Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu tình dục trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

NGUYỄN THANH BÌNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC
VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

NGUYỄN THANH BÌNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC
VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Thu Hiền


Nguyễn Thanh Bình


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................9
Chƣơng 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN
LỤC ............................................................................................................................9
1.1. Lý thuyết diễn ngôn. .........................................................................................9
1.2. Đặc trưng của thể loại truyền kỳ. ...................................................................12
1.3. Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. .................................................14
1.3.1. Tác giả Nguyễn Dữ. .................................................................................14
1.3.2. Truyền kỳ mạn lục. ..................................................................................17
Chƣơng 2: TỪ DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC ĐẾN DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/
TÌNH DỤC TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ ...............20
2.1. Diễn ngôn đạo đức trong Truyền kỳ mạn lục. ................................................20
2.1.1.Kỳ thị nữ sắc, điều tiết bản năng .............................................................20
2.1.2. Cảnh tỉnh thói tham lam ..........................................................................25
2.1.3. Cảnh tỉnh thói ghen tuông mù quáng .......................................................26
2.1.4. Trọn đạo hiếu trung, hành xử cẩn trọng .................................................27
2.1.5. Sự chung thuỷ, đức hy sinh của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ
chồng ..................................................................................................................28
2.1.6. Nhân quả báo ứng (của những yêu ma nhiễu dân ..................................30
2.2. Diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong Truyền kỳ mạn lục. ................................31
2.2.1.Yếu tố tính dục trong các câu chuyện tình ...............................................31
2.2.2. Tình yêu tự do nam nữ không chịu ràng buộc ở lễ giáo phong kiến .......37
2.3. Sự vận động của diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu trong Truyền kỳ
mạn lục. .................................................................................................................47
Chƣơng 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC VÀ DIỄN NGÔN

của thể loại văn xuôi trong văn học trung đại. Hơn thế nữa, Truyền kỳ mạn lục được
coi là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam thời trung đại. Tác phẩm
cho thấy sự trưởng thành của văn xuôi trung đại từ văn xuôi mang nặng tính chức
năng sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật. (Văn học chức năng: “văn dĩ tải đạo”, “thi
dĩ ngôn chí” - văn chương có thể tác động làm thay đổi cá nhân, giáo hóa cá nhân).
Đây là giai đoạn văn, sử, triết bất phân; bản chất của quá trình sáng tạo văn học
không phải là hành trình đi tìm cái mới, sáng tạo ra hình thức để tái hiện thực tế…
mà là sự thể nghiệm về đạo, hướng về đạo và đề cao đạo lí. Tác phẩm cho thấy
bước chuyển mình thoát khỏi những ảnh hưởng đậm nét của văn học dân gian và
văn xuôi lịch sử để chuyển sang văn xuôi tự sự.
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm có sức hấp dẫn lạ kỳ. Ngay từ thế kỷ XVI, tác phẩm
đã được Nguyễn Thế Nghi dịch sang chữ Nôm để độc giả có thể thuận tiện trong
việc tìm đọc. Đây là tác phẩm được Vũ Khâm Lân ngợi ca là “Thiên cổ kỳ bút”.
Truyền kỳ mạn lục cũng trở thành đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn đối với
các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản. Những
khuôn mẫu đạo đức vốn được coi là “khuôn vàng thước ngọc” của xã hội phong
kiến được đặt bên cạnh luồng tư tưởng mới mang theo khát khao bản năng của con
người. Vấn đề tình yêu tự do không chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, vấn
đề tình dục trong tình yêu được đề cập đến. Ông đang bảo vệ cho hệ thống tư tưởng
Nho gia hay đang đồng tình với khát vọng yêu đương cháy bỏng - đó có lẽ là câu
hỏi mà nhiều người muốn tìm lời giải đáp. Có khá nhiều nghiên cứu về Truyền kỳ
mạn lục và không ít những ý kiến trái chiều; cũng có rất nhiều cách tiếp cận tác
phẩm này dưới những góc độ khác nhau. Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài:
1


Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục cho luận văn
của mình nhằm hy vọng đem đến một góc nhìn mới cho việc nghiên cứu một tác
phẩm đã được đào xới quá nhiều của văn học trung đại.
2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

trong văn nghệ dân gian” [47, tr. 519]. Mặc dù vậy, Bùi Duy Tân vẫn khẳng định tư
tưởng nhân đạo của Nguyễn Dữ thể hiện trong Truyền kỳ mạn lục, nhất là những
câu chuyện về tình yêu bởi Nguyễn Dữ bày tỏ thái độ cảm thông với những khao
khát yêu đương trần thế ở các nhân vật, Nguyễn Dữ trân trọng sự si tình, hết mình
vì người mình yêu ở nhân vật của mình (không phân biệt người hay ma). Với phần
lời bình ở cuối truyện, Bùi Duy Tân chỉ ra sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn
Dữ vì phần lời bình xuất phát từ “thái độ bảo thủ của Nho giáo”. Đáng tiếc là mâu
thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Dữ chưa được Bùi Duy Tân khai thác một cách
chuyên sâu để lí giải một cách thỏa đáng căn nguyên cũng như đưa đến kết luận
cuối cùng là Nguyễn Dữ có thực sự mang “thái độ bảo thủ của Nho giáo” hay
không.
Kawamoto Kunyé: Những vấn đề khác nhau liên quan đến TKML (Lịch sử
sáng tác, xuất bản và nghiên cứu theo cái nhìn văn học so sánh) [26]. Bài viết của
Kawamoto Kunyé (Đại học tổng hợp Nhật Bản) quan tâm đến việc đánh giá tác
phẩm dưới góc độ một tác phẩm viết lại theo mô hình thể loại, phong cách, đề tài và
môtip của Tiễn đăng tân thoại. Đây là bài tham luận có quan điểm khác với các nhà
nghiên cứu văn học Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, Truyền kỳ
mạn lục quả có những điểm tương đồng về nội dung tư tưởng và nghệ thuật so với
Tiễn đăng tân thoại, nhưng không phải là một tác phẩm mô phỏng lại Tiễn đăng tân
thoại
Trần Thị Băng Thanh khi viết lời tựa cho Truyền kỳ mạn lục đã có cái nhìn
nhân bản khi nhận định về số phận các nhân vật và cách kết thúc truyện. Nếu như
Bùi Duy Tân cho rằng những câu chuyện tình giữa người và ma là những chuyện
tình được miêu tả “trái với đạo lí Nho gia” thì Trần Thị Băng Thanh lại bày tỏ sự
cảm thông với những nhân vật nữ giới dù là chuyện tình yêu của họ có đi ngược lại
lễ giáo phong kiến: “Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ
phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này.
Dưới ngòi bút của ông, họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần,
3


