MỤC LỤC
Chương 1: Truyền kì mạn lục - áng thiên cổ hùng văn của văn học Trung đại Việt
Nam 7
1.1.Nguyễn Dữ - con người và thời đại 7
!"#$%&'#(
Chương 2: Nội dung và giá trị nội dung của Truyền kỳ mạn lục 19
)'*$+$," /0$10234
)30516 7$89:+4
))%;$-603*$3))
<))'=/>?>$1$@$-65$AB?C@$-6+$<D
EF5=$=/,1$5-6$G$H$3IJ#H#,1=/?+
+*$59K, $AL$M$NO$>,PQR0C5@$-H
5$ABNS$,PQR0C5T,UC-H$"#VWX@V
?Y;1: +,# Z:[#L?R'*$C$>[,
*$ 1$ -H$ #,?>$$ 1$MU#\# [,QR$"$ZS$L$-6$,7
5M$,+7?]?=$=$,U;FR^$ #$" B<D
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………56
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam trải qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển, ngày
càng được định hình một cách rõ nét về mặt nội dung lẫn nghệ thuật. Qua các thời
kỳ văn học, nền văn học ngày càng phong phú hơn về mặt thể loại, lẫn nội dung
cũng đã được thay đổi để phù hợp hơn với thời đại. Có thể nói rằng, mỗi thời kỳ
văn học đều để lại những dấu ấn rất riêng trong tiến trình văn học nước nhà. Trong
đó văn học trung đại được coi là đặt nền tảng cho sự phát triển của văn học đến
ngày hôm nay, với nhiều thể loại như thơ, phú, văn tế, hát nói, ngâm khúc đã tạo
ra nhiều màu sắc cho thời kỳ văn học thời bấy giờ, cũng như là bước dạo đầu cho
nhiều thể loại mới ra đời và phát triển sau này.
Văn học Việt nam thời trung đại, do được tiếp thu những tinh hoa của văn
chương Trung Quốc, cộng với những sáng tạo độc đáo của riêng mình nên đã tạo
Hà Thiện Hán trong lời Tựa Truyền kỳ mạn lục viết năm Vĩnh Định sơ niên
(1547): "Xem văn từ của sách thấy không ra ngoài phên dậu của Tông Cát nhưng
có ý khuyên răn, có ý nêu quy cũ phép tắc, đối với việc giáo hoá ở đời, há có phải
bổ khuyết nhỏ đâu!".
Lê Quý Đôn trong Nghệ văn chí phần Truyền kỳ ở Đại Việt thông sử
viết:"… trứ tác Truyền kỳ mạn lục gồm bốn quyển, văn từ trong sáng, mỹ lệ, được
người đương thời ngợi khen".
Phan Huy Chú trong "Lịch triều hiến chương loại chí" viết: "Sách Truyền kỳ
mạn lục bốn quyển, do dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại lược bắt chước cuốn Tiễn đăng
tập của nhà nho đời Nguyên".
Trong Tạp chí Văn học, số 10-2000, Đinh Phan Cẩm Vân trong bài Cái kỳ
trong tiểu thuyết truyền kỳ đã nhận định: “Nhìn chung yếu tố “kỳ” tạo nên sức hấp
dẫn bề nổi cho câu chuyện và truyền kỳ như được khoác một cái áo sặc sỡ, bắt mắt,
nhưng đó là cái áo trong tay nhà ảo thuật. Biểu hiện của cái kỳ còn ở tầng sâu hơn
chi phối tư duy nghệ thuật tác giả. Nó xử lý những yếu tố không gian, thời gian,
cách xây dựng hình tượng nhân vật theo một con đường riêng, nhuốm màu sắc hư
ảo, thần kỳ làm nên cái đẹp nội tại cho truyền kỳ”. Nguyễn Dữ “thường sử dụng
song song hai đơn vị thời gian: thời gian xác thực và thời gian hư ảo. Thời gian
trần thế là thời gian xác thực còn thời gian nơi cõi tiên, cõi mộng là thời gian hư
ảo”. Đây là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
Về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục, Bùi Văn Nguyên đã
khẳng định sự ảnh hưởng tiếp thu nền văn học dân gian trong sáng tác của Nguyễn
Dữ. Ông cho rằng, Nguyễn Dữ từ truyện dân gian đã tiếp thu và sáng tạo có chọn
lọc những yếu tố hoang đường, thần kỳ ấy vào tác phẩm của mình. Thần, tiên, quỷ,
ma quái… Xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Dữ vừa tỏ ra rất gần gũi với
những hình ảnh dân gian tưởng tượng nhưng lại rất khác biệt bởi bàn tay nhào nặn
của người nghệ sỹ này. Tuy nhiên, sáng tạo của Nguyễn Dữ đã thực sự vươn tới
những đỉnh cao về phản ánh hiện thực, phản ánh con người trần thế, với cả khổ đau
và sung sướng, lo sợ và hy vọng.
