thế giới nhân vật trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
PHẠM PHƯỚC DUYÊN
MSSV: 6106384
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
CỦA NGUYỄN DỮ
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. TẠ ĐỨC TÚ
Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. L
ịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Ph
ạm vi nghiên cứu
5.
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề chung
1.1 Khái niệm nhân vật văn học
1.2 Vài nét v
ề thể loại Truyền kỳ
1.2.1 Khái niệm Truyền kỳ
1.2.2 Vài nét về thể loại Truyền kỳ
1.2.3 Thể loại Truyền kỳ trong văn học Việt Nam
1.3 Tác gi
ả Nguyễn Dữ.

người đọc thì chỉ có khoảng một, hai tác phẩm. Nhưng cũng có những nhà văn, nhà
thơ cả cuộc đời chỉ viết duy nhất một tác phẩm nhưng tác phẩm đó lại trở th
ành “kinh
điển” của làng văn, trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn
học. Ví dụ, văn học Thế giới có Gone With The Wind (Cuốn theo chiều gió) của
Margaret Mitchell hay Wuthering Heights (Đồi gió hú) của Emily Bronte, văn học
Việt Nam có Ông đồ của Vũ Đình Liên và đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ.
Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ) gồm 20 truyện, cuối mỗi
truyện có lời bình của tác giả (trừ truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa), hầu hết các
truyện xảy ra ở đời Lý, Trần, Hồ hoặc Lê sơ. Đây không phải là một công trình sưu tập
như
Lĩnh nam chích quái (Trần Thế Pháp), Thiên Nam vân lục liệt truyện (Những
truyện được ghi chép vô số ở cõi trời Nam) (Nguyễn Hãng), Việt điện u linh tập (Lý
T
ế Xuyên)… mà là một sáng tác văn học, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể
loại tự sự trong văn học chữ Hán.
Nguy
ễn Dữ viết Truyền kỳ mạn lục bằng cách mượn một nhân vật có thật trong lịch
sử như Ngô Chi Lan, Nguyễn Trung Ngạn, Hồ Hán Thương, Hồ Quý Ly,… hay chỉ là
nhân v
ật có trong huyền thoại như thần Thuồng Luồng, Diêm Vương, Linh Phi,… rồi
thêm bớt, sáng tạo tình tiết, xây dựng lại nhân vật, tổ chức lại kết cấu…để tái tạo thành
m
ột thiên truyện mới. Vì thế, Truyền kỳ mạn lục tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng
lại phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XVI
Thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục đa dạng, phong phú như một xã hội Việt
Nam thu nhỏ ở thế kỷ XVI, có vua chúa, quan lại, thương buôn, nhà sư, thiếu niên, phụ
nữ, trẻ con,…Ngoài ra, Nguyễn Dữ còn xây dựng các nhân vật thần tiên, ma
quái, Thông qua các nhân v

nhà nghiên cứu Xô Viết khi nghiên cứu văn học phương Đông thường chú ý đến
Truyền kỳ mạn lục.[18;tr.114]
Nghiên c
ứu sớm nhất về Truyền kỳ mạn lục có lẽ là Hà Thiện Hán, khi ông viết lời
đề tựa cho tác phẩm vào năm Vĩnh Định sơ niên 1547:
“Tập lục này là trứ tác của
Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu [ ] Xem văn từ thì không vượt ra ngoài
phên gi
ậu của Tông Cát, nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với
việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu!”[3;tr.204]
2
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
Các học giả thế kỉ XVIII – XIX như Vũ Khâm Lân thì xem Truyền kỳ mạn lục là

thiên cổ kì bút”, Lê Quý Đôn đánh giá văn chương Truyền kỳ mạn lục là “lời lẽ thanh
tao t
ốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen”, Phan Huy Chú thì khen Truyền kỳ mạn
lục là “áng văn hay của bậc đại gia”, tuy vậy họ chú ý nhiều đến văn phong, nghệ
thuật chứ chưa thật chú ý đến nội dung, nhất là thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn
lục.
Đến thế kỉ XX, Truyền kỳ mạn lục vẫn tiếp tục được nghiên cứu tìm hiểu trên nhiều
phương diện khác nhau về cả nội dung lẫn nghệ thuật bởi một số nh
à nghiên cứu như
Bùi Duy Tân, Nguyễn Phạm Hùng, Trần Ích Nguyên,…Tuy vậy nhưng chưa có một
công trình nào nghiên cứu sâu về thế giới nhân vật, chỉ là nhắc qua những vấn đề về xã
h
ội, con người trong tác phẩm.
Trong Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, các tác giả khẳng
định:
“Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Dữ phóng tác những cốt truyện gắn bó với đất

