Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng - Pdf 27

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Tô Hoài được đánh giá là một
cây đại thụ. Ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 1996. Nhà phê
bình Vương Trí Nhàn đã nhận xét : “So với các cây bút đương thời, Tô Hoài
có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu viết đến
đấy. Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày”. Giáo sư Hà
Minh Đức cho rằng “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”.
Quả thật, Tô Hoài đã miệt mài sáng tác 70 năm nay và đã cho ra đời 160 đầu
sách. Ông thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, truyện
đồng thoại, tiểu thuyết, kịch, hồi kí, chân dung văn học. Nghiên cứu nghệ
thuật văn chương Tô Hoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơn những
đóng góp của ông với nền văn học nước nhà.
Tô Hoài nổi tiếng với những tác phẩm như truyện dài Dế Mèn phiêu lưu
kí, Quê người, Quê nhà, Đêm mưa, Xóm giếng, tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, Kẻ
cướp bến Bỏi, hồi kí Cát bụi chân ai, Tự truyện, tập truyện ngắn Tây Bắc...
Không chỉ thành công ở truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, ở thể loại
truyện ngắn ngay từ ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình một
phong cách riêng. Truyện ngắn của ông hấp dẫn người đọc ở mọi lứa tuổi
với lời kể chuyện hóm hỉnh, tài quan sát và miêu tả, cách thể hiện nhân vật
sinh động. Chuyện về một làng quê làm nghề dệt cửi với biết bao lo toan,
xuôi ngược mà cuộc sống vẫn vất vả bộn bề đã để lại nhiều cảm xúc trong
lòng người đọc.
Ngày nay, truyện ngắn vẫn là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trong
đời sống văn học. Nó có sức phát triển bền bỉ qua năm tháng. Vì cuộc sống
công nghiệp bận rộn, gấp gáp, nhiều người yêu văn đã tìm đọc truyện ngắn. Họ
vẫn thấy ở truyện ngắn những bài học cuộc sống, những tâm tình về số phận
1
con người, cả định hướng tương lai. Các nhà văn tâm huyết với nghề cũng
đang lao động không ngừng để tìm hướng phát triển mới của truyện ngắn.
Với đề tài “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách

quê”... chị gà mái “là một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực đa
tình, mà khi vướng vào cái bổn phận dạy dỗ nuôi nấng con trẻ lại đáng nên
một bậc mẹ hiền gương mẫu.” [31, tr 64-65]
Khi nghiên cứu về Tô Hoài, Phan Cự Đệ nhận xét: “Tô Hoài có một
khả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh, hóm hỉnh và tinh tế. Khả năng
này giúp anh thành công khi miêu tả những hiện tượng bên ngoài, dễ trực
tiếp quan sát và cảm thụ; cảnh vật thiên nhiên, sinh hoạt hằng ngày, phong
tục lễ nghi, thế giới loài vật, vv... nhưng khả năng này rõ ràng là không đủ
khi nói về đời sống tâm lí bên trong, biện chứng tâm hồn, những quy lật bản
chất xã hội. Mặt khác, giống như một số nhà văn hiện thực phê phán chuyển
mình sang phương pháp hiện thực chủ nghĩa, Tô Hoài miêu tả khá thành
công các quan hệ gia đình, làng xóm, bạn bè, trai gái...”[31, tr 101]
Năm 2006, Mai Thị Nhung cho ra đời cuốn sách Phong cách nghệ
thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài trên tạp chí
văn học. Trong đó, tác giả cũng đã thu thập rất nhiều ý kiến về nghệ thuật
viết văn Tô Hoài [38, tr 8, 9,10].
Phan Cự Đệ nhận thấy “Tô Hoài có khả năng quan sát đặc biệt, rất
thông minh, hóm hỉnh và tinh tế”. Nguyễn Đăng Mạnh cũng đồng quan
điểm “Nhà văn có khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa”. Hà
Minh Đức trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài khẳng định: “Tô Hoài có
một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan”. Trần
Hữu Tá chỉ rõ năng lực đặc biệt của Tô Hoài chính là “nhãn quan phong tục
đặc biệt nhạy bén sắc sảo”. Nguyễn Văn Long nhấn mạnh: “Ở Tô Hoài, cảm
quan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và phong tục”. Vương Trí Nhàn quả
3
quyết: “Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt”.
