Hệ thống nhân vật nữ trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NÔNG PHƢƠNG THANH
HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN HỮU SƠN
Thái Nguyên - 2011


1. Lí do chọn đề tài………… …………………………………….…………1
2. Lịch sử vấn đề…… ………………………………………………………3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu …………………………………………10
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………….………………….10
5. Đóng góp của luận văn ……………………………… ……………… 11
6. Cấu trúc luận văn ……………………………………………………… 11
NỘI DUNG………………………………………………………………….12
Chƣơng 1: TÁC GIẢ NGUYỄN DỮ VỚI TRUYỀN KỲ MẠN LỤC VÀ
VẤN ĐỀ NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ
VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XVI………… 12
1.1. Tác giả Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục ……………….……… …12
1.2. Vấn đề người phụ nữ trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XVI…………….……………………………………………………… 15
1.2.1. Quan niệm về phụ nữ …………………………………….…………16
1.2.2. Người phụ nữ trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI.21
1.3. Tiểu kết.… ………………………………………………….…………27
Chƣơng 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRONG TRUYỀN KỲ
MẠN LỤC……………………………………………… ……28
2.1. Lý thuyết về nhân vật………… ……………… …………… ………28
2.2. Nhân vật người phụ nữ đời thường trong Truyền kỳ mạn lục……….….30
2.2.1. Nguồn gốc hiện thực lịch sử của nhân vật…… ………………… …30
2.2.2. Xây dựng nhân vật phụ nữ theo quan điểm đề cao đạo đức của nhà nho.36
2.2.3. Dấu ấn con người cá nhân ở nhân vật phụ nữ đời thường …………48
2.3. Nhân vật phụ nữ thuộc thế giới siêu nhiên, hư ảo… ……. …… 53
2.3.1. Vẻ đẹp quyến rũ, mê hoặc gây bất hạnh của nhân vật ……….…… 54

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
2.3.2. Xây dựng nhân vật hướng tới quan niệm sống tự do với khát vọng giải

chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình
sưu tập mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này" [8,236].
Tác phẩm ra đời đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của truyện ngắn Việt
Nam, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính chức năng sang
văn xuôi giàu tính nghệ thuật.
Ngay từ khi mới ra đời, Truyền kỳ mạn lục được đánh giá là một tác
phẩm đỉnh cao mở đầu cho nền văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại và
nhận được sự quan tâm của nhiều học giả nổi tiếng cả trong và ngoài nước.
Nhiều vấn đề trong Truyền kỳ mạn lục đã trở thành đối tượng của những
công trình nghiên cứu xưa nay. Mặc dù tạo được nhiều hứng thú cho người
đọc, nhưng Truyền kỳ mạn lục không phải là một tác phẩm văn học có thể dễ
dàng chiếm lĩnh và vẫn cần được tiếp tục tìm hiểu. Vì vậy, nghiên cứu Truyền
kỳ mạn lục ở bất cứ phương diện nào cũng là việc làm cần thiết và có ý nghĩa
nhằm khám phá toàn diện hơn những giá trị của di sản văn học quý giá này.
Truyền kỳ mạn lục là một biểu hiện vinh dự cho nền văn học dân tộc.
Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Dữ đã dựng lên trong tác
phẩm của mình một bức tranh hiện thực đa dạng, đa tuyến, phức tạp, chứa đựng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
nhiều ý nghĩa xã hội và đậm nét dân tộc. Những vấn đề hệ trọng nhất của giai
đoạn lịch sử này đã được Nguyễn Dữ phản ánh trong tác phẩm của mình.
Theo Vũ Thanh thì: "điều làm nên giá trị lớn lao nhất, hơn hẳn các tác phẩm
văn xuôi trước đó, cái khiến cho Nguyễn Dữ trở nên gần gũi với các nhà nhân
đạo chủ nghĩa của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX chính là
việc tập truyện của ông đã hướng tới, phản ánh số phận và khát vọng của con
người, đặc biệt là thân phận của người phụ nữ" [55]. Lần đầu tiên, số phận của
người phụ nữ đã được quan tâm và trở thành hình tượng nhân vật trung tâm
trong tác phẩm văn học. Trong 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục, thì có đến 11