trong sự công bằng, trong tình cảm yêu thương nhân ái giữa con người với con
người ”
. [8;tr.173]
Như vậy, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục ở các vấn đề
khác nhau, kể cả nội dung lẫn nghệ thuật nhưng vấn đề thế giới nhân vật chưa thật sự
được nghi
ên cứu, tìm hiểu. Vì thế, bài luận Thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ của tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi một số sai sót. Tuy vậy, tôi vẫn
mong đóng góp thêm
ý kiến và làm hoàn chỉnh việc nghiên cứu một tác phẩm văn học
lớn và có giá trị nhiều mặt như Truyền kỳ mạn lục.
3. Mục đích nghiên cứu
Yêu cầu chính mà đề tài đặt ra là tìm hiểu Thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ, từ đó ta thấy được sự đa dạng, phong phú của nhân vật (về xuất
thân, tính cách, số phận…) trong tác phẩm. Bên cạnh đó, thông qua hình tượng nhân
vật, ta có thể hiểu được ý nghĩa của từng truyện, hiểu được những triết lý nhân sinh
của cuộc sống mà tác giả Nguyễn Dữ muốn gửi gắm. Ngoài ra, ta còn có thể hình dung
và c
ảm thông với số phận của nhân vật, của con người Việt Nam thế kỉ XVI, để từ đó
rút ra bài học cho bản thân: về cách đối nhân xử thế, về cách trân trọng và giữ gìn hạnh
phúc gia đ
ình, về chuyện “làm lành lánh dữ”…
M
ặt khác, hi vọng thông qua bài luận Thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ, tôi sẽ đóng góp vào công trình nghiên cứu chung về Truyền kỳ mạn
lục và Nguyễn Dữ cũng như góp phần định hướng và cung cấp tài liệu cho những ai
say mê và muốn tìm hiểu sâu về Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Bên cạnh đó, tôi
cũng muốn mở rộng thêm vốn kiến thức và sự hiểu biết của tôi về Nguyễn Dữ và
Truyền kỳ mạn lục.
4. Phạm vi nghiên cứu

pháp tổng hợp phương pháp khảo sát. Ngoài ra, tôi còn sử dụng một số các thao tác
như phân tích, chứng minh, b
ình luận…để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
5
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm nhân vật văn học
“Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện
văn học”
[9;tr.277]. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật,
các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con
người. Đó l
à những nhân vật có tên như Thúy Kiều, Chị Dậu, Ngô Chi Lan, Thạch
Sanh, AQ, Gia Cát Lượng, ; Hay đó l
à những nhân vật không tên như thằng bán tơ,
lính hầu, ; Hoặc đó là những con vật trong truyện cổ tích, thần thoại, bao gồm cả
quái vật, yêu tinh lẫn thần linh, ma quỷ mang nội dung và ý nghĩa con người.
Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau. Đó là những
con người được mi
êu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách lẫn tiểu sử như
Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Chí Phèo ; Đó cũng có thể là những người thiếu hẳn
những nét trên, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần
thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nổi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ
trữ tình. Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con
người cụ thể n
ào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm. Ví dụ ta có thể nói
nhân dân chính là nhân vật chính trong Chiến Tranh và Hòa Bình của Lev Tonxtoy,
chi
ếc quan tài là nhân vật trong truyện Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, con

