan tuyệt vọng, nó
như những “âm án” trong đông y, là những liệu pháp tinh thần giúp con nguời
cảnh tỉnh, giữ vững ý chí đấu tranh trong những hoàn cảnh cam go. Với đề tài
nông thôn, ông đã chọn một lối đi riêng, đề cập đến mảng khuất khó nhìn thấy
trong đời sống những người nông dân sau chiến tranh với một bút pháp hiện
thực mới, tạo được hiệu ứng thẩm mỹ không theo lối mòn ở nhiều tầng lớp
độc giả. Đây thực sự là những đóng góp tạo nên một khuynh hướng mới mẻ
trong dòng chảy của văn xuôi đương đại của nhà văn Đức Ban.
Trong bài Nhà văn Đức Ban với việc đổi mới truyện ngắn đăng trên
trang http://www.htu.edu.vn và http://hoinhavanvietnam.vn tác giả Trần Thị
Anh Thư đã đánh giá: “Diễn ngôn một cách khiêm tốn chăng nữa thì Nhà văn

Với bài viết nhan đề Văn học thiếu nhi Hà Tĩnh đăng trên trang
http://vanhocnghethuathatinh.org.vn Trần Thị Ái Vân đã có sự nhìn nhận về
nhà văn Đức Ban ngoài việc là một nhà văn tiêu biểu của Hà Tĩnh có nhiều
thành tựu trong truyện ngắn, còn có những đóng góp đáng kể bằng những
10


sáng tác hay viết cho thiếu nhi đã được tập hợp và in trong các tập truyện:
Hoa cúc vàng (NXB Kim Đồng, 1984), Những tiếng chim (NXB Thuận Hoá,
1986), Con mèo mun (NXB Kim Đồng, 2007). Truyện thiếu nhi của Đức Ban
mở ra một thế giới ky thú khi ông viết về những loài vật gần gũi với các em
như những cánh chim, những chú mèo, những con châu chấu áo xanh, những
bông hoa trong vườn… Đây cũng là một lĩnh vực thể hiện năng lực tìm tòi,
khám phá, góp phần tạo nên sự đa dạng trong cách viết của nhà văn.
Qua việc điểm lại những bài viết trên đã cho thấy một Đức Ban đa dạng
trong cách viết với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện ngắn, tiểu thuyết,
truyện vừa, kịch…, tất cả đều đọng lại những dấu ấn nhất định. Nhưng đóng
góp đáng kể nhất vẫn là mảng văn xuôi, nhất là trên lĩnh vực truyện ngắn. Với
những đóng góp quan trọng của mình cho mảng văn xuôi nói chung cũng như
truyện ngắn nói riêng, Đức Ban được đánh giá, ghi nhận và xem là nhà văn
tiêu biểu nhất của Hà Tĩnh trong vòng ba chục năm lại đây. Bút lực dồi dào,
vốn sống, vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc cộng với niềm đam mê, tâm huyết
và đặc biệt là sự lao động thực sự nghiêm túc, cẩn trọng với nghề văn chương
chữ nghĩa đã tạo nên những thành công đã được ghi nhận của ông.
Tuy nhiên, cho đến nay có thể thấy chưa có những bài viết mang tính
nghiên cứu về truyện ngắn của Đức Ban. Đa phần các ý kiến mới chỉ dừng lại
ở những cảm nhận sơ lược, bước đầu về tác giả, tác phẩm với công chúng.
Bên cạnh đó, với một vài cuốn sách và các bài viết được đăng tải trên các tờ
báo mạng hoặc các tờ báo không chuyên cũng phần nào cho thấy đích hướng
tới, khác nhau của người viết. Trong khi đó, như đã nói ở trên, với những gì

Để giải quyết nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương
pháp, như: Khảo sát, thống kê; Phân tích tổng hợp; Cấu trúc - hệ thống; So
sánh đối chiếu.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Truyện ngắn Đức Ban trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam
sau 1975
Chương 2. Cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn Đức Ban
12