Lời đề tựa của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên (1547) có lẽ
là ý kiến đánh giá sớm nhất về tác phẩm: "Tập lục này là trứ tác của Nguyễn
Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn
Tường Phiêu. Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở
việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội
đỗ trúng trường, từng được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền. Mới được một năm
ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm không đặt chân đến chốn
thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra
ngoài phên giậu của Tông Cát, nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn
phép, đối với việc giáo hoá ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu!" [7]. Lời đánh
giá chủ yếu hướng về mục đích sáng tác Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Cùng với thời gian, Truyền kỳ mạn lục đã thể hiện sức sống lâu bền
của nó. Sang đến thế kỷ XVIII - XIX, một trong những giai đoạn phát triển
rực rỡ nhất của văn học Việt Nam, nhiều học giả nổi tiếng đã hết lời ca ngợi
Truyền kỳ mạn lục: Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân am cư sĩ
phả kí đã đánh giá Truyền kỳ mạn lục là một "Thiên cổ kỳ bút". Trong Kiến
văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đánh giá văn chương Truyền kỳ mạn lục là "lời lẽ
thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen". Phan Huy Chú trong Lịch
triều hiến chương loại chí thì khen rằng Truyền kỳ mạn lục "là áng văn hay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
của bậc đại gia"… Đây chủ yếu là những lời đánh giá thiên về mặt nghệ thuật,
đồng thời góp phần khẳng định giá trị, vị trí của Truyền kỳ mạn lục trong nền
văn học dân tộc.
Đến thế kỷ XX, Truyền kỳ mạn lục tiếp tục được khảo cứu trên nhiều
phương diện cả về nội dung và nghệ thuật thể hiện sự quan tâm sâu sắc của các
nhà nghiên cứu và công chúng độc giả dành cho hiện tượng văn học nổi bật này.
Rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu thực sự tâm huyết đã góp phần

chung với chồng thế nào cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng vì thua
bạc mà gán vợ, một đằng vì ngờ vực hão huyền mà vợ phải quyên sinh. Đáng
giận thay! Cái thuyết "tòng phu" đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao
nhiêu thế kỷ!"; "truyện 14, 18 (Chuyện nàng Thuý Tiêu, Chuyện Lệ Nương): tả
nông nỗi luân lạc của người phụ nữ, một đằng vì tên cường quyền chiếm đoạt
làm cho rẽ thuý chia loan, một đằng vì bọn ngoại xâm lăng loàn áp bức, làm cho
bình rơi trâm gãy, nhưng Thuý Tiêu lại trở về được với Nhuận Chi, Lệ Nương
cam chịu quyên sinh để trọn nghĩa với Phật Sinh, càng rõ ái tình chân chính
không có thế lực nào khuất phục được"; "truyện 19 (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim
Hoa): …xem như hai câu thơ nói đùa Kim Hoa nữ sĩ làm cho bà phải mang hận
đến suối vàng…" [8,234-235]. Trong những lời định giá này, tiêu chí để Bùi Kỷ
đánh giá nhân vật nữ về cơ bản vẫn là tiêu chí đức hạnh của nhà nho. Đối với những
nhân vật nữ vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến, ông tỏ thái độ không đồng tình, tuy nhiên
ông cũng lên tiếng phê phán thuyết "tòng phu" của Nho gia.
Tiếp đó, trong sách Văn học Việt Nam (Thế kỷ X - Nửa đầu thế kỷ XVIII),
GS. Bùi Duy Tân cũng bày tỏ quan điểm đánh giá tương đối thống nhất với
quan điểm của Bùi Kỷ qua bài viết "Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu của
truyện ký văn học viết bằng chữ Hán". Tuy nhiên, khi nghiên cứu hệ thống
nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, Bùi Duy Tân cơ bản vẫn đứng từ góc
nhìn xã hội học, việc đánh giá của giáo sư chủ yếu thiên về phương diện đạo
đức. Bùi Duy Tân khẳng định: "Trong nhiều truyện của Truyền kỳ mạn lục,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
đối lập với những nhân vật phản diện, tiêu cực, đại biểu cho những cái xấu
xa, ông đã xây dựng những nhân vật có nhiều mặt tích cực … nàng Nhị
Khanh thì đảm đang, tiết liệt, Lệ Nương, Dương Thị, Thúy Tiêu thì thủy chung
với người yêu, với chồng,… Và tuy những nhân vật ấy thường thể hiện phẩm
chất cao qua khuôn trung, hiếu, tiết, nghĩa, nhưng thực chất thì lại phản ánh