4


tác giả ở cuối mỗi truyện - một đoạn văn nghị luận ngắn (Trừ Cuộc nói chuyện thơ
ở Kim Hoa). Phần lời bình này thể hiện quan điểm của người viết và có mục đích
thuyết giáo. Việc so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục của Trần Ích
Nguyên giúp ta có cái nhìn tổng quát giữa hai tác phẩm này để nhận ra điểm tương
đồng và sự sáng tạo riêng của từng tác giả. Tuy nhiên, bài viết chỉ chú trọng nhiều
đến việc so sánh hai tác phẩm mà không đi sâu nghiên cứu về đặc sắc trong một
khía cạnh cụ thể của Tiễn đăng tân thoại hay Truyền kỳ mạn lục.
Nguyễn Phạm Hùng Với Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ. Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến rất nhiều vấn đề
của tác phẩm và giúp người đọc hiểu thêm khuynh hướng, tư tưởng, nghệ thuật của
nhà văn Nguyễn Dữ. Không chỉ thế, nghiên cứu này còn cho thấy vị trí của Truyền
kỳ mạn lục đối với tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Tuy nhiên, để tìm hiểu một
cách kỹ lưỡng về sự mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Dữ thì bài viết của Nguyễn
Phạm Hùng chưa đề cập tới một cách sâu sắc.
Bài viết Vài nét về truyện truyền kỳ Việt Nam [36], Nguyễn Đăng Na đã bàn
nhiều về vấn đề nhân đạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Theo quan điểm
của Nguyễn đăng Na, những câu chuyện tình táo bạo đậm màu sắc tính dục, vượt ra
khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến cũng là một cách mà Nguyễn Dữ làm
một cuộc thử nghiệm. Nguyễn Dữ để nhân vật của mình tự do phóng khoáng mà
yêu đương; nồng nhiệt, đắm say mà thỏa mãn khát khao tình dục bởi dẫu sao thì kết
cục của họ cũng đều bi đát. Phải chăng sinh ra làm người phụ nữ là đã gánh lấy sự
thiệt thòi vì “Sống đạo đức tử tế đều bị chết oan. Vậy hãy hành động theo ham
muốn của tình dục, theo tiếng gọi của trái tim. Nguyễn Dữ làm cuộc thử nghiệm
ngược lại: cho một số nhân vật phụ nữ sống tự do. Tác giả cho Nhị Khanh (Cây
gạo) sống một cách “thoải mái”, vượt vòng cương tỏa, chạy theo tình dục”[36].
Theo lời Nhị Khanh thì cuộc đời chẳng qua là một giấc chiêm bao ngắn ngủi, trời
cho sống ngày nào thì nên tìm lấy những thú vui kẻo hoài phí một thời xuân tươi

Bài viết của Vũ Thanh: Thể loại truyện kì ảo Việt Nam trung đại- quá trình
nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm [60] giúp ta có cái nhìn toàn diện về thể loại
truyền kỳ. Đồng thời cũng thấy rõ, Truyền kỳ mạn lục cũng như một số tác phẩm
thuộc loại truyện kỳ ảo trung đại Việt Nam có vay mượn từ cốt truyện dân gian,
6


nhưng lời nói, ngôn ngữ kể chuyện và cách miêu tả nhân vật đã có sự khác biệt.
Điều đó càng khẳng định những đóng góp của Nguyễn Dữ: “Chú trọng đến việc
phản ánh những mâu thuẫn bình thường trong đời sống gia đình, cũng như việc đi
sâu khắc họa nội tâm nhân vật đã xác định vị trí người mở đường cho loại truyện
ngắn thế sự trong lịch sử văn học dân tộc của Nguyễn Dữ và khiến cho truyện của
ông trở nên gần gũi với văn xuôi hiện đại”[60, tr754]. Trong bài viết này, tác giả
cũng tìm hiểu sự phát triển của mối quan hệ giữa truyện kì ảo trung đại và văn xuôi
lịch sử để thấy rằng Nguyễn Dữ đã thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn
xuôi lịch sử. Những nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Dữ được xây dựng sáng tạo
thành những hình tượng nghệ thuật. Tất cả những điều đó khẳng định vị trí và
những đóng góp của Nguyễn Dữ đối với văn xuôi trung đại Việt Nam.
Tóm lại, đã có không ít những nhà nghiên cứu với những bài viết có quy mô
về Truyền kỳ mạn lục, tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thật chú ý đến mối quan
hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong tác phẩm này. Bởi
vậy, luận văn của chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và
diễn ngôn tình yêu/ tình dục để lí giải những mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Dữ.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp văn học sử.
- Phương pháp thống kê phân loại: Dựa trên những dữ liệu đã tìm hiểu để phân loại
cho phù hợp với từng tiêu chí.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Trong xã hội phong kiến Việt nam, sự ảnh
hưởng của Nho giáo rất lớn. Hệ thống giáo lý phong kiến đã chi phối cách nhìn
nhận, cách đánh giá của xã hội đối với con người nói chung và người phụ nữ nói

văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi là
diễn ngôn” [53]. Nói cách khác, diễn ngôn là những phát ngôn trực tiếp (lời nói)
hoặc gián tiếp (dưới dạng văn bản mang nghĩa) tác động tới thế giới thực. Như vậy,
diễn ngôn có thể được thể hiện thông qua văn bản (tác phẩm văn học) để thể hiện tư
tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả trước cuộc sống. Bởi vậy, khi tìm hiểu một tác
phẩm, cũng có nghĩa là ta đang tiếp cận diễn ngôn của tác giả đó về một phương
diện nào đó của cuộc sống.
Thứ hai, diễn ngôn như là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa”. Theo Trần
Văn Toàn, “diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được
tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung. Theo
đó, người ta có thể nói đến chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa,
diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học…”
[53]. Như vậy, khi tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, luận văn bàn đến
diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục.
Thứ ba, diễn ngôn “như một hoạt động được kiểm soát/ điều chỉnh nhằm tạo nên
một tập hợp các nhận định”. Nói cách khác, chính những qui tắc, những cấu trúc
được điều chỉnh, kiểm soát sẽ tạo ra các nhận định ( các diễn ngôn).
Như vậy, ba định nghĩa về diễn ngôn của Foucault vừa độc lập, vừa có mối
liên hệ mật thiết với nhau. Trên cơ sở định nghĩa của Foucault về diễn ngôn, chúng
tôi tìm hiểu diễn ngôn trong Truyền kỳ mạn lục. Trước hết, Truyền kỳ mạn lục là tác
phẩm tâm huyết của Nguyễn Dữ nên sẽ là nơi tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm và
cách nhìn về cuộc sống của mình. Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ có “một
9


nhóm các nhận định được cá thể hóa” chẳng hạn như vấn đề bảo vệ hệ thống đạo
đức Nho gia, vấn đề tình yêu/ tình dục. Bởi vậy, tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục cũng là
đi tìm hiểu về diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục được đề cập đến
trong tác phẩm. Diễn ngôn đó không chỉ được nhìn nhận từ phương diện nội dung,
từ tư tưởng của tác phẩm mà còn qua phương diện hình thức tác phẩm (những qui

cảm, khát vọng, sự trao đổi, đối thoại của tác giả được thể hiện. Ví dụ, thông qua
Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương cho thấy số phận bị phụ thuộc của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến, đồng thời bênh vực, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của họ. Bên
cạnh đó, nữ sĩ còn ngầm phê phán xã hội phong kiến bất công khiến cho người phụ
nữ dù có vẻ đẹp, phẩm chất hoàn mĩ thì số phận vẫn bị đặt vào tay nam nhân phong
kiến. GS. Trần Đình Sử nhận định: “Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh
thế giới bằng ngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng…Diễn ngôn kiến tạo bức
tranh thế giới, sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó, ví như thẩm quyền
của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp, của chiến lược, trật tự nhất định.
Dựa vào quyền lực nó có thể là áp đặt, cưỡng bức, bắt học tập, cải tạo, có thể trao
đổi, đối thoại, hoặc có thể trình bày, giải thích để tiếp nhận…”[45] như vậy, ngôn
ngữ chính là chất liệu để kiến tạo bức tranh thế giới, đồng thời thông qua diễn ngôn,
ta có thể đối thoại, trao đổi hoặc bị thuyết phục, bị áp đặt… nếu đó là diễn ngôn có
sức thuyết phục cao. Thông qua diễn ngôn, bức tranh của đời sống sinh động được
kiến tạo một cách rõ nét.
Theo GS. Trần Đình Sử: “Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó
thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn
trong các văn bản. Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể. Diễn
ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ
thống… Diễn ngôn có tính chỉnh thể hữu hạn. Do đó nghiên cứu diễn ngôn không
thoát li văn bản cụ thể, nhưng không giới hạn trong bất cứ văn bản nào, bởi tính liên
văn bản của nó, không câu nệ vào văn bản cụ thể, mà hướng đến khái quát các cơ
chế chung trong việc kiến tạo nên diễn ngôn” [46]
Như vậy, diễn ngôn luôn gắn với thực tiễn giao tiếp của con người trong xã
hội, diễn ngôn được coi là hiện tượng tư tưởng và nghiên cứu diễn ngôn là nghiên
cứu tư tưởng. Diễn ngôn là hoạt động trực tiếp tạo ra hiện thực mà con người sống
11


