Tương đồng mô hình cốt
truyện dân gian và những sáng
tạo trong "Truyền kì mạn lục"
của Nguyễn Dữ
Ngay dưới thời trung đại, các học giả Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều đã nhắc
đến mối quan hệ giữa Truyền kỳ mạn lụccủa Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) với Tiễn đăng tân
thoại của nhà văn Trung Quốc Cù Hựu (1347-1433). Bước sang thế kỷ XX, vấn đề cội
nguồn Truyền kỳ mạn lục ngày càng được các nhà nghiên cứu quan tâm và được học giả
Trần Ích Nguyên tổng kết, xác định trên ba phương diện cơ bản: Chịu ảnh hưởng
của Tiễn đăng tân thoại - Cải biên từ thần thoại, chí quái Việt Nam - Ghi chép lại truyền
thuyết dân gian địa phương
(1)
. Đó là những kết quả học thuật quan trọng của chuyên
ngành văn học so sánh, việc tìm hiểu diễn tiến cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục và các
mối quan hệ văn học trong quĩ đạo văn hoá Hán dưới thời trung đại. Do mục đích và yêu
cầu của đề tài, ở đây chúng tôi không xét đến vấn đề cội nguồn cốt truyện mà chỉ khảo
sát hiện trạng đã định hình của văn bản, cái cơ cấu hình thức làm nên cốt truyện của tác
phẩm. Nói cách khác, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu những đặc điểm có ý nghĩa tương
đồng giữa mô hình cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục với mô hình cốt truyện dân gian
(chủ yếu là truyền thuyết và truyện cổ tích), từ đó xác định những sáng tạo của Nguyễn
Dữ và đặc trưng hình thức của thể loại truyền kỳ.
*
Trên bình diện lý thuyết, thuật ngữ cốt truyện được xác định là “Hệ thống sự kiện
cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ
bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và
kịch”
(2)
không gian xa lạ khác, kết thúc bao giờ cũng là sự giải thoát, thức tỉnh của các nhân
vật trước “bức tranh vân cẩu” cõi nhân thế, hoặc nhân vật chính được đạo sĩ cứu thoát
trở lại cõi đời, hoặc hoá thân sang một kiếp đời khác. Đối với phần lớn các truyện,
ngay sau khi giới thiệu nhân vật thì biến cố liền xảy ra và lôi cuốn nhân vật chính vào
dòng xoáy của các sự kiện, tạo nên các tình tiết, chi tiết, hành động, cốt truyện. Thông
thường, biến cố đóng vai trò quyết định tạo tác, khởi động và vận hành hệ thống cốt
truyện chính là những giấc mơ, sự gặp gỡ và lạc bước đến một không gian xa lạ, huyền
ảo nào khác. Một số truyện kéo dài dung lượng mô tả đời sống hiện thực và đến nửa
phần sau mới nảy sinh biến cố, do đó cốt truyện và hành động nhân vật trong thế giới
ảo bị co hẹp lại, có khi chỉ còn mấy dòng giới thiệu vắn tắt, thoáng qua (Chuyện người
nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng Túy Tiêu, Chuyện Lệ Nương…).
Tương đồng với truyện dân gian, mô tip giấc mơ xuất hiện không nhiều nhưng
lại rất tiêu biểu cho việc tạo dựng cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục. Đó là việc Hồ
Tông Thốc đi sứ Trung Quốc, ngày đề thơ ở đền Hạng Vương, tối về nhà trọ mơ thấy
đến cung điện Hạng Vương rồi cùng nhau tranh luận về nhân nghĩa, thời thế, cho đến
đoạn kết: “Rồi đó canh tàn trà cạn, ông đứng dậy từ giã xin về. Hạng Vương đưa chân
ra đến cửa thì phương Đông đã gần rạng sáng. Ông xốc áo vùng dậy, té ra là một giấc
chiêm bao, bèn mua rượu và nem bày một lễ cúng ở đầu thuyền trước khi rời khỏi đấy”
(Câu chuyện ở đền Hạng Vương)
(4)
; có viên quan họ Hoàng đời Lê lấy nhầm phải yêu
ma nên hoá điên, được đạo sĩ chữa khỏi, sau nằm mơ bị hai tên lính bắt đến cung điện
Diêm Vương rồi bị trách phạt: “Bỏ nết cương thường, theo đường tà dục, giảm thọ một
kỷ”, “Lại sai hai tên lính đưa Hoàng về nhà. Hoàng vươn vai bừng tỉnh, mồ hôi toát ra
đầy mình” (Chuyện yêu quái ở Xương Giang); có học trò Mao Tử Biên vừa đi lạc vào
nơi âm thất nữ sĩ Ngô Chi Lan rồi nằm mơ được dự cuộc bình văn, đến khi mặt trời đã
mọc, chàng ngồi vùng dậy, “hoá ra thấy mình nằm trên cỏ, áo đầm những sương, chỉ
có đông tây hai ngôi mộ nhà ai nằm đó” (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa)… Rõ ràng
giấc mơ chỉ là hoạt động của trí tưởng tượng nhưng diễn biến những sự kiện, hoạt
động, đối thoại trong giấc mơ lại tạo nên tuyến cốt truyện và có ý nghĩa hiện thực sâu