nhưng lại mang những phẩm chất rất đáng trân trọng. Nếu như trước đây,
hình ảnh người phụ nữ quý tộc có đi vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn
Húc v.v thì thường cũng mới chỉ dừng lại ở sự nhận thức trên bình độ tâm lý,
còn ở đây, nó là một đối tượng nhận thức, đối tượng thẩm mỹ trọn vẹn, thành
vấn đề người phụ nữ trong văn học - với những nhân vật trung tâm là phụ nữ"
[18,119]. Qua đó, Nguyễn Phạm Hùng phần nào khẳng định ý nghĩa vượt trội
của hình tượng nhân vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục so với những tác
phẩm văn học giai đoạn trước.
Cùng lý giải nguyên nhân dẫn đến bi kịch của người phụ nữ, học giả nữ
Trần Thị Băng Thanh cho rằng: "Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ
nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến
Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân,
nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt
là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những
nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp,
chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi
thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp
oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên thụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ
ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì
"nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng
cũng đáng thương" [7].
PGS.TS Vũ Thanh trong bài viết "Đóng góp của Nguyễn Dữ cho thể
loại truyện truyền kì Đông Á" đã đặc biệt nhấn mạnh giá trị nhân đạo của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Truyền kỳ mạn lục khi đề cập đến vấn đề người phụ nữ: "Nhà văn đề cao
những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, thậm chí là những người phụ nữ
có thân phận hèn kém trong xã hội như Thúy Tiêu, một con hát, thực chất là

đây. Bằng tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã thổi vào nhân vật một sức sống
lạ kì" [33,21]; " đồng thời qua số phận nhân vật của mình, Nguyễn Dữ đã
gửi lại cho độc giả thời sau bức thông điệp: Ở thời đại ông, không một người
phụ nữ nào có hạnh phúc cả cho dù họ sống theo kiểu nào. Ngoan ngoãn thuỷ
chung, làm tròn phận sự của người con, người vợ, người mẹ như Nhị Khanh
(Người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Người con gái Nam Xương),…
hoặc "phá phách" như Nhị Khanh (Cây gạo), Đào Hàn Than (Nghiệp oan của
Đào thị)… thì cái chết theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng là chung cục cho mọi
kiếp đàn bà!" [33,21-22]. Có thể thấy, giá trị nhân đạo của Truyền kỳ mạn
lục xoay quanh số phận bi kịch của người phụ nữ vẫn là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà nghiên cứu. Ngoài ra, ở bài viết "Truyện ngắn trong sự phát
triển của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại", Nguyễn Đăng Na đã chia
nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục thành ba kiểu là nhân vật nữ có thể gọi
là hạnh phúc, nhân vật nữ sống hiếu hạnh nết na, chuẩn mực mọi điều và nhân
vật nữ sống tự do phá phách. Nhà nghiên cứu đã tiếp cận nhân vật từ hai góc
độ chính là thi pháp học và xã hội học để đưa ra những phân tích và nhận định
về người phụ nữ. Ngoài ra, ông đã ít nhiều đứng từ góc độ nữ giới để nhìn
nhận số phận người phụ nữ. Qua đó, hình tượng nhân vật phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục đã hiện lên cụ thể và được nhìn nhận rõ nét hơn dưới
nhiều góc độ.
Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn Dữ cũng là mối
quan tâm của Toàn Huệ Khanh. Trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết
truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam, tác giả đã đề cập đến một số
nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, phân loại họ vào nhân vật của hai kiểu
truyện là truyện kỳ quái và truyện diễm tình. Công trình nghiên cứu này chủ yếu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
tìm hiểu nhân vật theo môtíp và giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về sự

4.3. Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh để thấy được các mối liên hệ đa dạng, đa
chiều cũng như nét chung, nét riêng độc đáo của nhân vật nữ trong Truyền kỳ
mạn lục trong mối tương quan với các tác phẩm cùng thời đại viết về người
phụ nữ.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn phân loại, phân tích, cắt nghĩa hai kiểu loại nhân vật nữ trong
Truyền kỳ mạn lục: Nhân vật người phụ nữ đời thường và nhân vật phụ nữ
thuộc thế giới hư ảo, siêu nhiên, đồng thời làm rõ một số phương diện nghệ
thuật xây dựng nhân vật nữ trong tác phẩm. Từ đó chúng tôi hướng tới sự
đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện hơn về nghệ thuật xây dựng nhân vật
phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục cũng như quan niệm của tác giả.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai trong ba chương:
Chƣơng 1: Tác giả Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục và vấn đề người phụ nữ
trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI
Chƣơng 2: Thế giới nhân vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