trong đó với những cung bậc cảm xúc như tin, yêu, giận hờn, căm ghét…Nghiên


nhưng vẫn mang những dấu ấn riêng biệt. Đặc biệt là truyền kỳ ở nước ta chịu ảnh
hưởng lớn từ văn học dân gian Việt Nam. Nói cách khác, trong quá trình phát triển,
thể loại truyền kỳ ngày càng hoàn thiện bằng cách tiếp thu một số thành tố dân gian
như mô típ, đề tài, cốt truyện sau đó phát triển thành tác phẩm văn học viết có tính
hoàn chỉnh về nội dung và nghệ thuật với kết cấu chặt chẽ và phần lời bình ở cuối
truyện (có những truyện không có phần lời bình).
Theo Nguyễn Đăng Na: “Tuy là văn học viết, nhưng truyền kỳ dựa trên cơ sở
truyền thống tự sự dân gian, khai thác các môtip, nhân vật, cốt truyện, thậm chí cả
lối kể dân gian. Cho nên, muốn tìm nét đặc trưng hoặc so sánh ảnh hưởng của
truyền kỳ giữa các dân tộc trong khu vực đồng văn, một nguyên tắc bắt buộc là phải
xuất phát từ kho tàng truyện dân gian của dân tộc đó. Truyền kỳ lấy yếu tố kỳ ảo
làm phương thức thể hiện nội dung. Nhưng, mức độ của cái kỳ ảo phụ thuộc vào
truyền thống thẩm mĩ dân tộc và nhu cầu lịch sử của dân tộc ấy. Như vậy phải bám
sát lịch sử và truyền thống thẩm mĩ dân tộc khi nghiên cứu truyền kỳ của họ” [36].
Trong truyện truyền kỳ, hệ thống các nhân vật người thường được xây dựng song
song với các nhân vật kỳ ảo (ma nữ, tiên, yêu hoa) để thông qua đó phản ánh những
vấn đề có tính chất hiện thực. “Truyền kỳ” là truyền đi sự lạ, truyền đi những
chuyện ít thấy, những chuyện biến hóa khác thường, những chuyện không có thật
(nhấn mạnh tính hư cấu). Đặc trưng về mặt hình thức của thể loại truyền kỳ: sự kết
hợp giữa văn xuôi và thơ. Nhờ đôi cánh kỳ ảo, người đọc có thể bay vào một thế
giới chỉ có trong tưởng tượng. Đó có thể là thế giới bồng lai tiên cảnh đáng mơ ước;
đó cũng có thể là thế giới của ma quỷ chốn âm ti địa phủ rùng rợn. Nhưng dù là thế
giới nào đi chăng nữa thì đó cũng là những khung trời mới lạ để thỏa sức tưởng
tưởng; để thoải mái khám phá. Đó là khung trời không chịu bất cứ ràng buộc khắc
nghiệt nào của lễ giáo phong kiến; là thế giới mà cái tôi trần thế, trần tục nhất của
con người lại mượn loài yêu ma mà bộc lộ rõ rệt; là thế giới hình chiếu của hiện
thực với muôn trò bất công được vạch trần- nơi kẻ có quyền tước lợi dụng chức vụ
để lộng hành, nơi những thánh thần cũng ăn của hối lộ, cũng ăn trộm vì đói
khát…Cả một thế giới sinh động được gửi gắm thông qua thể loại truyền kỳ. Bởi

Tóm lại, thời đại Nguyễn Dữ sống là thời đại đầy biến động với bao phen
thay đổi sơn hà. Không chỉ khủng hoảng về chính trị, lòng tin về những thiết chế
14