Chương 3. Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Đức Ban
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1
TRUYỆN NGẮN ĐỨC BAN
TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
1.1. Một cái nhìn khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975
1.1.1. Về đội ngũ
Sau năm 1975, đất nước chuyển đổi trên nhiều phương diện, trong đó
có cả đời sống văn hoá và tư tưởng. Văn học đã có sự cựa mình thay đổi sau
chiến tranh, nhất là sau sự ra đời Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng,
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị và đặc biệt là cuộc gặp mặt lịch sử của Tổng
Bí thư Nguyễn Văn Linh vào tháng 10 năm 1987 với các đại diện giới văn,
nghệ sỹ. Luồng gió mới đã thực sự “cởi trói”, tạo ra động lực lớn, kích thích
sự hăng say lao động, sáng tạo của các văn nghệ sỹ và bước đầu mang lại
những kết quả khá rõ nét. Bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết, thơ, ký,
kịch…, truyện ngắn thời ky này đã phát triển rực rỡ, và trở thành một thể loại
tiêu biểu của văn học sau 1975 - nó được xem như là một “cú hích” mạnh mẽ
và khả quan, tạo nên một phản ứng dây chuyền có tác dụng “kích nổ” cho

triển và hội nhập của văn học Việt Nam sau 1975. Theo thống kê của Bùi Việt
Thắng, kể từ thời ky đổi mới (1986) đến nay có tới 75% người viết truyện
ngắn là nữ. Vì thế, đã có người xem đây là thời ky “âm thịnh, dương suy” của
truyện ngắn Việt Nam. Trong số đó nổi lên một số tên tuổi, như: Phạm Thị
Hoài, Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Dạ Ngân, Trần Thuy Mai,
14


Nguyễn thị thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thuỷ, Võ thị Xuân Hà,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Nhiều sáng tác của họ đạt giải “thủ
khoa”, “á khoa” như: Hậu Thiên Đường của Nguyễn Thị Thu Huệ, Bức thư
gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban, Người sót lại rừng cười của Võ thị Hảo, Thị trấn
hoa quỳ vàng của Trần Thuy Mai, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Cánh đồng
bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… Nhìn chung các nhà văn nữ có lúc đã vắt kiệt
sức mình để dâng hiến cái đẹp cho đời, nhưng để thực sự quyên mình, “hi
sinh” cho nghề nghiệp thì chưa có, do vậy danh hiệu viết truyện ngắn xuất sắc
nhất sau 1975 vẫn được trao tặng cho những cây viết nam, mà tiêu biểu là
Nguyễn Huy Thiệp với những đổi mới, cách tân mang tính đột phá về thể loại
truyện ngắn.
Có thể thấy, dù chỉ mới trong khoảng thời gian hơn 30 năm sau chiến
tranh (1975) nhưng văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng đã có những
phát triển đáng kể trên nhiều phương diện. Sự phát triển này không chỉ ở chỗ
ngày càng xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn với hàng loạt tác phẩm
mới ra đời, mà cái quan trọng hơn trong sự phát triển của văn xuôi đã được
ghi nhận trên các bình diện như: đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người,
đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và phương thức thể hiện… Tất cả
những kết quả này không chỉ là luận chứng chứng tỏ bước phát triển của văn
xuôi sau 1975, mà còn là cơ sở, tiền đề để xem văn xuôi sau 1975 với tư cách
là một giai đoạn phát triển độc lập trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam
hiện đại. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 là một hiện tượng đang phát triển.

ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng tốt hơn. Bởi nó không dừng lại ở trực giác mà
đi sâu vào tâm lý, tiềm thức”[18]. Điều này cho thấy, đã có sự đổi mới quan
niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới hệ đề tài và
phương thức thể hiện… ở các nhà văn. Ngay tên gọi của tác phẩm đã phần
nào thể hiện điều đó. Nếu trước đây Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng
thì bây giờ là Thời xa vắng; Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là
Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú; nếu Nguyễn
Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Chị Nhung…. thì
bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ ràng trước một hiện thực mới, một
công chúng mới không cho phép nhà văn viết như cũ, sự đổi mới của các nhà
văn do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ.
16