Nguyễn Phạm Hùng trong bài Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong
Nam thời hiện đại được trình bày trong các bài nghiên cứu: “Thử so sánh Truyền
kỳ mạn lục với Tiễn đăng tân thoại”; “Những biến đổi của yếu tố “kỳ” và “thực”
trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam” của Vũ Thanh; “Về mối quan hệ giữa Tiễn
đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” của Phạm Tú Châu; “Tìm hiểu khuynh
hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” của Nguyễn Phạm
Hùng.
Ngoài ra còn có thể kể đến ý kiến của Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký
coi Truyền kỳ mạn lục là áng "thiên cổ kỳ bút".
Trên đây là một số ý kiến đánh giá khách quan, cụ thể trong việc nghiên
cứu đặc điểm nghệ thuật Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, còn rất nhiều những
ý kiến,công trình khác nghiên cứu về tác phẩm,có thể thấy tác phẩm Truyền kỳ
mạn lục đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam trung đại cũng
như về sau này.
3. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tìm hiểu những đặc trưng, đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm
- Thông qua việc tìm hiểu đặc sắc nghệ thuật để thấy được những tư tưởng, quan
niệm của nhà văn. Từ đó có thể khảo sát đúng hơn về những giá trị nghệ thuật và
giá trị nội dung mà tác phẩm mang lại
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Phạm vi nghiên cứu: Đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề hoàn thiện bài nghiên cứu của mình, tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
NỘI DUNG
Chương 1: Truyền kì mạn lục - áng thiên cổ hùng văn của văn học Trung đại
thuyết được đặt ra cho tác giả của Truyền kỳ mạn lục như sau:
Giả thuyết thứ nhất dựa theo lời của Nguyễn Phương Đề trong Công dư tiệp
kí, Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển
cho rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Giả thuyết thứ hai mà Lại Văn Hùng dẫn theo Trần Ích Nguyên trong
Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục lại cho rằng Nguyễn
Dữ là người đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lại Văn Hùng cho rằng “ Nguyễn
Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất vào khoảng thập niên thứ tư
thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” và không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tuy còn nhiều nghi vấn xung quang thân thế của ông, nhưng chúng ta có thể
biết rằng: Nguyễn Dữ sinh ra vào khoảng cuối thế kỉ XV và lớn lên vào nữa đầu
thế kỉ XVI. Đây là thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam đi vào con đường suy
yếu đã nhanh chóng trở nên trầm trọng. Chỉ trong vòng ba mươi năm từ khi Lê
Thánh Tông mất đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên
ngôi rồi bị giết hoặc bị phế truất. Có vị vua bị coi là “vua quỷ”, có vị bị coi là “vua
lợn”. Những gì mà Lê Thánh Tông – vị vua anh minh số một của nền phong kiến
Việt Nam cố công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ. Lê Hiền Tông đã từng than
thở về tình trạng quan trường hư nát và dù đã có chấn chỉnh nhưng vẫn không cứu
vãn được tình trạng suy vi đó. Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “ Sao mà những kẻ
tại chức đều bị vị, không nghĩ đến phép tắc của triều đình. Người vì nước quên nhà
thì ít, người bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thói cũ,
tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa”. Thế rồi “chính sự phiền hà, lòng dân oán
hận”, “thổ méc bừa bãi”, “lại thêm đại hạn, đói khổ, nhân dân thất nghiệp, trộm
cắp nổi dậy. Vua hoang dâm xa xỉ, bất lực hoặc chết yểu. Các quyền thần đánh lẫn
nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, dây máu chốn kinh sư”. Chiến tranh loạn lạc khắp
nơi: năm 1511, Nguyễn Nghiêm loạn ở Sơn Tây, Hưng Hóa, năm 1515 loạn Phùng
Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hóa, loạn Trần Công
Ninh ở Yên Lãng, Trần Cảo khởi binh đánh nhà Lê. Những cuộc chiến tranh ấy đã
khiến cho suốt cả vùng Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây đến Thanh Hóa và kinh đô
Thăng Long chìm đắm trong khói lửa chiến tranh. Thêm vào nữa là cuộc chiến
mới chỉ là mầm mống, tuy ở thời Hán, Ngụy, Lục triều có chút ít phát triển, nhưng
vô luận nhìn từ góc độ khắc họa nhân vật hay miêu tả tình tiết hãy còn đơn giản,
chưa đạt đến mức độ thành thục. Đồng thời, khái niệm tiểu thuyết cũng còn rất hỗn
loạn, thông thường trở thành tên gọi chung cho các loại ghi chép truyện lạ hoặc
truyện vặt lịch sử. Phải đợi đến đời Đường, tiểu thuyết Trung Quốc mới dần dần
trưởng thành, mới có được hình thức nghệ thuật tương đối hoàn hảo cũng như nội
dung đời sống xã hội tương đối rộng rãi và giành được vị trí không thể xem thường
trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Vào đời Đường, người ta vẫn chưa bỏ được cách nhìn lệch lạc truyền thống
đối với tiểu thuyết, nói chung vẫn gạt nó ra ngoài văn học chính thống. Bởi cách
“cấu tứ chuộng sự li kì”, cho nên nó được gọi là “truyền kỳ”. Có điều những người
sáng tác tiểu thuyết ngày một đông hơn, điều ấy nói rõ con đường sáng tác tiểu
thuyết vốn bị coi là “tiểu đạo” đã ngày một hấp dẫn mọi người, hơn thế, đã bắt đầu
trở thành hoạt động nghệ thuật có ý thức. Một người đời Minh là Hồ ứng Luân đã
có thể nhìn thấy điều đó, từng nói: “Những chuyện biến hoá kì lạ rất thịnh vào đời
Lục triều, có điều phần lớn là ghi chép lại những điều bịa đặt chứ đâu phải truyện
biến hoá, đến người đời Đường mới có sự cấu tứ li kì, mượn tiểu thuyết để gửi gắm
ngọn bút.”
Chúng ta thấy, về đại thể, truyền kỳ đời Đường có nội dung đa dạng, phong
phú xoay quanh chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống trần tục thường ngày và
mang đậm khuynh hướng nhân văn chủ nghĩa. Vì thế, nó có vai trò lớn trong việc
đưa văn học viết hướng tới truyền thống văn hoá dân gian, đời sống hiện thực của
quần chúng nhân dân. Đồng thời, với thủ pháp nghệ thuât độc đáo là lấy kì ảo làm
phương tiện nghệ thuật để truyền tải nội dung về đời sống con người, truyền kỳ đời
Đường góp phần không nhỏ khẳng định giá trị hư cấu và tưởng tượng trong việc
phản ánh và lý giải hiện thực cuộc sống của tác phẩm văn học. Loại hình truyền kỳ
tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên (1279-1368). Cuối Nguyên, đầu Minh (thế
kỉ thứ XIV), có Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1341-1427) là tác phẩm truyền kỳ
nổi tiếng, tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh hưởng lớn đến
thể loại truyền kỳ các nước trong khu vực như: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
truyền kỳ. Ngay đối với các sách sử ký, sử biên niên mà soạn giả hoặc tập thể soạn
giả chủ yếu đứng trên lập trường Nho giáo, với đầu óc duy lý khá rõ, người ta vẫn
tìm thấy hàng loạt chi tiết có màu sắc dị đoan, hoang đường (ví dụ: các ghi chép về
các hiện tượng mang tính triệu chứng cho sự xuất hiện đế vương, cho loạn lạc, giặc
giã…). Cảm thức vạn vật hữu linh và ý thức huyền thoại hóa như là đặc điểm của
thế giới quan và ý thức xã hội thời trung đại là cơ sở tư tưởng cho những trứ thuật
và sáng tác nêu trên (trạng thái này còn tồn tại cho đến khi tiếp nhận tư tưởng duy
vật và phương pháp thực chứng của phương Tây). Phạm vi của văn học truyền kỳ
theo nghĩa rộng ở thời trung đại, chủ yếu là ở những truyện ký lịch sử, dã sử.