có nh
ững đặc trưng nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện
văn học thông qua lăng kính của nhà văn, nhưng không v
ì thế mà chúng kém phần
chân thật. Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu nhân vật văn học.
Các nhân vật trong tác phẩm thường tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, chúng liên
quan v
ới nhau, móc nối với nhau bằng tiến trình các sự kiện miêu tả trong tác phẩm,
đồng t
hời quan hệ giữa các nhân vật trong mỗi hệ thống ít hay nhiều đều phản ánh mối
quan hệ xã hội hiện thực của con người. Vì vậy tìm hiểu thế giới nhân vật trong
Truyền kỳ mạn lục thực chất là tìm hiểu mối liên quan giữa các nhân vật không chỉ
trong mỗi truyện mà còn trong mối liên hệ giữa các truyện trong cùng một chủ đề.
7
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
1.2 Vài nét về thể loại Truyền kỳ
1.2.1 Khái niệm Truyền kỳ
Truyền kỳ là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, thịnh hành ở đời
Đường.
“Kỳ” nghĩa là kỳ ảo, kỳ lạ, nhấn mạnh yếu tố hư cấu. Truyền kỳ bắt nguồn từ
truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng
những môtip kì quái hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm
gợi hứng thú cho người đọc. Gọi là tiểu thuyết nhưng tiểu thuyết truyền kỳ có dung
lượng ngắn v
à kết cấu không theo kiểu truyện dài thu ngắn – phần nào đã có dáng dấp
của thể loại truyện ngắn cận hiện đại. Sự tham gia của yếu tố thần kì vào câu chuyện
cũng không phải là do những lực lượng tự nhiên được nhân hóa như kiểu thần thoại,
hoặc những nhân vật có phép lạ như kiểu trời, bụt, thần tiên… trong truyện cổ tích
thần kì mà phần lớn ở ngay hình thức “phi nhân tính” của nhân vật ( ma quỷ, hồ ly,
vật hóa người. . .). Tuy nhiên, trong truyện bao giờ cũng có những nhân vật là người

thơ” [13; tr.294].
M
ột truyện truyền kỳ thường có dung lượng không lớn. Bố cục mỗi truyện thường
chia thành ba phần: mở đầu giới thiệu danh tính, nguồn gốc nhân vật, giữa truyện kể
lại hành trạng, cuộc đời nhân vật và phần kết khẳng định tính chân thực của câu
chuyện. Phần lời bình nằm cuối mỗi truyện cũng được xem là một bộ phận hữu cơ
trong kết cấu chỉnh thể của thể loại.
Ở Việt Nam, khái niệm truyện truyền kỳ được hiểu ở những cấp độ rộng hẹp khác
nhau. Có nhà nghiên cứu xếp tất cả những tác phẩm văn xuôi có yếu tố thần linh ma
quái hoặc kỳ dị vào truyện truyền kỳ. Có người nêu thêm tiêu chí hư cấu của nhà văn
và cho rằng chỉ xếp vào truyện truyền kỳ những truyện có con người là nhân vật chính
chứ không phải thần linh ma quỷ.
Cho đến nay, nhiều người cho rằng
Thánh Tông di thảo mở đầu cho truyện truyền
kỳ ở Việt Nam, tuy nhiên không phải tất cả 20 truyện đều là truyện truyền kỳ đích
thực. Truyền kỳ mạn lục được đánh giá là đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Ở
giai đoạn sau,
Lan Trì kiến văn lục có những thành tựu đáng kể nhất.
Thuật ngữ “truyền kỳ” lần đầu tiên được xuất hiện trong đầu đề tập truyện Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Sau đó là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm và Tân
truy
ền kỳ lục của Phạm Quý Thích.
Nhìn lại quá trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam, bắt đầu từ Việt điện u
linh của Lý Tế Xuyên (đầu thế kỉ XV), ta thấy tác phẩm này đã chứa đựng những yếu
tố kì ảo. Nhân vật trong truyện hầu hết là những vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh.
Tập truyện có thể coi là cuốn thần phả về những linh hồn bất tử của nước Đại Việt. Vì
9
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
vậy, Việt diện u linh đã thấp thoáng yếu tố của bút pháp truyền kỳ, có thể coi là tác
ph