Nguyễn Đăng Điệp khái quát: “Cái nhìn không nghiêm trọng hóa là nét trội
trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài”. Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Mạnh
trong bài viết Tô Hoài với quan niệm “con người là con người”, tác giả khẳng
định: “Tô Hoài quan niệm con người là con người, chỉ là con người, thế thôi”.

chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có tính hệ
thống. Chính vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn của mình là
“Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng”.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng
Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
2. Phạm vi
Tuyển tập Tô Hoài, nhà xuất bản Văn học năm 1987, do giáo sư Hà
Minh Đức sưu tầm, tuyển chọn gồm 26 truyện ngắn.
1. Nhà nghèo 14. Ông dỗi
2. Lụa 15. Vàng phai
3. Một đêm gác rừng 16. Buổi chiều trong nhà
4. Chớp bể mưa nguồn 17. Khách nợ
5. Lá thư tình đầu tiên 18. Ông giăng không biết nói
6. Đi tắm đêm 19. Vợ chồng trẻ con
7. Hết một buổi chiều 20. Người đàn bà có mang
8. Một chuyến định đi xa 21. Dấy binh lấy lau làm cờ
9. Một người đi xa về 22. Con gà trống ri
10. Bóng đè 23. Đôi ri đá
11. Nhà có ma 24. Một cuộc bể dâu
12. Mùa ăn chơi 25. O chuột
13. Giữa thành phố 26. Gã chuột bạch
IV. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
1. Nhiệm vụ
Với đề tài nghiên cứu như trên, chúng tôi mong muốn:
5
+ Tìm ra những đặc điểm nổi bật về truyện ngắn của Tô Hoài trước
Cách mạng.
+ Đánh giá được những đóng góp của ông trong sự nghiệp văn chương
của dân tộc và đặc biệt là mảng truyện ngắn trước Cách mạng.

trong các bộ sử, lối văn ghi chép sử ít có tính văn học. Truyện có lối kể
chính xác, khách quan, lời văn ngắn gọn đơn giản, ít miêu tả tâm lí của nhân
vật, mang tính ước lệ tượng trưng. Truỵên ngắn trung đại là bước mở đầu,
đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
Nhà văn Vũ Tú Nam cho rằng: “Truyện ngắn ở nước ta đã có từ lâu. Đó là
các ký cổ, truyện cổ tích…Học trong các truyện ngắn cổ như Truyền kì mạn
lục của Nguyễn Dữ, Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông… Những
truyện này đáng được học tập với thái độ trân trọng vì nó rất sinh động, súc
tích và sáng tạo. Truyện ngắn của ta nặng nề về kể và thường rất ngắn gọn,
độc đáo” [ 50, tr 63]
Bước sang thế kỉ XX, chữ quốc ngữ bắt đầu thể hiện ưu thế trong việc
mở rộng công chúng văn học. Với kĩ thuật in ấn, báo chí ngày càng phát
triển đã giúp cho các tác phẩm đến với công chúng dễ dàng và rộng lớn hơn,
chứ không bị bó hẹp như trước. Thể loại truyện ngắn đã có nhiều thay đổi
7
đáng kể. Bước đầu, truyện ngắn Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của văn học
dân gian, văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc nhưng với sự xâm
nhập mạnh mẽ của văn hoá phương Tây, truyện ngắn thời kì này đã có màu
sắc mới. Truyện ngắn dân tộc đã dần dần chuyển mình hoà vào xu thế chung
của thời đại, vào quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà, vượt qua
những ảnh hưởng và hạn chế của các thế kỉ trước đó.