13
Mới được một năm, ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm
không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này để ngụ ý" [7].
Lời tựa trên của Hà Thiện Hán đều có chép trong bản Cựu biên năm 1712,
bản Tân biên năm 1763, năm 1774 và là nguồn tư liệu đáng tin cậy cho nhiều
nhà nghiên cứu sau này làm căn cứ khi đoán định các vấn đề liên quan đến
Truyền kỳ mạn lục. Theo Nguyễn Phạm Hùng, về cha của Nguyễn Dữ, Phan
Huy Chú trong Đăng khoa lục bị khảo ghi: "Nguyễn Tường Phiêu người xã
Đoàn Tùng, đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Bính thìn năm Hồng Đức 27 đời Thánh
Tông, làm quan đến Thừa tuyên sứ, tặng Thượng thư, nay là phúc thần. Con
ông là Nguyễn Dữ, học vấn hơn người, viết Truyền kỳ lục" [17]. Ngoài ra,
độc giả cũng chỉ mới được biết những thông tin ít ỏi về tiểu sử của tác giả
Truyền kỳ mạn lục qua những ghi chép sơ lược của các học giả đời trước
như: Phả ký ở sách Đại Việt sử loại tiệp lục của Vũ Khâm Lân; Công dư
tiệp ký của Vũ Phương Đề; Kiến văn tiểu lục và Toàn Việt thi lục của Lê
Quý Đôn; Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy
Bích; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú v.v Bên cạnh
đó, nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cũng góp phần không nhỏ trong việc cố
gắng lấp dần khoảng trống về tiểu sử, thân thế Nguyễn Dữ cũng như những
vấn đề khác của Truyền kỳ mạn lục.
Trên cơ sở tư liệu hiện có, có thể đi đến một số kết luận sau: Nguyễn
Dữ là tác giả của Truyền kỳ mạn lục. Hiện nay chưa xác định được chính xác
ông sinh và mất năm nào. Nguyễn Dữ xuất thân trong gia đình có truyền
thống văn chương khoa cử, thế gia vọng tộc. Cha là Nguyễn Tường Phiêu đỗ
Tiến sĩ năm 27 niên hiệu Hồng Đức triều Lê (1496), làm quan đến Thượng
thư Bộ Hộ, Nguyễn Dữ sinh vào khoảng cuối thế kỷ XV, sống chủ yếu trong
khoảng nửa đầu thế kỷ XVI. Ông từng làm quan dưới thời Hậu Lê, sau cáo
quan về ở ẩn rồi mất tại Thanh Hoá.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Từ trước tới nay, phần lớn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
thường căn cứ vào những thông tin ghi chép trong sách xưa mà viết lại. Ở
Nhật Bản, Áo Dã Thái Tín Lang trong "Truyền kỳ mạn lục được nhìn như
một ví dụ của văn học An Nam mới" cho rằng: "Đại khái là trong khoảng
thời gian đời vua Thánh Tông (1460) cho đến đời vua Chiêu Tông (1527)".
Còn Xuyên Bản Bang Vệ trong sách Truyền kỳ mạn lục tiểu khảo thì cho
rằng "sách phải được viết vào giữa thế kỷ XVI". Trần Khánh Hạo, nhà
nghiên cứu Trung Quốc, ở phần "Xuất bản thuyết minh" trong sách Hán văn
Việt Nam tiểu thuyết tùng san đã căn cứ vào cuối thiên truyện Từ Thức
tiên hôn lục có nói đến năm Lê Diên Ninh thứ 5 nên đã cho rằng "sách được
viết xong cũng phải sau năm 1548", sau đó ông còn căn cứ vào truyện Kim
Hoa thi thoại ký có nói đến cuối năm Đoan Khánh (1506-1509) để kết luận
"thời gian sớm nhất có thể Truyền kỳ mạn lục ra đời phải là năm 1509".
Trần Ích Nguyên trong công trình Tiễn đăng tân thoại dữ Truyền kỳ mạn
lục tỷ giảo so sánh cũng suy đoán rằng "Nguyễn Dữ vào khoảng năm 30 của
thế kỷ XVI đã sáng tác Truyền kỳ mạn lục". Nhà nghiên cứu người Nga
M. Tkachov trong bài viết giới thiệu về Truyền kỳ mạn lục ở nước Nga, sau
khi biện giải và thiết lập sơ đồ, M. Tkachov đã phỏng đoán: "Lúc này, có thể
Nguyễn Dữ đã ở tuổi ngoài 30 (vì thi Hội nhiều lần, mà triều Lê theo lệ cứ 3
năm mở một khoa, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội, thi Đình). Những
ngày ẩn cư, cụ đã viết và hoàn thành bộ Truyền kỳ mạn lục gồm 4 quyển,
mỗi quyển 5 truyện, cộng 20 truyện". Cuối cùng, nhà nghiên cứu Nguyễn
Phạm Hùng đã đi đến kết luận rằng "Nguyễn Dữ làm quan và cáo quan về ở
ẩn rồi viết Truyền kỳ mạn lục trong khoảng thời gian trước năm 1527, dưới
triều Lê" [17,123-134].
1.2. Vấn đề ngƣời phụ nữ trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X đến
thế kỷ XVI