Ở văn học hiện đại (thế kỷ XX), sáng tác truyền kỳ tương đối ít phát triển,
chỉ thấy có những sáng tác cổ tích viết cho thiếu nhi và một số tác phẩm khác, xuất
hiện những năm 80 - 90, ở đây yếu tố huyền thoại hoang đường trở thành một yếu
tố thẩm mỹ.
Di sản văn hóa truyền kỳ Việt Nam các thế kỷ trước chỉ mới trở thành đối
tượng riêng cho sự khảo sát, dịch thuật (ra chữ quốc ngữ) từ những năm 90 (thế kỷ
XX), ví dụ bộ truyện Truyền kỳ Việt Nam, 3 tập, Nxb Giáo dục H, 1999) do
Nguyễn Huệ Chi chủ biên, tuyển chọn được 246 truyện truyền kỳ của tác giả Việt
Nam từ thế kỷ XIV đến giữa thế kỹ XX.
1.3. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, chia làm bốn tập, mỗi tập năm truyện, các
truyện đều được viết bằng văn xuôi, tản văn xen lẫn với biền văn và thơ ca. Trừ
“Cuộc nói chuyện ở Kim Hoa”, các truyện còn lại đều có lời bình của tác giả hoặc
của một người có cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện đều xảy ra ở đời
Lý, Trần, Hồ hoặc Lê sơ.
Tên gọi Truyền kỳ mạn lục cho ta thấy tác phẩm được viết theo thể truyền
kỳ. Truyền kỳ là thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở
thời Đường. “Kỳ” nghĩa là ảo, không có thật, nhấn mạnh tính hư cấu. Thoạt đầu,
Truyền kỳ mô tả chí quái thời Lục triều, sau phát triển độc lập. Có loại miêu tả
cuộc đời biến ảo như mộng, có loại ca ngợi tình yêu nam nữ, có loại miêu tả hào sĩ
hiệp khách… Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có đầy đủ đặc điểm này.
chép lại những truyện giàu yếu tố kì như truyện Đổng thiên vương, Truyện Rùa
vàng…
Việt điện u linh tập và Lĩnh nam chích quái lục là những tiền đề văn học cho
sự phát triển của thể loại truyền kỳ và Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp là những nhà
văn đặt nền móng cho thể loại truyền kỳ ở Việt Nam. Cuối thế kỉ XV, Thánh Tông
di thảo, tương truyền của Lê Thánh Tông, đã là một bước tiến xa hơn nữa cho thể
loại truyền kỳ. Tập truyện là một sáng tạo độc đáo và đặc sắc, mang đầy đủ tính
chất bút pháp truyền kỳ với những truyện tiêu biểu như Lấy chồng dê, Tinh chuột,
Duyên lạ xứ hoa…
Nhưng chỉ đến Truyền kỳ mạn lục thì thể loại truyện ngắn truyền kỳ Việt
Nam mới thực sự được khẳng định. Sự ra đời của Truyền kỳ mạn lục đã đưa thể
loại truyền kỳ Việt Nam tới đỉnh cao và chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong văn xuôi
tự sự Việt Nam.
Như trên đã nói, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của văn học
Trung quốc cho nên tất yếu, truyền kỳ Trung Quốc sẽ du nhập vào Việt Nam.