Sự ra đời của truyện ngắn hiện đại Việt Nam được đánh dấu bằng tác
phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887). Đây là
truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ Quốc ngữ, khởi đầu cho hàng loạt
truyện ngắn bằng chữ quốc ngữ ở giai đoạn tiếp theo. Truyện đã đưa đến
nhiều cái mới mẻ cho công chúng. Truyện được kể ngắn gọn, sáng rõ, cốt
truyện, tình tiết, chi tiết không quá phức tạp về một chuyện tình tay ba (thầy
Phiền, vợ và bạn thân). Tác phẩm được viết theo lối kể chuyện ở ngôi thứ
nhất, kết cấu theo quy luật tâm lí chứ không theo trình tự thời gian, kết thúc
bằng bi kịch của nhân vật chứ không phải kết thúc có hậu như những câu

của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói…Phương pháp sáng tác của
Nguyễn Ái Quốc được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đức Nam, Hà Minh
Đức… khẳng định đó là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đánh giá
về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc nửa đầu những năm hai mươi, Phan Cự Đệ
viết: “Đó là những truyện ngắn cô đọng, vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có
sức khái quát lớn. Đó là những truyện được kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi
thứ ba sử dụng ngôn ngữ trần thuật của người kể chuyện, có khi sử dụng
ngôn ngữ đa thanh nhiều nhân vật (bình phẩm về Va-ren). Đó là những
truyện ngắn tính cách, những truyện có cốt truyện căng thẳng giàu kịch tính
và những truyện có màu sắc luận đề”[6, tr 281].
Khuynh hướng hiện thực có Phạm Duy Tốn và Nguyễn Công Hoan.
Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn kể về nỗi khổ của những
9
người dân và cảnh ăn chơi sa đoạ của tên quan hộ đê. Phạm Duy Tốn cũng
sử dụng nghệ thuật đối lập, tăng cấp kiểu như Ván bài bi-a của nhà văn Pháp
Alphonse Daudet để tố cáo sự vô trách nhiệm của quan lại thời bấy giờ,
đồng thời bộc lộ sự cảm thông trước nỗi thống khổ của nhân dân.
So với thời kì trước đó, truyện ngắn những năm 1930-1945 phát triển
rực rỡ, phong phú hơn. Tư duy hệ tư sản dần dần thắng thế tư tưởng phong
kiến. Cái tôi được giải phóng, nhà văn phát huy sức sáng tạo của mình. Vì
vậy, thời kì này xuất hiện nhiều cây bút độc đáo. Hàng loạt các gương mặt
tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi
Hiển, Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Hồ
Dzếnh, Đỗ Tốn… Các khuynh hướng văn học ngày càng phân hoá rõ rệt và
đấu tranh, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Đỗ Tốn, Nguyễn Tuân tiêu biểu
cho phong cách lãng mạn trữ tình.
Thạch Lam viết truyện với nghệ thuật tinh tế nhất là việc sử dụng tương
phản và hài hoà giữa các âm thanh và các vùng ánh sáng. Câu chuyện để lại
trong tâm hồn người đọc những dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảm

phán. Ông được coi là lá cờ đầu của văn học hiện thực phê phá những năm
1930-1945. Nguyễn Công Hoan viết về những câu chuyện về con người và
xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với một lối kể chuyện hóm hỉnh hài hước có
tính chất châm biếm. Ông đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân. Những
mảng đề tài xã hội trước đây, Nguyễn Công Hoan nhanh chóng chuyển sang
đề tài phản ánh các sự kiện chính trị thời cuộc. Những truyện ngắn của ông
tiểu biểu cho một thứ văn vui, thứ văn mà có lẽ từ khi nước Việt Nam có
tiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông mà thôi.