đẹp. Ngay các vị nữ thần khi thấy cũng phải tấm tắc khen thầm. Hêphaixtox

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
còn ban cho người thiếu nữ đó tiếng nói thánh thót như chim, sức sống bừng
bừng, rạo rực như hơi thở hừng hực của lửa nóng ở lò rèn. Và đó là vật dành
riêng cho giống người trần đoản mệnh. Sức sống này được vị thần Chân thọt
đưa vào ẩn náu trong một thân hình mềm mại như một làn sóng biển, uyển
chuyển như một giống cây leo, sáng ngời như ánh trăng rằm, long lanh như
những hạt sương chưa tan buổi sớm. Nữ thần Atêna có đôi mắt sáng ngời,
ban cho nàng chiếc thắt lưng xinh đẹp của mình và một tấm áo dài trắng
muốt. Nàng lại còn ban cho người thiếu nữ đó một tấm lụa mỏng để cô ta
trùm lên vầng trán cao cao xa xa vời vợi của mình… Nữ thần Tình yêu và Sắc
đẹp Aphrôđitơ ban cho cô gái vẻ đẹp duyên dáng, dục vọng đắm say và sự
khêu gợi thầm kín. Còn thần Hermex ban cho cô gái tài nói năng tế nhị, dịu
dàng, có thể cám dỗ làm siêu lòng người khác. Thần lại ban cho cô gái cả tài
che dấu ý nghĩ thật của mình, trái tim nghĩ một đằng miệng nói một nẻo. Đó
là sự không trung thực và thói xảo trá, ỏn thót, điêu ngoa. Cả những lời nói
nịnh khéo, khen bừa, lẩn tránh quanh co để được vừa lòng tất cả mọi người
hoặc lấp lửng nước đôi, mặn nồng vừa đấy mà đã nhạt phai ngay liền, thoắt
khóc thoắt cười đều do vị thần Trộm cắp Hermex ban cho cô gái hiền dịu,
trong trắng, đẹp đẽ tuyệt vời đó. Tiếp đến, nữ thần Duyên Sắc Kharit và nữ
thần Khuyên Nhủ đeo vào cổ người thiếu nữ những chiếc vòng vàng muôn
phần xinh đẹp. Còn những nữ thần Thời Gian - Hơr có mái tóc đẹp đội vào
đầu cô gái vòng hoa xuân rực rỡ thắm sắc thơm hương" [24,79-80]. Nàng
được đặt tên là Păngđor, nghĩa là "có đủ mọi tài năng" nhưng lại "là ngọn
nguồn của mọi thứ tai hoạ, mọi nỗi bất hạnh trong đời sống" mà Dớt ban cho
loài người. Huyền thoại về Păngđor thể hiện quan điểm coi thường người phụ
nữ vốn đã tồn tại từ thời cổ xưa.

