Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
----------------------------
NGUYỄN THỊ THƠM
NHÂN VẬT YÊU MA TRONG
TRUYỀN KÌ MẠN LỤC CỦA
NGUYỄN DỮ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI - 2011
Nguyễn Thị Thơm
3
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các luận điểm và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào. Nếu sai tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Thơm
Nguyễn Thị Thơm
5
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ........................................................................................................ 7
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................7
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.3 Phương tiện nghệ thuật thể hiện nhân vật yêu ma trong Truyền kì mạn
lục .................................................................................................................42
2.3.1 Bút pháp ước lệ tượng trưng trong miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ nhân
vật .................................................................................................................42
2.3.2 Sự kết hợp giữa kì và thực .................................................................45
2.3.2.1 Yếu tố kì. ......................................................................................45
2.3.2.2 Yếu tố thực ...................................................................................55
Kết luận......................................................................................................62
Tài liệu tham khảo .................................................................................65
Nguyễn Thị Thơm
7
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thứ nhất, Truyền kì mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ,
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
một cách đầy đủ và có hệ thống. Vì vậy, với việc tiếp thu và kế thừa các công
trình nghiên cứu và các thành tựu đi trước, tôi sẽ cố gắng trình bày những suy
nghĩ, ý kiến của mình một cách có hệ thống, cụ thể hơn về nhân vật yêu ma
trong tác phẩm của Nguyễn Dữ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII đã chiếm một vị trí
quan trọng trong lịch sử phát triển của nền văn học nước nhà. Đây là giai
đoạn phát triển của văn học Việt Nam. Trong đó, Nguyễn Dữ và Truyền kì
mạn lục đóng một bước tiến quan trọng cho văn xuôi tự sự. Với Truyền kì
mạn lục, Nguyễn Dữ đã thực hiện cuộc cách mạng của văn xuôi tự sự thời
trung đại: chuyển hoàn toàn văn xuôi tự sự từ lĩnh vực văn học chức năng
sang lĩnh vực văn học nghệ thuật. Cho nên Truyền kì mạn lục của ông thu
hút không ít nhà nghiên cứu quan tâm.
Vũ Khâm Lân đánh giá: Truyền kì mạn lục là “Thiên cổ kì bút”. Sau
ông có nhiều tác giả nghiên cứu, khám phá thành công trên nhiều phương
diện của tác phẩm, tiêu biểu như các công trình nghiên cứu sau:
Nguyễn Phạm Hùng với: Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ trên tạp chí văn học, số 2/1987 cho rằng:
“Yếu tố hoang đường kì ảo…chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nhận thức cuộc
sống thực tế của con người. Nó chủ yếu là phương tiện nghệ thuật chứ không
còn là mục đích miêu tả”, ““Truyền kì mạn lục”là tác phẩm văn học viết mở
đầu cho phong cách nghệ thuật phản ánh những cái bình thường, thông tục,
phản ánh con người trần thế, có tính hiện thực”. Thực chất, ở bài viết này tác
giả chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản về khuynh hướng nghệ thuật của
Truyền kì mạn lục, chưa trực tiếp bàn đến vẻ đẹp và nghệ thuật xây dựng
thực khái quát thành số phận chung của nhiều người phụ nữ được phản ánh
trong Truyền kì mạn lục. Còn khía cạnh “kì ảo”, khía cạnh “cái chết và sự
tỏa sáng của phần hồn” ẩn chứa đằng sau cái thực của nhưng nhân vật vẫn
chưa được nói tới.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam còn có những bài viết nói về sự ảnh
hưởng (nói khác đi là những điểm chung, điểm giống nhau) giữa Truyền kì
mạn lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc).
Giáo sư Trần Đình Sử trong So sánh văn học và văn hóa – Nguyễn Dữ và
tiên thoại Trung Quốc qua truyện Từ Thức lấy vợ tiên có viết: “Tác phẩm
của ông (Nguyễn Dữ) được kết tinh từ nền văn học cổ điển chữ Hán rộng
Nguyễn Thị Thơm
10
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
lớn” đó là khuynh hướng “cứu đời, khuyến thiện, trừng ác, đạo đức hóa”, vì
vậy mà “bên cạnh hệ thống nhân vật thần tiên xuất hiện thêm hệ thống ma
quỷ”. Tác giả bài viết cũng chỉ coi kiểu nhân vật yêu ma nói riêng, hệ thống
nhân vật kì ảo nói chung là một yếu tố bổ trợ nhằm làm hoàn thiện cho nội
dung tư tưởng Truyền kì mạn lục mà thôi.