Những tác phẩm đầu tay của ông lấy từ đề tài những điều mắt thấy tai nghe
11
như Kiếp hồng nhan, Sóng vũ môn, Cụ đồ Ba, Cô hàng nước. Trần ai tri kỷ…
Thái độ căm ghét bọn quan tân học, luyến tiếc những nhà Nho cũ được thể
hiện qua Sóng vũ môn, cảm tình với những người ăn ở chung thuỷ nhân hậu
được thể hiện qua Cô hàng nước, Trần ai tri kỉ. Có truyện giàu yếu tố hiên
thực, tiến bộ [Sóng vũ môn], có truyện còn yếu tố lãng mạn, bảo thủ [Kiếp
hồng nhan]. Nguyễn Công Hoan khai thác đề tài từ tin tức thời sự hàng
ngày, hoặc mô tả những việt thật mà ông mắt thấy tai nghe như Oằn tà roằn,
Thật là phúc, Lập Gioòng, Răng chó của nhà tư sản, Hai thằng khốn nạn…
Chất hiện thực thấm đẫm trong tác phẩm của ông. Chủ đề tập trung công
kích bọn quan lại, địa chủ, tư sản những xấu xa của xã hội thực dân nửa
phong kiến. Truyện có nhiều chi tiết sinh động, hấp dẫn, tạo nên tiếng cười
châm biếm đả kích vào tầng lớp thị dân và nhiều kết thúc bất ngờ ảnh hưởng
truyện dân gian.
Nam Cao góp phần quan trọng trong quá trình hiện đại hoá văn học
với kiểu kết cấu tâm lí, sử dụng một thứ ngôn ngữ đa thanh, giàu chất tạo
hình. Nam Cao quan tâm đến những người nông dân bị xã hội thực dân nửa
phong kiến đẩy vào con đường bần cùng hoá, lưu manh hoá. Chí Phèo trong
tác phẩm cùng tên đã để lại nhiều nhức nhối trong lòng người đọc. Một anh
Chí nông dân, hiền lành, chân chất bị Bá Kiến, một tên lí trưởng của làng
Vũ Đại vì ghen tuông đã đẩy vào con đường tù tội. Nhà tù thực dân đã tha

chiều dài cuộc đời bi thảm của nhân vật.
Có thể nói, truyện ngắn Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng
tháng Tám đã dần dần khẳng định được vị trí riêng của mình trên con đường
hiện đại hoá văn học nước nhà. Nhiều cây bút, nhiều phong cách mới lạ.
Những tác phẩm văn chương không dừng ở nói chuyện đạo lí, lịch sử mang
trong mình hơi thở của cuộc sống. Những câu văn dài ngắn hết sức linh
hoạt, giống như lời ăn tiếng nói của nhân dân không bị gò bó như những câu
13
văn biền ngẫu trong truỵên ngắn thời trung đại. Nhân vật và chi tiết trong tác
phẩm cũng đời thường không khuôn sáo, ước lệ như trước. Đặc biệt các nhà
văn bộc lộ cái tôi của mình một cách độc đáo rõ nét. Vì vậy, mỗi tác phẩm là
một cá tính sáng tạo riêng, một cách cảm nhận riêng về cuộc sống. Trong số
những tác giả viết truyện ngắn có tên tuổi thời kì này, Tô Hoài được coi là
môt cây bút xuất sắc, đóng góp không nhỏ cho sự thành công của truyện
ngắn nước nhà.
1.2. Sự nghiệp sáng tác văn chương Tô Hoài
1.2.1. Quan niệm của Tô Hoài về văn chương nghệ thuật
Tô Hoài sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Sen. Ngoài tên thật khi
viết báo, ông còn dùng những bút danh khác như: Mắt biển, Mai Trang, Duy
Phương... Quê nội ông ở thị trấn Kim Bài huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây
nhưng nhà văn lại sinh ra và lớn lên và rất gắn bó với quê ngoại ở làng
Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông Cũ (nay là phường Nghĩa Đô quận
Cầu Giấy, Hà Nội. Cái tên Tô Hoài đã trở nên gần gũi với bạn đọc suốt 70
năm qua.
Sớm đến với văn chương, ban đầu Tô Hoài cũng chịu ảnh hưởng của
xu hướng sáng tác lãng mạn đương thời, cây bút trẻ ấy cũng bắt đầu sự
nghiệp bằng những bài thơ lãng mạn, nhưng sau này ông chuyển hướng.