Một trong những đề tài nổi bật được nhiều thế hệ các nhà văn khai thác
sau 1975 đến nay đó là đề tài đạo đức. Điều này cũng dễ hiểu, vì sau 1975,
cuộc sống hòa bình bắt đầu với bao vấn đề mới mẻ, bức xúc thời hậu chiến.
Đời sống chính trị không còn là đối tượng phản ánh duy nhất của văn xuôi,
của truyện ngắn đương đại. Từ việc chỉ ra “đổi mới là yêu cầu bức thiết của
sự nghiệp cách mạng” đến sự “khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo, và
yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và
phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”
(Nguyễn Đăng Mạnh), một hướng đi mới mở ra cho truyện ngắn đương đại.
Sự đổi mới đầu tiên có lẽ bắt đầu từ việc mở rộng phạm vi phản ánh hiện
thực. Từ một hiện thực chủ yếu được giới hạn trong đời sống chính trị xã hội,
truyện ngắn đương đại đã tìm đến một hiện thực rộng lớn hơn của đời sống
nhân sinh thế sự: “Hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ vốn dĩ
đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch
ngầm của đời sống” (Nguyễn Văn Long). Đó là nền tảng cho sự mở rộng đề
tài trong truyện ngắn thời đổi mới, trong đó, đề tài đạo đức xã hội là một đề

nhân bản toát ra từ tác phẩm của nhiều nhà văn. Sự tha hoá đạo đức của con
người diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống. Lúc xâm thực ào ạt, lúc nhấm
nháp dần mòn. Nó như một thứ vi trùng âm thầm, tinh vi len lỏi vào từng con
người, làm biến đổi nhân cách con người lúc nào không hay biết! Với tư cách
là người trong cuộc, Hồ Anh Thái hiểu đến từng chân tơ kẽ tóc cuộc sống
công chức, nên ông đã tái hiện rất chân thực các mảng tối, mảng khuất đằng
sau cái bề mặt hào nhoáng, lịch sự của thế giới trí thức công sở. Trong tác
phẩm Phòng khách, Hồ Anh Thái đã phơi bày lối sống thực dụng, hám danh
vọng, chạy theo vật chất của những kẻ hãnh tiến. Họ đã chen chúc cố lọt cho
được vào phòng khách của một vị quyền thế để giành cơ hội gặp giới ngoại
giao, hi vọng đến một nước để dự chiêu đãi quốc khánh tạo đà cho cả một
chuyến đi nước ngoài hoặc một cơ hội thăng tiến. Bên cạnh những dục vọng
sục sôi là lối sống ích kỉ, nhỏ nhen, đố kị, và nhiều khi dẫn đến sự độc ác, tàn
nhẫn trong việc đối xử lẫn nhau. Với cuộc sống nhàn nhã, tẻ nhạt trong văn
phòng khiến họ để ý, soi mói, ghen ghét, đố kị lẫn nhau. Họ ganh đua hơn
kém một cách kịch liệt dẫn đến kết cục bi thảm (Chim anh chim em). Họ thù

18


những kẻ ghét mình (Tự truyện). Họ nói xấu, bôi nhọ, hãm hại lẫn nhau
(Bóng ma trên hành lang).
Một khi, cuộc sống gia đình được đặt vào bối cảnh cụ thể, và chịu sự
tác động đa chiều của xã hội thì lối sống ích kỉ, buông thả theo những dục
vọng thấp hèn, đồng tiền trở thành lực vạn năng, bất chấp mọi nguyên tắc và
những chuẩn mực đạo đức, trong thực tế đã biến không ít những con người
trở thành bất nhân, bất nghĩa . Một khi con người đã đánh mất đi phần nhân
tính, thì chỉ còn là một động vật bình đẳng trước đồng loại. Đó là nỗi đau, là
niềm nhức nhối của lương tri mà Nguyễn Huy Thiệp gióng lên một hồi
chuông mang ý nghĩa cảnh báo trong truyện ngắn Tướng về hưu. Trong cơn