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm truyền kỳ có giá trị của Việt Nam do tác
giả Việt Nam sáng tác và mang tính dân tộc rất đậm nét: đề tài, bối cảnh cốt
truyện, nhân vật đều mang màu sắc Việt Nam. Việc ảnh hưởng văn học Trung
Quốc chỉ là một phần, còn văn học dân gian truyền thống và thành tựu của văn
xuôi tự sự Việt Nam mới là nguồn gốc có ảnh hưởng trực tiếp nhất. Trước đó, các
nhà văn chỉ ghi chép lại các truyện dân gian, các thần phả trong các đền miếu, hoặc
dựa vào truyền thuyết dân gian và ít nhiều thêm chi tiết cho câu chuyện được hoàn
chỉnh như “Lĩnh Nam chích quái lục” của Trần Thế Pháp, “Thiên nam vân lục”
của Nguyễn Hàng. Nhưng Truyền kỳ mạn lục thì khác, tác giả chỉ dựa vào một số
cốt truyện dân gian mà sắp xếp, hư cấu thêm và diễn tả bằng lời văn giàu chất nghệ
thuật khiến cho tác phẩm không phải chỉ là sự ghi chép đơn thuần mà thực sự là
một tác phẩm văn học có tính nghệ thuật cao. Việc sưu tầm, chỉnh lí, sửa chữa,
khai thác đề tài của dân gian là một quá trình có tình kế thừa và nâng cao liên tục.
Người đi sau tiếp bước người đi trước rút lấy những gì là tinh hoa của người đi
trước để thực hiện một bước xa hơn. “Từ Thức lấy vợ tiên” và “Người con gái
mặt của hiện thực cuộc sống, đặc biệt là đời sống tâm linh của con người.
Mặc dù Truyền kỳ mạn lục thực sự là tác phẩm văn học viết nhưng hình như
Nguyễn Dữ muốn bộc lộ thái độ khiêm tốn của người cầm bút. Ông muốn lí giải
với độc giả rằng, trước tác của mình không phải là tập sách có tính chất sáng tác
như các thể loại khác đương thời. Ông muốn người đời hiểu rằng công việc ông
làm chỉ “mạn lục” (ghi chép theo cảm hứng của ngòi bút) những sự việc lạ chứ
không phải là một sáng tác thực thụ. Nhưng thực sự, khi đọc toàn bộ tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục thì chúng ta có thể thấy thực sự không phải như vậy. Tập truyện
mặc dù mang tính siêu nhiên hoang đường, nhưng để phục vụ cho mục đích sáng
tác của mình. Nguyễn Dữ không câu nệ, ông sử dụng những yếu tố ấy một cách có
ý thức. Điều đó có thể dễ dàng nhìn thấy, như trong lời bình ở “Chuyện tướng Dạ
Xoa”, ông viết: “Than ôi! Bè bạn là một trong năm đạo thường có thể coi khinh ư?
Câu chuyện quỷ Dạ Xoa này, thật có hay không, không cần phải biện luận cho
lắm, chỉ có một điều đáng nói là sự giao du của Dĩ Thành, khi đã coi ai làm người
bạn chân chính thì sống chết không đổi thay, hoạn nạn cùng gỡ…”. Ông mượn
truyện quái để nói việc thực. Căn cứ vào tính chất của các truyện thì lại thấy rằng
không phải Nguyễn Dữ chỉ “chép ra và truyền lại” những truyện cũ. Và Truyền kỳ
mạn lục có tính chất một sáng tác văn học chứ không phải là một công trình “ghi
chép một cách tùy ý” đơn thuần.
Truyền kỳ mạn lục là một bước tiến lớn về mặt nội dung lẫn nghệ thuật.
Nguyễn Dữ là nhà văn Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc từ các nhà văn
viết truyền kỳ Trung Quốc, nhất là ảnh hưởng của Cù Hựu, tuy nhiên có điểm khác
về mặt nội dung nghệ thuật câu chuyện, không chỉ ở cái thần mà từ nhân vật đến
tình tiết đều góp sức làm toát lên làm nổi bật lên. Nguyễn Dữ đã dựa hẳn vào các
tích cũ, có trong dân gian và trong cả nền văn học đi trước để viết nên những thiên
truyện mới. Truyền kỳ mạn lục là một bước nhảy vọt về thể loại. Từ chỗ đóng vai
trò người sưu tập ghi chép mặc dù là ghi chép có sáng tạo, đến chỗ tự thân sáng
tác, từ chỗ chỉ phản ánh những hành trạng, sự hiển linh của các vị thần thánh, các
vua chúa, anh hùng dân tộc lấy trong các thần tích đền chùa hoặc trong dân gian
đến những tác phẩm phản ánh sâu sắc những xung đột xã hội, gần gũi với cuộc
tướng quân là một tên tướng “có sức khỏe, giỏi chiến trận, nhưng tính vốn dữ tợn”.