Trong Tự truyện, Tô Hoài tâm sự: “Chưa bao giờ tôi bắt chước theo truyện
của Khái Hưng, mặc dầu tôi thích đọc những truyện ấy. Bởi lẽ giản dị: viết
truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết

Nhưng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất”[37, tr 17].
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Truyện ngắn mang rất rõ cái chất của
người viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột… Truyện ngắn vốn có
nhiều vẻ” [37, tr 27].
15
Nguyễn Công Hoan thì chú ý nhiều hơn đến việc xây dựng truyện
ngắn. Theo ông, “Truyện ngắn không phải là truyện mà là vấn đề được xây
dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu
dùng tiếng có cân nhắc… Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một
trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện” [50, tr 25]
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán đã nhận định
về truyện ngắn như sau: “Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng
văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội.
Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện
ngắn thích hợp với người tiếp nhận đọc nó liền mạch không nghỉ… Cốt truyện
của truỵên ngắn thường diễn ra trong không gian hạn chế, chức năng của nó
nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người. Kết
cấu của truyện ngắn không phân chia thành nhiều tầng bậc mà thường xây
dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp tường thuật của
truyện ngắn thường là chấm phá. Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện
ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều
ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết”[18, tr 134,135].
Là người có sở trường viết truyện ngắn, ông đã có những quan điểm
rõ ràng nhất quán về thể loại này trong suốt cuộc đời hoạt động văn chương
của mình.
Trong Sổ tay viết truyện ngắn, ông đã từng bày tỏ niềm say mê của
mình với truyện ngắn: “Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng tìm đọc truyện
ngắn bởi nó là thể loại có tính chiến đấu mạnh mẽ”. Tô Hoài còn quan niệm
truyện ngắn là “cưa lấy một khúc đời sống” nhưng không thể vì ngắn gọn
mà làm mất đi “chất khoẻ khoắn của đời sống” [22, tr 8]. Ông đã hiểu được

Năm 1941, ông viết Dế Mèn phiêu lưu kí để lại một tiếng vang lớn trên văn
đàn Việt Nam cho đến tận bây giờ. Tác phẩm này được giới phê bình trong
17
nước và ngoài nước đánh giá rất cao tiêu biểu là Gô-lôp-nep, Xô-lô-khin
(1963), Trần Đăng Xuyền (1984), Nguyễn Lộc, Đỗ Quang Lưu (1990). Họ
cho rằng tác phẩm đã thể hiện tài “quan sát, nghiên cứu tỉ mỉ thế giới sinh
vật nhỏ bé của nhà văn [31, tr 454].
Từ đó cho đến nay,Tô Hoài đã hơn bảy mươi năm lao động miệt mài
không nghỉ. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ, hơn
160 đầu sách đã xuất bản. Nhiều tác phẩm của Tô Hoài đã được dịch ra các
tiếng nước ngoài như Nga, Trung Quốc, Pháp, Ba Lan, Séc, Đức, Bungari,
Cu Ba, Mông Cổ, Nhật Bản… Một số tác phẩm được đạt giải như Truyện Tây
Bắc, giải nhất tiểu thuyết của Hội văn nghệ Việt Nam, năm 1956. Miền Tây,
giải thưởng Hội nhà văn Á-Phi, năm 1970. Quê nhà, giải A giải thưởng Hội
văn nghệ Hà Nội, năm 1980. Ông còn đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1
năm 1996.
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt con số kỷ lục
trong sự nghiệp sáng tác của mình. Ông đã trải qua những mốc lịch sử và
văn học đặc biệt: trước và sau Cách mạng tháng Tám; trong chiến tranh và
trong hòa bình; trước và sau thời kỳ đổi mới văn học. Sáng tác của Tô Hoài
đa dạng về đề tài và thể loại: từ đề tài miền ngược đến đề tài miền xuôi; từ
truyện ngắn đến tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim. Ở đề tài
và thể loại nào, ông cũng ghi lại những dấu ấn riêng.