Đặc biệt, tác giả Đinh Phan Cẩm Vân đã có một bài viết quan trọng
mang tính định hướng cho việc tìm hiểu hệ thống nhân vật kì ảo nói chung và
kiểu nhân vật yêu ma nói riêng trong Truyền kì mạn lục. Ở bài viết: Cái “kì”
cùng khắt khe, nghiệt ngã. Tuy nhiên, các bài viết trên còn nhiều vấn đề để
ngỏ cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trên cơ sở các nguồn tư liệu và tham khảo ở trên, tôi không có kiến
giải gì thêm về số phận cá nhân trong Truyền kì mạn lục mà chỉ đi sâu vào
tìm hiểu vẻ đẹp nhân vật yêu ma và cách thức thể hiện nhân vật yêu ma của
Nguyễn Dữ trong tác phẩm này. Qua đó, người viết muốn một đóng góp nhỏ
khẳng định sự thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật nói chung trong
Truyền kì mạn lục.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài này là nhằm thấy được thành công của
Nguyễn Dữ trong việc khắc họa hình tượng nhân vật yêu ma của Truyền kì
mạn lục. Cụ thể hơn đó là vẻ đẹp của kiểu nhân vật đặc biệt (nhân vật yêu
ma) và các phương tiện nghệ thuật thể hiện kiểu nhân vật này.
Mặt khác, người viết muốn làm rõ sự kế thừa và phát triển văn học dân
gian của Nguyễn Dữ: ở phương diện thể hiện các nhân vật kì ảo (trong đó có
nhân vật yêu ma), ở việc đặt nhân vật vào hoàn cảnh sống… Đồng thời,
Nguyễn Dữ chỉ ra sự khác biệt trong bút pháp thể hiện nhân vật yêu ma của
tác giả so với Cù Hựu (Trung Quốc).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật yêu ma trong hai mươi truyện ở tác phẩm Truyền kì mạn lục
của Nguyễn Dữ do Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lí, Nxb Văn học,
H.1999.
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài này nghiên cứu về nhân vật yêu ma trong Truyền kì mạn lục
của Nguyễn Dữ. Mặc dù, việc thể hiện vẻ đẹp của hình tượng nhân vật yêu
ma và các phương tiện thể hiện kiểu nhân vật này trong tác phẩm của ông rất
Nguyễn Thị Thơm
Nguyễn Thị Thơm
13
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn lục
1.1.1. Tác giả Nguyễn Dữ
Hiện nay, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng tác giả của Truyền kì mạn
lục là Nguyễn Tự chứ không phải Nguyễn Dữ. “Do đặc điểm văn tự, hầu hết
họ và tên các tác giả văn học trung đại Việt Nam được ghi bằng chữ Hán –
Tên của Nguyễn Dữ cũng vậy” [18, tr. 2009]. Tuy có nhiều ý kiến về Nguyễn
Dữ hay Nguyễn Tự nhưng đều có một nguồn thông tin về thân thế tác giả như
sau:
Nguyễn Dữ, quê ở xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (Hải Dương), nay là
làng Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện (Hải Dương). Cha của ông là
Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27
(1496) đời Lê Thánh Tông. Theo Ôn Đình hầu, người biên soạn Bạch Vân
am cư sĩ phả kí và Ân Quang Hầu, người biên soạn tập thơ chữ Hán của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ không ra làm quan, ẩn cư ở núi rừng Thanh
Hóa và làm sách Truyền kì mạn lục. Sách ấy được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ
Tóm lại, căn cứ vào những tài liệu hiện còn thì Nguyễn Dữ thuộc dòng
khoa hoạn, từng dùi mài kinh sử, ôm ấp lí tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể
xuất sĩ. Về sau, vì “đại thế bất an”, vì bất mãn với kẻ đương quyền, hơn là vì
phải “nuôi dưỡng mẹ già cho trọn đạo hiếu”, Nguyễn Dữ đã lui về ẩn dật,
viết Truyền kì mạn lục để kí thác tâm sự và thể hiện hoài bão của mình.
