Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết văn học dân tộc_3 pot - Pdf 19

Mối quan hệ giữa văn học dân gian và
văn học viết văn học dân tộc

Cặp khái niệm trên xuất hiện chủ yếu là dựa trên phương thức tồn tại của
hai loại hình văn học. Cặp khái niệm sau chủ yếu lại muốn bộc lộ bản
chất giai cấp của hai loại hình văn học đó. Loại thứ nhất là của quần
chúng bị áp bức. Loại thứ hai là của tầng lớp trên trong xã hội xưa.
Trong thực tế nghiên cứu văn học lâu nay, đó đây hình như có xu hướng
đối lập một cách cực đoan, giả tạo hai loại hình văn học này. Sự thật thì
quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là quan hệ hai mặt: vừa
đối lập vừa tương hỗ. Trong thực tiễn nghiên cứu, từng có khuynh
hướng chú ý nhiều và chú ý một cách máy móc tới mặt thứ nhất mà
không thấy hoặc coi nhẹ mặt thứ hai. Để thấy rõ mặt thứ hai, cần biết
cùng với thuật ngữ phôncơlo (folklor) còn có thuật ngữ phôncơlôric
(folklorique: tính chất dân gian) để chỉ hiện tượng những tác phẩm văn
học viết (văn học bác học) có nội dung, có yếu tố văn học dân gian, ghi
chép nội dung văn học dân gian ví như Việt Điện u linh tập của Lý Tế
Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp Thuật ngữ
phôncơlôridê (folkloríser: dân gian hoá) để chỉ hiện tượng một tác phẩm
văn học viết hoặc một bộ phận của một tác phẩm văn học viết chuyển
nhập vào kho tàng văn học dân gian.Truyện Kiều của Nguyễn Du là một
ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng một tác phẩm văn học bác học đã được
dân gian hoá một cách cao độ hiếm có. Nó được dân gian hoá bằng
nhiều phương diện, nhiều hình thức biểu hiện trong đó chuyện bói Kiều
là điều đáng nói nhất. Một số tác phẩm từng được coi là ca dao như bài
Cảnh Tây Hồ (Gíó đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà
Thọ Xương ) mà nay đã biết tác giả của nó là Dương Khuê, bài “Anh đi
anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương mà nay biết
tác giả của nó là Trần Tuấn Khải chính là hiện tượng một tác phẩm
văn học viết đã được dân gian hoá. Sơ bộ có thể nói mối quan hệ tương
hỗ giữa văn học dân gian với nền văn học viết đã diễn ra theo qui luật

phôncơloridê và cả hai đều có khả năng phong phú hơn lên. Chính nhìn
thấy đặc điểm đó trong sự vận động của lịch sử văn học dân tộc, của mối
quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết mà nhà nghiên cứu văn
học quá cố Cao Huy Đỉnh đã gọi thể loại truyện nôm bình dân là “văn
học thành văn của quần chúng” trong khi nhà nghiên cứu Hoàng Hữu
Yên trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam thuộc tủ sách Đại học
Tổng hợp Hà Nội cũ xuất bản năm1963 thì coi đó là văn học dân gian và
nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dũng (sau này lấy bút danh Từ Sơn) lại
cho là sai, bởi theo ông nó là văn học viết. Văn học chữ quốc ngữ ra đời.
Xét trên lý thuyết thì khả năng tăng cường mối quan hệ giữa văn học dân
gian và văn học viết sẽ cao hơn vì với văn tự chữ quốc ngữ dù sao đối
với quần chúng cũng dễ chiếm lĩnh hơn so với chữ Nôm đặc biệt là so
với chữ Hán. Mà về thực tế, sơ bộ cũng thấy như vậy qua mấy hiện
tượng tiêu biểu như sau:

- Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc
này bắt đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác
phẩm như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, được tiếp tục với một số
người ở nửa đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ
nước Nam, Đông Tây ngụ ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì
công việc này đã đạt tới những thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch
sử Việt Nam chưa bao giờ văn học dân gian bao gồm văn học dân gian
của người Kinh, đặc biệt là văn học dân gian của các dân tộc ít người lại
được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại ngày nay do có chữ quốc
ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con người một khi đã tự giác
sâu sắc về kho báu văn học dân gian.

- Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện
đại. Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng
cho thơ ca bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong

dân gian là thế nào? Văn học dân gian có còn đóng vai trò làm nền kết
tinh cho văn học viết nữa không? Qủa thật đây cũng lại là một vấn đề rất
thú vị, nhưng rất phức tạp. Bởi lẽ chung quanh vấn đề có hay không có
văn học dân gian trong thời hiện đại, và nếu có thì việc đánh giá nó thế
nào đã là có chuyện tranh chấp nhau khá gay gắt, thậm chí có thể qui kết
nhau khá nặng nề. Không phải không có người đã cho rằng duới chế độ
mới mà nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước
trong đó có sự làm chủ về văn hoá thì còn gì phải có văn học dân gian.
Nếu có thì đó chỉ là tiếng nói phản động cần lên án, cần loại bỏ. Đây là
cách nói của một vài người trên báo chí mà trong bối cảnh xã hội một
thời, nó dường như là tiếng nói chính thống do đó không phải không có
người đồng tình, ít ra thì cũng không dám phản bác. Đến hôm nay thì
chắc là không ai nghĩ đơn giản và thô thiển như thế nữa một khi đã thấy
sự có mặt của văn học dân gian hiện đại dưới hình thức ca dao hò vè,
nhất là giai thoại, truyện kể với đủ nội dung trong đó có cả nội dung
chọc trời, nói là táo bạo cũng được, nói là trắng trợn được. Có điều là
dường như với các nhà nghiên cứu văn học dân gian vẫn chưa hết ngợp
trước hiện tượng vốn dĩ nhạy cảm, phức tạp đó. Cho nên ở đây cũng khó
nói được gì hơn. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng, gì thì gì, mối quan hệ giữa
văn học dân gian (nếu có thừa nhận) với văn học viết trong thời hiện đại
này về cơ bản đã khác trước. Bởi trong thời hiện đại này, dù còn nhiều
hạn chế trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng không
có nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung,
trong văn hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa
văn học của mọi tầng lớp nhân dân trong một đất nước. Và như thế thiết
tưởng cũng khó nói đến cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian
đối với nền văn học viết như ở các thời đại trước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status