Là một trong những nhà văn thành công ở thể loại hồi kí, tự truyện,
Tô Hoài được người đọc biết đến qua những tác phẩm Cỏ dại, Tự truyện,
Cát bụi chân ai, Chiều chiều. Những tác phẩm này ghi lại những chặng
đường đời khác nhau của nhà văn. Cỏ dại ghi lại kí ức về một thời thơ dại
với những kỉ niệm buồn trong những “ngày cũ buồn bã”. Tự truyện tái hiện
lại chặng đường thời niên thiếu từ lúc còn là học sinh lớp nhất trường Yên
Phụ cho đến khi phải nghỉ học, lang thang khắp đất Kẻ Chợ đến cảng Hải

19
phẩm nổi tiếng của ông đựơc người đọc nhắc đến nhiều nhất là Quê người,
Mười năm, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần.
Ở Quê người, Vũ Ngọc Phan nhận thấy Tô Hoài là “một nhà tiểu thuyết có
con mắt quan sát sâu sắc. Những tính tình u ẩn phô diễn ra ở những cử chỉ
rất nhỏ của người dân quê, những thói hủ bại, những ngôn ngữ kỳ quặc của
người dân quê và cả những cách sống cùng cực rất đáng thương của người
dân quê, ông đều cặn kẽ” [31, tr 53]. Dưới ngòi bút tả chân của Tô Hoài,
ngoài những cảnh làm lụng chật vật của người dân quê, người ta thấy rất
nhiều thói tục có thể là những tài liệu chân thực cho những nhà xã hội học
muốn khảo sát về phong tục.
Tô Hoài để lại dấu ấn đặc biệt ở thể loại truyện ngắn. Thực sự ông đã
trở thành cây bút truyện ngắn độc đáo, hấp dẫn.
Trước năm 1945 là truyện ngắn gồm các tập truyện về loài vật và truyện
ngắn về cảnh và người ở một vùng quê ven đô, nơi tác giả sinh sống suốt đời
cho đến ngày hôm nay. O chuột (1943, nhà xuất bản Tân dân) là cả một tập
truyện gồm 8 truyện về loài vật, lấy tên O chuột để gọi chung. Vũ Ngọc Phan
viết “Tô Hoài tỏ ra không giống một nhà văn nào trước ông và không giống
một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông. Truyện của ông có tính
chất nửa tâm lý, nửa triết lý mà các vai lại là loài vật... O chuột là truyện
ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho lối văn đặc biệt
của ông, một lối văn viết dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị và màu sắc
thôn quê. Cái tinh ma và cái xác thực có lẽ gặp nhau ở chỗ này” [31, tr 63].
Nhà nghèo ( là một tập truyện ngắn viết về nông thôn. Tô Hoài
thường nhìn nông thôn thiên về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh, sắc
sảo. Có lẽ đây là chỗ hấp dẫn đặc biệt của ngòi bút Tô Hoài: ông nói về tục
tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), tục đòi nợ (Khách nợ), tục cúng bái mê tín, cả
đến “tục” vợ chồng cãi nhau, làng xóm nhiếc móc nhau (Nhà nghèo, Mẹ
già...).