Bên cạnh mảng đề tài đạo đức xã hội thu hút khá nhiều nhà văn tham
gia, hay nói đúng hơn là một vấn đề nhạy cảm, có sự ảnh hưởng sâu rộng đến
mọi mặt của đời sống xã hội đã nảy sinh, phát sinh trong thời bình, mà các
nhà văn là những người có sứ mệnh dự báo, phê phán, lên án “sự lệch
chuẩn”, thì mảng đề tài đời tư, thế sự cũng phát triển mạnh và dần trở thành
chính yếu trong sáng tác văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng. Con
người bình thường, đời thường được chú ý và thể hiện sâu sắc với những số
phận bất hạnh, những thân phận bi kịch. Đấy là bi kịch của một thời con
người phải hy sinh “cái Tôi” cá nhân để vươn tới “cái Ta” tập thể một cách
giản đơn, cứng nhắc để rồi suốt đời thất bại. Đấy là bi kịch của những ân hận
xót xa, dằn vặt vì những lỗi lầm mà con người vô tình hay cố ý gây ra (Bức
tranh)… Có một khuynh hướng nổi lên rất rõ là sự nhận thức lại một thời. Dù
những “nhận thức lại” đó có chỗ chưa ổn, thậm chí có màu sắc “phủ định quá
khứ”, nhưng với cách nhìn đó hiện thực được đào sâu hơn, và cái quan trọng
là mang đến trong văn xuôi tính phân tích, tính triết luận cần thiết. Truyện
ngắn thế sự đã khơi đúng cái nguồn mạch sở trường của nó: đầy nếm trải, suy
tư, chiêm nghiệm, “giải phẫu” sự vật hiện tượng để đi đến cùng cái bản chất
của nó, và tác phẩm có ý nghĩa cảnh tỉnh và nhận thức rất sâu sắc, đáp ứng
được nhu cầu phân tích, lý giải suy tư về con người, xã hội của một thời đầy
biến động. Đấy là một bước phát triển quan trọng của văn xuôi phù hợp với
yêu cầu của hiện thực, của đối tượng phản ánh.
Cùng với đề tài đạo đức xã hội, đề tài đời tư thế sự, nhà văn đã không
ngần ngại khi đi vào những vùng khuất tối, gai góc của đời sống để khám phá,
20


phản ánh thế giới tinh thần đầy phức tạp và nhu cầu bản năng của con người,
đề cập đến những vấn đề bức xúc trong cuộc sống hiện đại... Với không khí
sôi nổi và dân chủ của văn học nước nhà thời kì đổi mới, văn xuôi viết về đề
tài lịch sử cũng có sự vận động, phát triển, đổi mới mạnh mẽ, thực sự gây ấn

1975, truyện ngắn đã có những thay đổi quan trọng.
Giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hầu như đều thống nhất sau
1975, truyện ngắn là thể loại gặt hái nhiều thành công, “được mùa thể loại”.
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tiếp theo “những vụ được mùa của truyện
ngắn, đây có thể coi là giai đoạn có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt
Nam” [58, tr. 174]. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình “Truyện
ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại” cũng khẳng định sự thành
công của truyện ngắn sau 1975: “...truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số
lượng và chất lượng”, “truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành
của công cuộc đổi mới” [82, tr. 201- 203]. Về cơ bản có thể thấy nổi rõ một
số hướng tìm tòi đổi mới sau :
1.1.3.1. Sự vận động ở dạng thức cấu trúc cốt truyện
Nhìn ở dạng thức cấu trúc cốt truyện, có lẽ đây là giai đoạn mà truyện
ngắn Việt Nam có dạng thức thể loại phong phú và đa dạng nhất so với từ
trước đến giờ. Có thể nói, luồng gió đổi mới đã tạo ra không khí sôi nổi chưa
từng có trong đời sống văn học với sự phát triển đột phá của các cá tính,
phong cách. Ở loại hình văn xuôi nghệ thuật, truyện ngắn, có lẽ là sân chơi
rộng rãi nhất để các cây bút thể nghiệm và trổ ra những tìm tòi, phát kiến mới.
Có khá nhiều những “tuyên ngôn mới” về văn chương được công bố, đi liền
với tuyên ngôn là những sáng tác mang tính kiểm chứng. Qua quan sát tìm
hiểu, chúng tôi nhận thấy một số dạng thức cốt truyện sau tiêu biểu thể hiện
sự tìm tòi đổi mới của truyện ngắn sau 1975.
Truyện cực ngắn, truyện ngắn, truyện siêu ngắn (truyện mi ni)
Truyện cực ngắn hay còn gọi là truyện ngắn mi ni là khái niệm để chỉ
những truyện ngắn dưới 1000 từ. Trên thế giới, dạng thức truyện ngắn mi ni
không còn quá mới mẻ. Từ những năm cuối của thế kỷ 19, đầu thế kỷ hai
mươi, Kapka đã viết những truyện ngắn dưới 500 từ. Truyện Làng gần nhất
nổi tiếng của ông dưới 100 từ. Một số truyện khác như Những thân cây, Về
những ẩn ngữ… chỉ khoảng 50 từ. Xu hướng viết truyện cực ngắn xuất hiện
22