vươn tới và kiếm tìm hạnh phúc thường táo bạo và quyết liệt hơn.
Khác với sức mạnh cứng rắn và rõ ràng của người đàn ông, năng lực
nơi người đàn bà đáng sợ ở chỗ nó là hàm hồ, thu hút và quyến rũ, chứ không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
ở sức công phá. Năng lực ấy nằm sâu trong tiềm thức và tiềm năng, tựa như
sự bí hiểm của thần thánh, lại giống sức mê hoặc của yêu ma. Trong cuốn
Dẫn giải ý tưởng văn chương, nhà lý luận người Pháp Henri Bénac quan
niệm phụ nữ như một sự bí ẩn và phức tạp, có tính hai mặt. Người phụ nữ
sáng tạo ra thế giới nhưng cũng là nguyên cớ huỷ diệt thế giới. Thời nào cũng
vậy, trong xã hội luôn tồn tại những người phụ nữ có sức hấp dẫn, lôi cuốn kỳ
lạ, nhưng lại cực kỳ nguy hại. Sử sách còn ghi lại không ít giai thoại về những
người phụ nữ có sắc đẹp "nghiêng nước nghiêng thành". Người xưa đã nói:
"Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba đào dị nịch nhân" (Mưa không có
kìm khoá vẫn giữ được khách, sắc đẹp không có sóng mà vẫn làm người ta
chết đuối). Gặp phụ nữ đẹp rất dễ bị cuốn hút, đam mê, không dứt ra được.
Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì "mĩ nhân kế" là hiểm nhất. Đổng
Trác hùng mạnh thế vẫn chết bởi Điêu Thuyền, vua Trụ mất quốc gia vì Đát
Kỷ, Phù Sai quyền lực vong quốc bởi Tây Thi Người Trung Quốc vẫn hay
truyền tụng: "Mỹ nhân tự cổ như danh tướng" (Người đẹp từ xưa như tướng
giỏi), tương truyền đây là câu thơ của danh sĩ Triệu Yến Tuyết cuối đời Khang
Hy. Đối với đàn ông, đàn bà vừa có thể là sức sống bên trong để nâng đỡ, vừa có
sức mạnh để hút lấy, làm tan loãng hết nam nhi tính. Đàn bà có sức mạnh lung
lạc, chi phối người đàn ông ngay trong chính sự thụ động và yếu mềm của họ.
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận vai trò tích cực, khả năng và cống hiến
to lớn của người phụ nữ ở nhiều lĩnh vực. Nhiều phụ nữ tài giỏi, dũng cảm đã
được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc như: Hai Bà Trưng, bà Triệu, nữ
tướng Lê Chân, Thái hậu Dương Vân Nga, nguyên phi Ỷ Lan, đô đốc Bùi Thị

con…). Không thể phủ nhận mặt tích cực của những quan niệm đạo đức này.
Chính các yếu tố công, dung, ngôn, hạnh đã điểm tô cho vẻ đẹp dịu dàng, nhu
thuận của người phụ nữ Á Đông. Tuy nhiên, cả "tam tòng" và "tứ đức" là
những tư tưởng thể hiện tính chất phụ thuộc một chiều với nhiều bất lợi đối
với người phụ nữ, đặc biệt khi nó được đề cao và yêu cầu một cách cực đoan.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
Nói một cách khách quan thì không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các
nền văn hoá, người phụ nữ vẫn luôn phải chịu sự đối xử bất bình đẳng. Với
bản chất yếu đuối, cảm tính, người phụ nữ dễ dàng bị lấn lướt trong mọi sinh
hoạt gia đình và xã hội bởi người đàn ông. Tuy nhiên, ở mọi thời đại, lịch sử
vẫn luôn phải công nhận vai trò và vị trí không thể thay thế của người phụ nữ
với những thiên chức thiêng liêng vốn đã thuộc đặc quyền tự nhiên của nữ
giới. Phụ nữ là một nửa của nhân loại, là biểu tượng của cái đẹp, là hiện thân
của sự sinh tồn và luân chuyển sự sống.
1.2.2. Ngƣời phụ nữ trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XVI
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVI phát triển trong hoàn
cảnh dậy gió tưng bừng của lịch sử dân tộc. Chúng ta đã hai lần chiến thắng
quân Tống, ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, hai mươi năm chiến đấu và
chiến thắng chống quân Minh. Nước Đại Việt phát triển tới đỉnh cao của chế
độ phong kiến Việt Nam. Bước sang thế kỷ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam
trượt dần trên một cái dốc không gì cứu vãn nổi. Xung đột giữa các tập đoàn
phong kiến dẫn đến nội chiến Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn kéo dài gần hết
một thế kỷ. Những biến động của lịch sử đã tác động sâu sắc tới diện mạo văn
học của thời đại.
Thời nào cũng vậy, người phụ nữ là tặng phẩm tuyệt diệu của tạo hoá,
là nguồn cảm hứng vô tận của văn học. Trong dòng chảy của lịch sử văn học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status