không phải là một tác phẩm sao chép, mà là một sáng tác văn học được thừa nhận,
được đánh giá l
à “thiên cổ kỳ bút”.
10
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
1.3 Tác giả Nguyễn Dữ.
1.3.1 Vài nét về Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ là nhà tiểu thuyết truyền kỳ nổi tiếng nhất của Việt Nam thời trung đại
với “thiên cổ kỳ bút” Truyền kỳ mạn lục. Các giáo trình để giảng dạy về Nguyễn Dữ
thường viết: Nguyễn Dữ là người x
ã Đoàn Lâm, huyện Gia Phúc (nay là Thanh Miện –
H
ải Dương), chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thế kỉ XVI, con trai của
thượng thư của Nguyễn Tường Phi
êu. Từ nhỏ học rộng, tài cao. Sau, thi đỗ và ra làm
quan cho tri
ều đình nhưng vì bất mãn trước thời thế của xã hội phong kiến, không bao
lâu thì xin từ quan về ở ẩn. Trong thời gian ở ẩn viết tập Truyển kỳ mạn lục để gửi
gắm tâm sự, ước mơ của mình, đồng thời, thể hiện chí khí của bậc túc Nho bất đắc chí.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu nhưng chưa có một tài liệu nào khẳng định được năm
sinh năm mất của Nguyễn Dữ. Thân thế v
à cuộc đời của tác giả Truyền kỳ mạn lục
cũng chỉ được phỏng đoán dựa vào một vài tài liệu ghi chép sơ sài của người đời sau.
Vì vậy, sự không thống nhất khi nghiên cứu về tác giả Nguyễn Dữ là điều khó tránh
khỏi. Cụ thể là từng có hai giả thuyết về thân thế cùa Nguyễn Dữ.
Giả thuyết thứ nhất cho rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bạn thân
của Phùng Khắc Khoan. Giả thuyết này đang tồn tại trong Sách giáo khoa và các giáo
trình
ở bậc Đại học. Các nhà nghiên cứu theo giả thuyết này:
Hà Thi

ùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn
Dữ, Trương Thì Cừ là có tiếng nhất Khi Dữ viết quyển Truyền kỳ mạn lục được ông
sửa chữa nhiều chỗ, sau thành áng văn hay của bậc đại gia”[1;tr.337].
Bùi Văn Nguyên viết: “Cũng như thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
là một nhà nho có khí tiết sống giữa thời loạn lạc ”[11;tr.261]
Bùi Duy Tân vi
ết: “Theo Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề thì Nguyễn Dữ là
h
ọc trò Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), bạn học với Phùng Khắc Khoan (1528-
1613) ”
[7;tr.239]. “Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng
thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào
kho
ảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn,
Truyền kỳ mạn lục Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi
sống cùng thời dịch ra chữ Nôm”[5;tr.1124].
Gi
ả thuyết thứ hai mà Lại Văn Hùng dẫn theo Trần Ích Nguyên trong “Nghiên
c
ứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” lại cho rằng Nguyễn Dữ là
người đồng thời, thậm chí là lớn hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều tuổi. Trần Ích Nguyên
trích l
ại ý kiến của Trần Khánh Hạo trong lời thuyết minh về việc xuất bản tập
Truyền kỳ mạn lục trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san ở Đài Loan, cho rằng
Nguyễn Dữ không phải là học trò mà là người đồng niên, thậm chí thuộc thế hệ trước
Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau “Căn cứ vào tiểu truyện họ Nguyễn, năm Vĩnh Định sơ
niên, Bỉnh Khiêm nghiễm nhiên là bậc thày của vua, thanh danh rất lớn. Nếu như
Nguyễn Dữ là học trò “cao túc” của ông thì e rằng Hà Thiện Hán khi viết lời Tựa
12
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ

Thế kỷ XVI là thời kỳ đất nước mất ổn định về chính trị, nhà nước phong kiến đi
vào con đường suy yếu. Chỉ trong v
òng ba mươi năm từ khi Lê Thánh Tông mất (1497)
đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua (1527), nước ta đ
ã có sáu ông vua lên ngôi, trừ
Lê Hiển Tông hiền lành, còn lại đều ăn chơi sa đọa, hoang dâm vô độ. Những vị vua
đó có người chết yểu, có người bị giết hoặc bị phế truất, có người bị gọi l
à “vua lợn”,
có người bị gọi là “vua quỷ”. Những gì Lê Thánh Tông cố công gầy dựng đã nhanh
chóng s
ụp đỗ.
13
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
Nguyên nhân một phần là do sự tàn bạo, sa đọa của những ông vua, ngôi báu bị
thay đổi li
ên tục, một phần khác là do sự chuyên quyền và nổi loạn của các thế lực
chính trị liên tục xâu xé, tranh giành ảnh hưởng, lợi lộc. 1511, Thân Duy Nhạc dấy
quân ở Kinh Bắc, Trần Tuân làm loạn ở Sơn Tây; 1512, Nguyễn Nghiêm làm loạn ở
Sơn Tây, Hưng Hóa; 1515, loạn Phùng Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng
Ngật ở Thanh Hóa, Trần Cảo khởi binh đánh nhà Lê,…Những cuộc chiến tranh này
làm cho m
ột vùng rộng lớn của nước ta chìm trong mất mát, đau khổ. Thêm vào nữa là
cu
ộc chiến tranh dai dẳng, quyết liệt giữa hai thế lực Lê – Mạc, gây ra thế cuộc Nam
bắc Triều trong lịch sử.
“Chính sự phiền hà, lòng dân oán hận” (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi), hơn
nữa, tình cảnh đói khổ, chết chóc, ly tán, cộng vào đó là những thiên tai triền miên đã
đẩy nhân dân vào tình cảnh đã khổ nay càng khốn khổ hơn. Giai đoạn này cũng là giai
đoạn Nho giáo suy thoái và là điều kiện thuận lợi để Phật, Đạo có cơ hội hưng khởi.
Đứng trước t