Khi “quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép tắc, dựa lũ trộm cướp như
lòng ruột, coi người nho sĩ như kẻ thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không
chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn
đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem
về”. Khi thấy tướng số mách bảo: “Tướng quân có dữ mà không có lành, khinh
người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông than dục để thỏa
ngông cuồng, đã trái lòng trời tất bị trời phạt…” thì Lý cười một cách chủ quan:
“Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp
gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng họa cho ta sao
được”. Rồi khi nhìn thấy tận mắt những hình phạt thảm khốc đối với loại người
đầy tội ác như hắn, thì hắn ra vẻ muốn tìm phương cứu gỡ. Nhưng khi thấy nói cái
kế “cần kíp ngày nay chỉ còn cách đuổi hết hầu thiếp, phá hết vườn ao, trút bỏ
binh quyền quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng có thể giảm
trong muôn một”, thì hắn không nghe theo và lập luận rằng : “có ai lại vì lo cái vạ
sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy
năm bao giờ”. Sau đó “hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết không kiêng
dè gì cả”. Dưới ngòi bút của tác giả, tính cách tham bạo xuất phát từ bản chất giai
cấp của nhân vật, đã được khắc họa rõ nét bằng nhiều tình tiết có lựa chọn. Khác
với Lý Hữu Chi, Trụ quốc họ Thân trong Truyện nàng Thúy Tiêu, nham hiểm và
thâm độc hơn trong mọi âm mưa của nó. Dư Nhuận Chi là thư sinh nổi tiếng hay
thơ, người vợ là Thúy Tiêu vào hạng sắc nước hương trời. Nàng theo chồng vào
kinh khảo thí, bị quan Trụ quốc bắt đem về. Thúy Tiêu căm uất định tự tử, tên
quan buộc lòng phải hứa hẹn sẽ cho nàng về với chồng cũ. Nhưng khi gọi Nhuận
Chi đến, y giữ Chi trong nhà mà chẳng bao giờ cho đôi bên gặp nhau. Nhuận Chi
đau khổ sợ hại đến thân, nên phải bỏ đi. Về sau nhờ người lão bộc giúp sức, Thúy
Tiêu được giải thoát, cùng Nhuận Chi bí mật trốn đi sống nơi khác. Tên quan Trụ
quốc này vừa tàn ác, trắng trợn vừa nham hiểm độc ác, vì hắn có “uy thế rất lớn,
các tòa, các sở đều tránh kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử”. Vì hắn “làm
quan đến ngôi thượng công, quyền cao lộc hậu, việc khoản đãi khách khứa, mỗi
sưa yêu dấu hai người con gái. Trong cuộc hoan lạc vụng trộm, Hà đã tán dương
những bài thơ đầy khoái lạc vật chất của tình nhân, rồi tỏ ra vốn là con nhà “thi lễ”,
Hà cũng làm thơ đáp lại sự may mắn trong cảnh bướm giỡn hoa phô với hai cô con
gái trai lơ dâm đãng đó.
Nguyễn Dữ đã phê phán gay gắt những thế lực thống trị tàn bạo nhưng ông
không chủ trương thay đổi triều đại mà mong muốn cải tạo một xã hội tốt đẹp hơn.
Cái ác phải bị trừng trị một cách thích đáng.
Trong cơn khủng hoảng của chế độ phong kiến, trước những biến động của
xã hội, nhiều tệ nạn đã nảy sinh. Chùa chiền vốn tôn nghiêm nhưng lúc này có biết
bao kẻ nấp bóng từ bi để làm điều vô đạo. Truyện nghiệp oan của Đào thị miêu tả
một cuộc tình duyên say đắm giữa một sư bác với một ả ca kỹ. Truyện cái chùa
hoang ở huyện Đông Trào cho ta thấy chân tướng của bọn người ẩn nấp trong
chùa. Đó là bọn vô lại chuyện nghề trộm cắp “từ gà lợn ngỗng ngan đến cá trong
ao, quả trong vườn, phàm cái gì ăn được đều bị mất hết”. Nguyễn Dữ đã thấy rõ:
nhà chùa lúc này hay chứa chấp những gian dâm, du đãng. Thầy chùa phần nhiều
là những kẻ đầy dục vọng, không theo được lối sống chân tu, khổ hạnh.