này đôi khi lại là niềm mơ ước của kẻ khác. Song, ý nghĩa của câu chuyện
không chỉ có thế. Từ mâu thuẫn đằng sau tiếng cười là nước mắt, là thông
23


điệp đầy day dứt: xã hội vẫn còn nhiều những cảnh ngộ éo le như hoàn cảnh
của cu Tí; làm sao để mọi đứa trẻ đều được đến trường? làm sao để có một
nền giáo dục lý tưởng - ở nền giáo dục ấy mọi trẻ em đều được quan tâm
đúng như tinh thần của câu khẩu hiệu: “Hãy giành cho trẻ em những gì tốt
nhất”. Ở môi trường giáo dục ấy, mọi trẻ em đều tìm thấy niềm vui, hạnh
phúc, tình bạn, và niềm tin yêu vào cuộc đời. Hoặc giả, có thể còn thông điệp
khác, hãy bớt chút thời gian để quan sát cuộc sống của những người xung
quanh, ta sẽ nhìn ra mình rõ hơn, có cách sống hài hoà hơn, biết chia sẻ và
cảm thông với đồng loại.
Truyện trong truyện và truyện liên hoàn
Ngược lại với kiểu truyện mi ni, dạng thức truyện trong truyện và
truyện liên hoàn lại là hình thức kéo dài truyện, chuyện nọ kéo sang chuyện
kia hoặc gối lên nhau thành các lớp truyện hoặc chuỗi truyện nhiều khi khá
phức tạp. Tiêu biểu cho kiểu kết cấu cốt truyện này là Nguyễn Huy Thiệp.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất nhiều chi tiết, tình tiết. Mỗi nhân vật
trong tác phẩm có thể tạo ra một đường dây sự kiện riêng, một mạch truyện
riêng. Tác giả giống như người ưa la cà, và cũng là người tinh thông mọi
chuyện, vì vậy, hễ cần dừng lại để lý giải, cắt nghĩa thì dường như ngay lập
tức điều đó sẽ được làm sáng tỏ ngay. Trong truyện Tướng về hưu người đọc
thấy có một loạt mạch truyện về các nhân vật có tên trong tác phẩm: Chuyện
về tướng Thuấn, liên quan đến nhân vật chính này là chuyện về vợ tướng, con
trai của tướng, cô con dâu, hai bố con người giúp việc, ông em họ xa, cô cháu
họ xa, thậm chí một kẻ tạt ngang câu chuyện như một vết nhơ như nhân vật
Khổng ở xí nghiệp nước mắm - nhà thơ cũng được tác giả “trích ngang” mấy
dòng đủ để hình dung về loại thi sĩ nửa mùa kém cỏi về nhân cách. Truyện

của truyện. Như vậy, khi “cài” các đường dây sự kiện xung quanh sự kiện,
tình huống chính, tác giả đã mở rộng phạm vi tiếp cận và phản ánh hiện thực.
Kiểu truyện lồng trong truyện thể hiện cách nhìn vừa bao quát song cũng thật
cụ thể, một cái nhìn đa diện, đa chiều về cuộc sống và con người.
Truyện giả thể loại: giả ngụ ngôn, giả cổ tích, giả truyền thuyết, truyện
truyền kỳ…
Giả thể loại cũng là một xu hướng làm mới dạng thức của truyện ngắn
sau 1975. Các dạng thức như: ngụ ngôn, cổ tích, truyền thuyết, về mặt hình
25


Trích đoạn Nghệ thuật xây dựng nhân vật Giới thuyết khái niệm Vai trò của ngôn ngữ trong truyện ngắn Đặc điểm của ngôn ngữ truyện ngắn Đức Ban Giọng điệu và vai trò của giọng điệu trong truyện ngắn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status