ẩn. Có một số ý kiến về thời điểm ra đời của tác phẩm.
“GS. Trần Khánh Hạo trong sách Hán văn Việt Nam tiểu thuyết tùng san ở phần
“xuất bản thuyết minh” có nói: “Ở cuối thiên Từ Thức tiên hôn lục trong Truyền kỳ
mạn lục kể về sự việc năm Lê Diên Ninh 5, tức là Mạn lục được viết xong cũng phải
sau năm 1458”. Lúc này chúng
ta lại phát hiện ở quyển bốn truyện Kim Hoa thi thoại
ký có đoạn viết: “Cuối năm Đoan Khánh, có người học tr
ò là Mao Tử Biên đến du học
ở kinh thành”. Đoan Khánh là niên hiêu của L
ê Uy Mục, tất cả có 5 năm, tức 1506-
1509. Cu
ối năm Đoan Khánh là chỉ Đoan Khánh 5, tức thời gian sớm nhất Truyền kỳ
mạn lục có thể ra đời phải là năm 1509”[12;tr.100].
Theo nhi
ều tài liệu hiện nay, Truyền kỳ mạn lục ra đời vào nữa đầu thế kỷ XVI,
truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi dịch ra chữ Nôm.
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn, xen lẫn
biền văn và thơ ca, cuối truyện có lời bình của tác giả (trừ chuyện Cuộc nói chuyện thơ
ở Kim Hoa
). Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian,
nhiều truyện xuất phát từ các vị thần đến nay vẫn còn thờ như Vũ Thị Thiết (Chuyện
người con gái Nam Xương
)(đền thờ ở Hà Nam), Văn Dĩ Thành (Chuyện Tướng Dạ
Xoa)(đền thờ ở làng Gối, Hà Nội) hay Nhị Khanh (Chuyện Người nghĩa phụ ở Khoái
Châu)(đền thờ ở Hưng Yên)… Phần lớn các truyện trong Truyền kỳ mạn lục, ngay sau
khi gi
ới thiệu nhân vật thì biến cố liền xảy ra và lôi cuốn nhân vật chính vào dòng
xoáy c
ủa các sự kiện, tạo nên các tình tiết, hành động. Nhân vật chính gặp gỡ một nhân
vật “phi nhân tính” khác như thần tiên, yêu ma,…Sau đó rời bỏ nơi mình ở tìm

“Thiên cổ kỳ bút” của Vũ Khâm Lân.
1.4.2 Tóm tắt các truyện trong Truyền kỳ mạn lục
1. Câu chuyện ở Đền Hạng Vương: Hồ Tôn Thốc trên đường đi sứ sang Trung
Qu
ốc có đi ngang đền Hạng Vương. Ông làm một bài thơ chê chính sách bạo
lực của Hạng Vũ. Tối đó, ông nằm mộng thấy được mời đến cung điện Hạng
Vương và trực tiếp nói chuyện với Hạng Vũ c
ùng với một vị lão thần họ Phạm
(Phạm Tăng?). Kết truyện tác giả viết “Rồi đó canh tàn trà cạn, ông đứng dậy
từ giã xin về; Hạng Vương đưa chân ra đến cửa thì phương Đông đã dần sáng
16
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
rạng. Ông xốc áo vùng dậy, té ra là một giấc chiêm bao, bèn mua rượu và nem
bày m
ột lẽ cúng ở đầu thuyền trước khi rời khỏi đấy”.
2. Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu: Nàng Nhị Khanh con nhà gia giáo, từ
nhỏ là thanh mai trúc mã với Trọng Quỳ, con quan Phùng Lập Ngôn. Sau khi
lấy nhau, Nhị Khanh ăn ở rất hiếu thuận, được lòng nhà chồng. Phùng Lập
Ngôn vì tính tình thẳng thắn nên bị triều thần ghen ghét, phải đi làm quan ở xa,
Trọng Quỳ phải theo hầu cha. Trong sáu năm đợi chồng, xảy ra nhiều biến cố:
cha mẹ tạ thế, cô ruột ép gả cho tướng quân họ Bạch,… Nhị Khanh vẫn thủ tiết.
Đến khi Trọng Quỳ
trở về, vui mừng chưa kịp thì Nhị Khanh lại bị Trọng Quỳ
vì thua bạc mà bán vợ. Nhị Khanh tự sát bỏ lại hai con. Sau về báo mộng cho
Trọng Quỳ giúp hai con làm nên sự nghiệp.
3. Chuyện cây gạo: Trình Trung Ngộ là một thương buôn đẹp trai, đến Nam Xang
để b
uôn bán. Tình cờ gặp và tương tư Nhị Khanh. Sau, quen biết và cùng nhau
ân ái m
ột thời gian thì biết Nhị Khanh đã chết được nữa năm. Từ đó Trình