đạo đức cũng có dấu hiệu lung lay. Bộ luật Hồng Đức khắt khe càng bóp nghẹt
quyền tự do cá nhân bao nhiêu thì lại càng làm dấy lên khát vọng “tháo cũi sổ lồng”
bấy nhiêu. Vậy nên, trong tác phẩm của mình, những tư tưởng phóng khoáng đối
chọi với những luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến phải chăng là biểu hiện của
tinh thần phản kháng mãnh liệt. Con người cá nhân không phải lúc nào cũng o ép
mình trong lễ giáo cương thường. Họ cũng cần một khoảng trời riêng để cho tình
cảm tự nhiên bay bổng và tư tưởng Lão - Trang, Phật xuất hiện như một cứu cánh.
Khi xã hội rối ren kéo theo bao nhiêu tệ trạng khôn lường, những cương thường lễ
giáo bị đảo lộn, những mặt trái của xã hội bị phơi bày ra ánh sáng. Ngay tầng lớp
quan lại, nho sĩ cũng làm những việc trái với luân thường, làm nghiêng ngả bức
tường thành tư tưởng vững chắc của nho gia đã tồn tại vững chắc bấy lâu. Đạo Lão
và Đạo Phật đã dần dần lấy lại địa bàn tâm linh đã mất của mình. Trong Truyền kỳ
mạn lục, những lời bình cuối truyện của Nguyễn Dữ để thuyết pháp các quan điểm
đạo đức Nho gia, để diễn ngôn đạo đức cũng không đủ sức lấn lướt luồng tư tưởng
phóng khoáng thấm đẫm trong các câu chuyện. Cuối thế kỷ XVI, nội thương và
ngoại thương phát triển khá mạnh. Những thương nhân nước ngoài đã tụ hội lập
phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài. Tư tưởng thị dân bắt đầu xâm lấn vào từng ngõ
ngách góp phần làm nghiêng đổ những quan niệm cổ hủ của Nho gia. Người ta nhận
thấy rằng, cuộc sống quá bó khuôn trong những định kiến, những cương thường sẽ
bóp nghẹt những khát khao của con người. Họ suy nghĩ phóng khoáng hơn, tự do
hơn và quan tâm đến hạnh phúc cá nhân nhiều hơn.
Trước thời đại đầy biến động như vậy, Nguyễn Dữ vốn sinh ra từ cửa Khổng,
sân Trình, ông luôn mang trong mình khát vọng nhập thế giúp đời. Ông cũng từng
làm quan một năm sau đó chọn con đường lui về ở ẩn. Nguyễn Dữ tìm đến văn
chương như một tất yếu để giải tỏa nỗi lòng. Sự mâu thuẫn trong tư tưởng đạo đức

trị, triều đại đang cầm quyền bị coi là không chính thống hoặc triều đình đang bị
quyền thần lũng đoạn và đôi khi có những lí do riêng của giòng họ hay của bản thân
khiến cho họ khó xử trong quan hệ với triều đình” [60, tr 45] Ý kiến của nhà nghiên
cứu Trần Ngọc Vương đã tổng hợp các lí do khiến Nguyễn Dữ từ quan, tuy nhiên
không chốt một nguyên nhân nào cụ thể. Phải chăng khi hăm hở làm quan với lí
tưởng giúp vua cứu đời, Nguyễn Dữ đã va ngay phải hiện thực tàn nhẫn của cục
16


diện chính trị. Điều đó khiến bao nhiêu lí tưởng sụp đổ, bao nhiêu hoài bão thời trai
trẻ tan biến. Nguyễn Dữ cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn cho mình cuộc sống
ẩn dật để giữ tâm thanh thản. Về quê, Nguyễn Dữ mở trường dạy học và dành nhiều
thời gian viết Truyền kỳ mạn lục. Trong Truyền kỳ mạn lục, không ít tác phẩm cho
thấy lòng tin vào chính quyền đương thời bị lung lay. Phải chăng, chứng kiến cảnh
triều cương nhiễu loạn, ngoại bang lăm le, lòng người hiểm ác…Nguyễn Dữ đã bắt
đầu nhận ra những hạn chế của bộ máy cai trị cũng như hạn chế của tư tưởng Nho
gia. Thế nhưng vốn xuất thân từ gia đình khoa bảng, lại được coi là đứa con đẻ của
chế độ phong kiến, những giáo lí, cương thường, những quy tắc hành xử của nho
giáo ăn sâu vào máu thịt Nguyễn Dữ, ông vẫn muốn vãn hồi, vẫn muốn thuyết giáo
cho những tư tưởng đạo đức Nho gia. Tuy nhiên ngòi bút của Nguyễn Dữ ít nhiều
ảnh hưởng của lối sống thị dân nên khi viết về những câu chuyện yêu đương rất
phóng túng, thậm chí có những chuyện còn cất cao đôi cánh cho những tư tưởng
phóng khoáng về tình yêu/ tình dục. Đó là những điều khiến Nguyễn Dữ như bức
tượng đài của tư tưởng đạo đức phong kiến nghiêm nghị nhưng lại đang mỉm cười
đón luồng gió mới cách tân.
1.3.2. Truyền kỳ mạn lục
Là tác phẩm viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện ra đời vào nửa đầu thế kỷ
XVI. Truỳên kỳ mạn lục với nghĩa là sao chép tản mạn những chuyện lạ. Tuy nhiên,
Truyền kỳ mạn lục dù có nghĩa là sao chép tản mạn những chuyện lạ nhưng không
phải là một công trình sưu tập bình thường mà thực sự là một sáng tác văn học đầy