Nhìn chung thì qua Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã nghiêm khắc phê
phán những tệ lậu của chế độ phong kiến đang mục ruỗng, đã miêu tả rất thực diện
mạo và tính cách của giai cấp bóc lột. Và ít hoặc nhiều, tác phẩm cũng thể hiện
cảnh ngộ cùng cực của nhân dân.
2.1.2. Vấn đề người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Kiệt tác Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đã từng khái quát
về số phận đầy cay đắng của người phụ nữ trong xã hội xưa:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
và
Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Trong tư duy của người trung đại, dường như là vạn vật đều có một số
mệnh mà người quyết định số phận ấy chỉ có thể là “xanh kia thăm thẳm từng
câu chuyện được xem như kết thúc có hậu. Đó là nàng Thuý Tiêu (Truyện nàng
Thuý Tiêu), Dương thị (Truyện đối tụng ở Long cung).
Tuý Tiêu là nàng ca kỹ tài hoa thông tuệ, được một ông quan tặng cho Dư
sinh, được Dư sinh đem lòng yêu thương nên kết duyên vợ chồng và sống hạnh
phúc bên nhau. Sắc đẹp của nàng khiến quan Trụ quốc họ Thân mê mẩn, nên nàng
bị y cướp về. Thương nhớ khôn nguôi, Dư sinh tìm cách liên lạc, hai người gặp lại
nhau, bàn mưu rồi trốn thoát khỏi sự cưỡng bức của Trụ quốc. Sau một thời gian
mai danh ẩn tích, gặp lúc Trụ quốc bị triều đình xử tội xa xỉ, Dư sinh đi thi và đỗ
tiến sĩ, hai người sống hạnh phúc đến già. Đây là câu chuyện duy nhất có một kết
thúc có hậu một cách trọn vẹn: người ở hiền thì sẽ gặp lành, kẻ ác phải bị trừng trị,
hạnh phúc đôi lứa trải qua gian nan lại được vẹn tròn. Cách sắp xếp câu chuyện
mang màu sắc cổ tích.
Bên cạnh ít ỏi những nhân vật phụ nữ được xem là may mắn như Thuý Tiêu,
Dương thị, còn lại phần lớn là những người bị xã hội, số phận đày đoạ trong đau
khổ. Đó là Nhị Khanh (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Lệ nương (Truyện
Lệ nương), Vũ Thị Thiết (Truyện người con gái Nam Xương). Họ là những người
chung thuỷ, luôn chăm lo hiếu nghĩa, khao khát cuộc sống yên bình. Nhưng sống
trong xã hội loạn lạc, ly tao, họ bị xô đẩy ra khỏi nếp nhà yên bình, phải chịu đoạ
đày, bất công, và cuối cùng bị đẩy tới cái chết. Cay đắng nhất là số phận nàng Nhị
Khanh, một người “khéo biết cư xử với họ hàng rất hoà mục và thờ chồng rất cung
thuận, người ta đều khen là người nội trợ hiền”, lấy phải người chồng chơi bời lêu
lổng, lại gặp cảnh chiến tranh ly loạn, nhưng nàng vẫn một lòng một dạ thuỷ
chung. Được đoàn tụ với chồng sau nhiều năm xa cách, tưởng sẽ hạnh phúc ấm
êm, nào ngờ anh chồng quen thói chơi bời, mang vợ ra đánh bạc, đẩy Nhị Khanh
đến bước đường cùng phải thắt cổ mà chết. Cuộc đời đen bạc của Nhị Khanh có lẽ
điển hình cho cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến đương thời, những
người đức hạnh, chỉ biết hy sinh nhưng không bao giờ được đền đáp.
Nhìn lại tất cả các nhân vật phụ nữ được đề cập trong Truyền kỳ mạn lục ta
lại thấy: nếu như các nhân vật ấy là có thực thì dường như nhân vật nào cũng sống
theo những nguyên tắc đạo đức lễ giáo phong kiến (các nhân vật ở nhóm sáu