học. Cha mẹ cưới vợ cho thì nhất mực không chịu. Sau, biét hai nàng là yêu
tinh hoa đào, hoa liễu. Hà Nhân giật mình tỉnh ngộ và lập đàn cúng hai nàng.
6. Chuyện đối tụng ở Long cung: Dương thị xinh đẹp là vợ quan Thái thú họ
Trịnh ở Hồng Châu, thần Thuồng Luồng có ý muốn bắt về làm vợ mình. Dù
cho đã đề phòng nhưng Dương thị vẫn bị bắt mất. Trịnh thái thú rất đau khổ
nhưng may mắn gặp được Bạch Long Hầu, được Bạch Long Hầu giúp đỡ, b
èn
ki
ện lên Đức vua ở Long cung. Với sự giúp đỡ của Bạch Long Hầu và sự anh
minh của Đức vua nên cuối cùng vợ chồng Dương thị được đoàn tụ, còn thần
Thuồng luồng thì bị trừng phạt.
7. Chuyện nghiệp oan của Đào thị: Đào thị, tiểu tự là Hàn Than, là ca kỷ ở Từ
Sơn nhưng giỏi chữ nghĩa, được vua Dụ Tôn y
êu mến, tuyển vào cung làm cung
nhân, h
ầu hạ việc chữ nghĩa cho vua. Khi vua mất, nàng bị đuổi khỏi cung và
thường qua lại nhà quan Ngụy Nhược Chân. Vợ Ngụy Nhược Chân tính hay
ghen nên đ
ã bắt nàng đánh rất tàn nhẫn, nàng thuê người trả thù nhưng không
thành, phải bỏ đi tu ở chùa Thầy. Sau, có một người học trò biết được quá khứ
của nàng rồi làm thơ chế giễu, nàng phải trốn khỏi chùa Thầy lên chủa Lệ Kỳ.
Tại đây, dù bị sư cụ Pháp Vân ngăn cản ngay từ đầu, nhưng sư Vô Kỷ vẫn nhận
nàng vào ở, rồi tư thông nhau, Hàn Than có thai, ốm lây lất, cuối cùng chết trên
giường cữ. Vô Kỷ vì thương nhớ nên không lâu sau cũng chết theo. Hai người
đầu thai l
àm hai con trai Long Thúc, Long Quý của Ngụy Nhược Chân nhằm
trả thù. Chỉ còn mấy tháng nữa là âm mưu hoàn thành nhưng bị một vị thầy tu
phát hiện, cuối cùng bị sư cụ Pháp Vân trừng trị.
8. Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên: Ngô Tử Văn tên Soạn, là người cương
trực, khẳng khái và nóng nảy. Một hôm tắm rửa chay sạch, khấn vái rồi châm