1.1.2. Tác phẩm Truyền kì mạn lục
Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện (theo Phan Huy Chú trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Truyền kì mạn lục gồm 22 truyện), chia thành 4
tập, mỗi tập 5 truyện. Các truyện đều viết bằng văn xuôi, xen lẫn một ít văn
biền ngẫu và thơ ca. Trừ truyện số 19 (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa), các
truyện còn lại đều có lời bình của tác giả (hoặc những người có cùng chí
hướng với tác giả) ở cuối truyện. Khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong
Thánh Tông di thảo, lời bình của các truyện ở Truyền kì mạn lục không bàn
về nghệ thuật văn chương mà chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa.
Với Nguyễn Dữ, khi đặt tên tác phẩm là Truyền kì mạn lục, ông muốn
biểu lộ một thái độ nghiêm túc, khiêm tốn của người cầm bút. Song, cũng
chính bởi cái tên Truyền kì mạn lục đã gây ra nhiều tranh cãi về tên tác
phẩm này.
Nguyễn Thị Thơm
15
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
16
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
mình không phải là cuốn sách có tính chất trang nghiêm như liệt truyện và
cho đây là thứ “ngoại thư” bao gồm những truyện lạ (truyền kì) vẫn được lưu
truyền. Công việc của ông là ghi chép lại một cách rộng rãi (mạn lục) những
sự việc ấy.
Để phục vụ cho mục đích sáng tác của mình, Nguyễn Dữ đã không câu
nệ, ông sử dụng yếu tố “lạ - kì ảo” một cách có ý thức. Ông đã mượn chuyện
quái để nói việc thực. Ông dựa vào những tích cũ, phần nhiều là các truyện đã
được lưu truyền từ lâu trong xã hội và được viết nên thành những truyện mới.
Những truyện này thường lấy bối cảnh là thời Lí - Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê
sơ trên địa bàn từ Nghệ An ra bắc. Truyền kì mạn lục tuy có vẻ là “truyện kì
lạ” xảy ra hàng trăm năm về trước nhưng thực chất lại phản ánh được những
phần sâu sắc của hiện thực đương thời. Đằng sau thái độ dè dặt, khiêm tốn đó,
Nguyễn Dữ muốn bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão của mình. Qua tác phẩm,
ông có thể phát biểu cảm nhận, bày tỏ quan điểm về những vấn đề lớn của xã
hội, của con người trong xã hội mà mọi thứ đang trên đà “suy thoái”. Nội
dung của Truyền kì mạn lục phê phán hiện thực xã hội thối nát. Ông lên án
tầng lớp vua quan nhũng nhiễu nhân dân, làm cho cuộc sống nhân dân cơ cực,
khổ sở. Truyền kì mạn lục cũng phản ánh số phận con người ở thế giới trần
gian, thế giới tiên cảnh, thế giới âm phủ. Bên cạnh đó, Truyền kì mạn lục
còn thể hiện khát vọng hạnh phúc của lứa đôi, của những kiếp người bé nhỏ,
hèn mọn trong cuộc đời.
trọng. Nó chính là mắt xích cơ bản để xâu chuỗi, kết dính các biến cố, các sự
kiện, là nơi chủ yếu để nhà văn thể hiện tư tưởng của mình. Vì vậy, việc xây
dựng nhân vật trở thành một trong các công việc cốt yếu của người nghệ sĩ.
“Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng các
phương tiện văn học” [15, tr. 61]. Nhân vật có thể có tên riêng (Tấm Cám,
Thạch Sanh…) cũng có thể không có tên riêng như: “mụ dì ghẻ” (Tấm Cám),
“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du),
hoặc nhân vật có thể là những đám “giai thanh gái lịch” trong Số đỏ (Vũ
Trọng Phụng)…Trong truyện ngụ ngôn, nhân vật thần, nhân vật con vật, đồ
vật được đưa ra để nói chuyện con người.
Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ là
một con người cụ thể nào đó mà còn được dùng để chỉ một hiện tượng nổi bật
trong tác phẩm. Chẳng hạn, có thể nói “đồng tiền” là nhân vật chính trong
ƠgiêriGrăngđê của Banzac hay như “nhân dân” là nhân vật chính trong Đất
nước đứng lên của Nguyên Ngọc.