20

ít người ở những triền núi Cứu quốc, căn cứ địa cách mạng. “Núi cứu quốc
tuy nghệ thuật còn đơn giản nhưng có thể đem lại cho ta một hình ảnh tương
đối đúng về đồng bào miền núi, khác hẳn những truyện đường rừng tượng
tượng của một số nhà văn lãng mạn hồi xưa… Tác phẩm cho ta hiểu con
người miền núi đúng với bản chất của họ là những con người thật thà, chất
phác, chung thuỷ, có một lòng tin mãnh liệt ở cách mạng. Tác giả đặc biệt
nhấn mạnh lòng trung thành với cách mạng của những con người miền núi
khi họ đã giác ngộ.” [32, tr 71]. Tập truyện Tây Bắc, nhà văn Bùi Hiển nhận
xét về nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài trong Vợ chồng A Phủ là “thiên về
thị giác, một thứ thị giác tinh nhạy, đầy màu sắc và ấn tượng, cảm xúc, nói
rộng ra hơn nữa là thiên về cảm giác, về cảm nhận trực quan cụ thể, về biểu
hiện các sắc thái tình cảm gần gũi, thầm kín” [32, tr 103]
Tiểu kết
Có thể nói, Tô Hoài là một cây đại thụ trong nền văn học hiện đại Việt
Nam. Ông đã dành trọn cụôc đời cống hiến cho sự nghiệp văn chương. Tô
Hoài đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ khiến người đọc vô cùng cảm
phục. Ở mảng đề tài nào, thể loại nào, nhà văn cũng có con đường đi riêng,
tạo nên được phong cách độc đáo. Trong đó, đặc biệt là thể loại truyện ngắn,
Tô Hoài đã ghi lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. So với truỵên
ngắn trước Cách mạng, truyện ngắn sau Cách mạng của Tô Hoài có mở rộng
hơn về phạm vi đề tài và nhận thức của một người cầm bút cách mạng đặc
biệt. Tuy nhiên, truỵên ngắn được viết trước Cách mạng tháng Tám cũng có
một phong vị riêng, đánh dấu những thành công trong cuộc đời sáng tác của
nhà văn Tô Hoài, giúp ông khẳng định được vị trí của mình trong nền văn
học Việt Nam, là một trong số những cây bút hàng đầu bên cạnh các tên tuổi
như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam…
22
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC CÁCH MẠNG

người nông dân, người thợ thủ công, những người trí thức sống ở làng
Nghĩa Đô, ngay cả đến loài vật cũng hết sức bình thường, gần gũi trong
cuộc sống hàng ngày.
2.2.1. Nhân vật nông dân, thợ thủ công
Nhân vật chiếm đa số trong những trang truyện ngắn của Tô Hoài
trước Cách mạng là những người nông dân thợ thủ công. Họ là hình ảnh
người dân làng Nghĩa Đô, là người chính người thân trong gia đình Tô Hoài.
Không giống như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài viết về
người nông dân, người thợ thủ công, ông không đi vào những sự kiện quan
trọng, những tình huống gây bất ngờ, hay những cuộc đấu tranh giai cấp.
Dưới con mắt của Tô Hoài, những người nông dân, những người thợ thủ
công đều là con người bình thường, có suy nghĩ, tâm trạng vận động theo
quy luật đời thường. Có lẽ vì vậy, nhân vật của ông không phải là những con
người hành động kiên cường giống như chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất
Tố, những kẻ quá ngờ nghệch dốt nát như con mẹ nuôi trong Đồng hào có
ma của tác giả Nguyễn Công Hoan. Thực sự, nhân vật của Tô Hoài là những
con người đời thường. Họ phải chịu cảnh đói nghèo, thất nghiệp vì những
biến động của xã hội. Họ có mặt tốt mặt xấu, có những suy nghĩ hết sức vụn
vặt, những lo toan tính toán trong cuộc sống thường nhật.
Thời ấy, làng Nghĩa Đô, người dân sống chủ yếu bằng nghề dệt cửi,
sự sống loanh quanh buộc vào mấy khung cửi mọt. Xung quanh Tô Hoài là
cảnh sống khó khăn túng quẫn của gia đình, của làng xóm nghề dệt thủ công
dần dần phá sản. Tô Hoài đã ghi lại cảnh gia đình trong Tự truyện. Những
24
ngày chợ phiên hàng ế hàng, không khí gia đình càng trở nên nặng nề: “Nhà
tôi, ngày chợ không sinh chuyện này thì chuyện khác. Hàng ít lại xấu, không
đều, không ai mua. Thế là xảy ra xô xát giữa bà ngoại tôi và các dì tôi. Ông
ngoại tôi ngồi uống rượu. Cuối cùng, bao giờ ông tôi cũng vác gậy đuổi
đánh tất cả. Mọi người chạy toán loạn đêm mới về (...) Sáng hôm sau, lại
vẫn cãi vã, làm ầm cả xóm”...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status