tình dục. Giá trị hiện thực sâu sắc đã góp phần lật tẩy bộ mặt thối nát của xã hội
phong kiến đương thời khi những bậc đức cao vọng trọng làm trò đồi bại (Thần
Thuồng luồng, nho sĩ, quan lại, sư sãi…). Giá trị nhân đạo được tô đậm khi Nguyễn
Dữ bênh vực những người thấp cổ bé họng (đặc biệt là người phụ nữ). Hơn thế nữa,
Nguyễn Dữ đồng tình với những khát vọng về tình yêu tự do không chịu ràng buộc
bởi lễ giáo phong kiến, ông cũng để một khoảng trống cho những khát khao nhục
dục trần thế nhất thỏa sức tung hoành trên bầu trời hà khắc của lễ giáo phong kiến.
Những phát ngôn có tính chất “nổi loạn” mặc nhiên được công khai. Và dù không
trực tiếp thì sắc thái phê phán đối với những thế lực chà đạp lên quyền sống của con
người cũng được thể hiện. Hơn thế nữa, khi bày tỏ sự đồng tình với khát khao về
18


tình yêu, sự hòa hợp về tình dục, những tác phẩm của Nguyễn Dữ còn lấp lánh ánh
sáng của chủ nghĩa nhân bản. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học trung
đại, quyền được yêu (cả thể xác lẫn linh hồn) được thể hiện táo bạo và trực tiếp. Nói
cách khác, Truyền kỳ mạn lục là đứa con tinh thần của Nguyên Dữ để phát ngôn cho
những tư tưởng của ông (dù trực tiếp, dù gián tiếp). Thông qua Truyền kỳ mạn lục,
diễn ngôn về đạo đức, diễn ngôn về tình yêu/ tình dục được thể hiện.
Tiểu kết: Ở chương 1, luận văn đã tìm hiểu và trình bày một số vấn đề lý thuyết
diễn ngôn, tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. Từ lý thuyết diễn
ngôn, ta thấy rằng đối với một nhà văn, diễn ngôn chính là tư tưởng mà tác giả gửi
gắm trong tác phẩm của mình. Thông qua thời đại mà Nguyễn Dữ sống, thông qua
cuộc đời của ông, thông qua những đặc trưng của thể loại truyền kỳ và tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; ta có thể thấy được sự mâu thuẫn trong tư tưởng
của ông. Nguyễn Dữ sinh ra và lớn lên trong một thời đại có những biến động dữ
dội. Bản thân Nguyễn Dữ vẫn luôn muốn bảo vệ, củng cố hệ tư tưởng nho giáo. Tuy
nhiên, hệ thống tư tưởng nho gia đã bộc lộ những khiếm khuyết không thể phủ nhận
và Phật giáo, Đạo giáo đang dần lấy lại địa bàn đã mất của mình. Tư tưởng thị dân
dần lớn mạnh nhờ những thay đổi về xã hội. Một mặt ông truyền tải diễn ngôn đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status