Nguyễn Thị Thơm
18
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ở mỗi loại thể tác phẩm hay ở mỗi tác phẩm nói riêng, tác giả xây dựng
lên những hình tượng nhân vật theo dụng ý riêng của họ. Qua đó, họ tìm thấy
một phần con người thực tế lại vừa là những “con người” sáng tạo của nhà
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trong Từ điển Hán Việt: kì ảo là hư ảo, lạ kì [2, tr. 233].
Nếu “kì” là hạt nhân, là phạm trù, là nguyên tắc thẩm mĩ độc đáo của
văn học nói chung, thì “ảo” là tính chất, là một dạng biểu hiện của cái “kì”.
Như vậy, “kì” là hạt nhân tư tưởng thẩm mĩ và “ảo” là biểu hiện, là tính chất
thể loại.
Do đó, “nhân vật kì ảo” được hiểu là những nhân vật mà người nghệ sĩ
đã hư cấu, đã sáng tạo ra, là nhân vật kì lạ, vừa lạ thường vừa không có thực
theo quan điểm nhận thức duy lí, khoa học của con người theo quy luật khách
quan ngoài đời sống. Là những nhân vật – sản phẩm của trí tưởng tượng với
những quan niệm tâm linh. Nhân vật kì ảo đó có bắt nguồn từ trong tín
ngưỡng dân gian, trong các hình thức tôn giáo khác nhau của đời sống.
Hệ thống nhân vật kì ảo trong văn học trung đại Việt Nam gồm hai loại
lớn: nhân vật dị thường, phi thực và nhân vật trần thực. Trong hệ thống nhỏ:
nhân vật dị thường, phi thực lại có thể phân thành nhân vật dị hình và nhân
vật biến hình. Sự phân loại trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực
tế, có những nhân vật vừa dị hình, vừa có tính biến hình, hóa thân. Phi thực
hay trần thực, dị thường về ngoại hình, diện mạo hay ảo ảo, kì kì trong cách
ứng xử thì suy cho cùng cũng là biểu hiện khác nhau của hiện thực mà thôi.
Những biểu hiện “kì” của nhân vật được miêu tả ở nguồn gốc ra đời, ở
hành tung, thái độ ứng xử, năng lực, hành động. Tất cả nhuốm màu kì lạ.
Những biểu hiện khác nhau ấy lại được dệt nên từ tấm khung chung: nguyên
tắc mĩ học của cái “kì” được nhuộm màu ảo diệu, phi thực của thuốc thần là
bản thân cuộc sống.
Trong văn học, phương thức sáng tạo của nhân vật kì ảo chủ yếu là “vẽ
là một khái niệm trừu tượng, một phần phi vật chất của một con người đã
chết.
Theo tín ngưỡng Việt Nam, trong con người có cái vật chất và tinh
thần. Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt, nên người xưa đã thần thánh hóa
nó bằng khái niệm linh hồn, và linh hồn theo người Việt Nam và các nước
Đông Nam Á tách thành hai phần: hồn và vía. Người Việt cho rằng: con
người có ba hồn, nhưng vía nam thì có 7, còn nữ có 9. Như vậy, khái niệm ma
đơn giản chính là hồn và vía con người.
Không có cơ sở chính xác nào là có ma một cách chắc chắn và khoa
học cho đến nay. Nhưng tùy vào từng người, lứa tuổi, tôn giáo, chủng tộc mà
Nguyễn Thị Thơm
21
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
tin là có ma hay không. Nói chung, người già, phụ nữ, trẻ em, sống ở các
vùng nông thôn thì thương dễ tin là có ma hơn các vùng khác.
Cho đến nay, ma vẫn là bí ẩn đối với nhân loại, có những câu chuyện
hư cấu về ma, nhưng cũng không thể kết luận được có phải là hư cấu hay
không. Sự bí ẩn của ma xuất phát từ giới hạn tri thức và hiểu biết của con
người (nói chung) và các nhà khoa học (nói riêng).