trước.
11.Chuyện yêu quái ở Xương Giang: Thị Nghi là con nhà nghèo, vì chữ hiếu nên
t
ừ nhỏ đã bị bán cho phú thương họ Phạm. Thị Nghi lớn lên khá có tư sắc nên
được họ Phạm yêu mến, rồi tư thông, vợ Phạm biết được, bèn tìm cớ đánh Thị
Nghi đến chết. Hồn Thị Nghi hưng yêu tác quái, bị dân làng đào mả vứt cốt
xuống sông. Sau, hồn Thị Nghi lừa viên quan họ Hoàng, nàng được họ Hoàng
yêu m
ến, cưới về làm vợ, ân ái rất thắm thiết. Được một thời gian thì Hoàng ốm
nặng, thuốc thang không khỏi. Có một người yểm bùa Thị Nghi hiện nguyên
hình
đống xương trắng, rồi cho người đào mộ dưới bến sông, Hoàng tỉnh lại
nhưng không nhớ g
ì cả. Thị Nghi bàn kiện lên Diêm Vương. Họ Hoàng bị bắt
19
Luận văn tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ
đến và khai Thị Nghi mê hoặc mình. Thị Nghi bị Diêm Vương trừng phạt bằng
cực hình, họ Phạm được thả về nhưng giảm thọ một kỉ.
12.Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na: Hồ Hán Thương đi săn, tình
c
ờ gặp người tiều phu vừa đi vừa ca bài ca rất lạ, Hán Thương cho là ẩn giả,
bèn sai Trương Công theo mời lại. Trương Công theo dấu tiều phu v
ào tận núi
sâu. Hai người gặp gỡ v
à trò chuyện rất lâu, Trương Công vẫn không thuyết
phục được tiều phu. Tiều phu còn tiên đoán thành bại của nhà Hồ cho Trương
Công nghe. Trương Công về tâu hết lại những lời nói của tiều phu cho Hán
Thương nghe. Hán Thương không tin, cho cỗ xe êm đến quyết đoán rướt bằng
được tiều phu nhưng đến nơi chỉ thấy hang động, cây cối, và hai câu thơ châm
biếm. Hán Thương tức giận đốt núi, nhưng chỉ thấy chim hạt đen lượn trên

Một năm sau, vào Tết trung thu, được lão bộc giúp đỡ, hai người được đoàn tụ
nhưng phải lẫn trốn
gần chục năm trời, đến khi Trụ quốc bị tội mới dám về kinh
sư, Nhuận Chi thi đỗ Tiến sĩ, hai người sống với nhau đến gi
à.
15.Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang: Trần Phế Đế đi săn, đỗ lại trên sông Đà, ban
đêm mở tiệc. Cáo tinh và Vượn tinh lo chim muôn bị giết
nên biến thành tú tài
h
ọ Viên và xử sĩ họ Hồ đến yết kiến. Vua say rượu nên cho Hồ Quý Ly tiếp
chuyện. Nói chuyện hồi lâu, mục đích ban đầu của Vượn tinh và Cáo tinh
không thành, bèn cáo lui. H
ồ Quý Ly sinh nghi từ lâu bèn cho người bí mật theo
dõi thì thấy Vượn tinh và Cáo tinh từ từ biến lại hình dạng cũ rồi biến mất.
16.Chuyện người con gái Nam Xương: Vũ Thị Thiết, còn gọi là Vũ Nương, quê
Nam Xương, đẹp người đẹp nết về l
àm vợ chàng Trương Sinh có tính hay ghen.
Vợ chồng ăn ở rất hòa thuận, Vũ Nương ăn ở theo khuôn phép, rất ý tứ nên
được lòng bên chồng. Sau, vì binh biến, dù là con nhà dòng nhưng Trương sinh
vẫn phải ra trận, lúc này Vũ Nương đang mang thai sắp sinh nở. Khi Trương
Sinh trở về thì con thơ đã bắt đầu biết nói còn mẹ già thì đã mất. Bé Đản – con
Trương sinh và Vũ Nương, không chịu nhận Trương là cha, còn nói cha nó đêm
nào cũng đến với nó và mẹ nó. Vốn tính hay ghen, Trương nghi ngờ vợ rồi
không ngừng mắng mỏ, đánh đuổi. Hỏi thì chàng không nói, hàng xóm can
ngăn chàng cũng không nghe. Vũ Nương bèn trầm mình tự vận để chứng minh
trong sạch. Được Linh Phi thương tình cứu vớt và cho hầu hạ dưới thủy cung.
Trong làng có Phan Lang, vì từng có ơn cứu mạng Linh Phi nên được xuống
thủy cung và gặp Vũ Nương, lên bờ thuật lại cho Trương nghe. Trương lúc này
c
ũng đã biết rõ ngọn nguồn nổi oan của vợ, hối hận cũng đã muộn, bèn lập đàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status