Ma thường được miêt tả là một dạng người, mặc dù cũng hiếm khi đề
cập tới ma động vật, nhưng miêu tả thông thường là “trắng bạc”, “cái bóng
từng tác giả văn học viết nên có những khái niệm và đặc điểm khác nhau của
yêu ma trong tác phẩm văn học của mình. Nhưng nhìn chung, các tác giả đều
gặp gỡ nhau ở một số điểm sau khi viết về ma.
Điều thứ nhất là: ma trong các tác phẩm văn học đều là người (có khi là
động vật, thực vật thành tinh) chết đi, mang nhiều nỗi oan khuất của cuộc
sống dương thế.
Điều cơ bản thứ hai là: các tác giả đã xây dựng lên cuộc sống, sinh hoạt
của các nhân vật yêu ma cũng rất chân thực, gần gũi với cuộc sống con người
(với quan điểm “sống sao thác vậy”). Những yêu ma hiện lên đầy đủ những
khó khăn, lo toan, các cung bậc tình cảm, sự hi vọng, yêu, ghét…
Khi xem xét, tìm hiểu một số tác phẩm văn học viết đề cập đến nhân
vật yêu ma như: Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu), Liêu trai chí dị (Bồ Tùng
Linh), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)…Ta thấy rằng các tác giả không chỉ
đề cập mà còn xây dựng nhân vật yêu ma thành những điển hình nghệ thuật
và là nhân vật trung tâm trong hầu hết các truyện. Việc đi sâu tìm hiểu các tác
phẩm nói trên sẽ giúp chúng ta tìm hiểu rõ ràng và khắc sâu về khái niệm và
đặc điểm của nhân vật yêu ma trong tác phẩm văn học viết nói chung. Do vấn
đề thời gian và phạm vi nghiên cứu đề tài nên người viết chỉ đề cập đến nhân
vật yêu ma trong tác phẩm Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) ở chương sau
của đề tài khoa học này.
1.3. Phân loại nhân vật yêu ma
Tùy theo mỗi nền văn hóa mà ma cũng được đa dạng:
Ở phương Đông:
- Ở Việt Nam có các huyền thoại về ma: ma le, ma xó, ma de, ma
gà, ma trơi…
- Ở Trung Quốc có các cương thi, các oan hồn, hồ ly, yêu tinh…
- Ở Thái Lan có: ma nước, ma vi tính…
Nguyễn Thị Thơm
chúng cũng có suy nghĩ, hành động, nội tâm và có tính cách giống như con
người. Do đó, khi xây dựng kiểu nhân vật này tác giả xây dựng, khắc họa cả
mặt thiện, mặt ác, cả “rồng phượng lẫn rắn rết” trong nhân vật ma. Bởi vậy,
người ta phân loại thành ma thiện và ma ác.
Ma thiện là những con ma tốt, biết giúp người, trả ơn, hiếu nghĩa, thủy
chung, nhân nghĩa…
Ví dụ: Hồn ma của Thạch Mang (Chuyện gã trà đồng giáng sinh).
Nguyễn Thị Thơm
24
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ma cáo, ma vượn (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang)… (Truyền kì
mạn lục – Nguyễn Dữ)
Ma ác là những con ma sống làm nhiều việc ác, chết lại hiện hình, hại
người, nhiều mưu mô, bất nghĩa…
Theo quan niệm phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, những
hồn ma ác sẽ bị đầy xuống địa ngục và không được siêu thoát, đầu thai thành
súc vật…
Ví dụ: Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo, Thị Nghi trong Chuyện yêu
quái ở Xương Giang (Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ).
Cách phân loại thứ hai: Với quan điểm sáng tác “vạn vật hữu linh”
(vạn vật có linh hồn) nên các tác giả của các sáng tác có nhân vật yêu ma
chết, do các hồ nữ (ma cáo), do động, thực vật thành tinh và ngược lại.
Nguyễn Thị Thơm
26
K33A – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT YÊU MA TRONG
TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
2.1 Thống kê nhân vật yêu ma trong Truyền kì mạn lục
S
T
T
1
Truyện
Câu chuyện ở
đền Hạng
Vương
2
Nhị Khanh
*
Nhị Khanh
*
*
Châu
3
Chuyện cây
gạo
4
Chuyện gã trà
đồng giáng
sinh
5
Thạch
Mang
Chuyện kì
Liễu Nhu
của Đào thị
bác Vô Kỉ
Nguyễn Thị Thơm
*
*
27
K33A – Ngữ văn