ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ MÔI TRƯỜNG
I. Một số khái niệm cần nắm:
1. Môi trường
2. Ô nhiêm môi trường
3. Sự cố môi trường
4. Tài nguyên và cạn kiệt tài nguyên
II. Mối quan hệ giữa dân số và môi trường
1. Tình hình biến động dân số trên toàn thế giới
2. Tác động của dân số đến mối trường
2.1. Tác động trực tiếp
2.2. Tác động gián tiếp
2.2.1. Tác động đến tài nguyên thiên nhiên
2.2.2. Ô nhiễm môi trường
3. Tác động của môi trường đến dân số
3.1. Tác động của tài nguyên môi trường đến mức sinh
3.2. Tác động của tài nguyên môi trường đến mức chết
3.3. Tác động của tài nguyên môi trường đến di dân
3.4 Tác động của tài nguyên, môi trường đến chất lượng dân số
III. Mối quan hệ giữa dân số - môi trường - phát triển bền vững
1. Tổng quan về phát triển bền vững
2. Tác động qua lại giữa dân số, môi trường và phát triển bền vững
IV. Thực trạng về vấn đề dân số - môi trường và phát triển bền vững tại
Việt Nam
1. Thực trạng dân số
2. Tài nguyên, môi trường
3. Dân số - môi trường – phát triển bền vững tại nước ta
V. Phương hướng giải quyết
VI. Kết luận
NHÓM 13
BÀI THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ MÔI TRƯỜNG
hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con
người và sinh vật trong môi trường đó. Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác)
hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực
phẩm), hoặc chất khí (SO
2
trong núi lửa phun, NO
2
trong khói xe, CO từ khói đun …),
các kim loại nặng như chì, đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như
thăng hoa hay ở dạng trung gian.
Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên
3. Sự cố môi trường
Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của
con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm
trọng. Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
+ Bão, lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa acid,
mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
+ Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất,
kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng;
+ Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập
hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở
lọc hóa dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
+Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế
nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.
4. Tài nguyên và cạn kiệt tài nguyên
"Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật
chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người".
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát triển,
yếu tố này có mối liên hệ đến sự phát triển của yếu tố kia: Sự biến động của dân số có
tác động tiêu cực hay tích cực và sự phát triển bền vững hay không bền vững của môi
trường, tài nguyên cũng có tác động ngược lại ở xã hội loài người ở cả hai mặt. Từ
những thực trạng môi trường và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống người dân chúng ta
thấy rằng, môi trường có tác động rất lớn và trực tiếp đến chất lượng dân số. Chất
lượng môi trường và chất lượng dân số có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chất
lượng môi trường là cơ sở cho chất lượng dân số, còn chất lượng dân số là tiền đề cho
chất lượng môi trường.
Các quá trình dân số
- Sinh
- Chết
- Di dân
Các kết quả dân sô
- Quy mô dân số
- Cơ cấu dân số theo tuổi , giới tính
- Phân bố dân số
- Chất lượng dân số
Chất lượng tài nguyên môi trường
- Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng sản,
nguyên nhiên liệu, năng lượng
- Cạn kiệt và ô nhiêm môi trường tài nguyên đất
- Cạn kiệt và ô nhiễm môi trường tài nguyên
nước
- Ô nhiễm không khí và khí hâu biến đổi
- Hệ sinh thái rừng, đồng cỏ, thảm thực vật,
động vật biến đổi
- Ô nhiếm thực phẩm, độ rung tiếng ồn, điện từ
trường tăng lên…
Các quá trình của tài nguyên môi trường
Khai thác tài nguyên khoáng sản, nguyên
Liberia, Niger, Đông Timor và Uganda dự đoán sẽ tăng ít nhất 3 lần vào giữa thế kỷ
này.
Cứ 4 ngày thì thế giới bổ sung thêm 1 triệu người hay nói cách khác thì mỗi giây
có 3 người trào đời. Chính sự gia tăng dân số làm ảnh hưởng đến sản lượng lương
thực, thực phẩm. Có khoảng 88 nước trên thế giới đang ở tình trạng nghèo đói, trong
dó Châu Phi chiếm tới một nửa.
2. Tác động của dân số đến môi trường
2.1. Tác động trực tiếp
Từ khi con người xuất hiện, nhất là sau khi cuộc đại công nghiệp bắt đầu xảy ra
trên thế giới, cùng với sự gia tăng dân số nhanh môi trường sống tương đối ổn định
trước đây của các loài sinh vật bắt đầu bị chấn động, con người đã tác động và gây ra
nhiêu biến đổi đáng kể đối với môi trường.
Ảnh hưởng trực tiếp của dân số đến môi trường chủ yếu là do hoạt động sinh lý, tự
nhiên của con người trong quá trình sống gây nên. Con người muốn tồn tại và phát
triển đều phải sử dụng các nguồn lương thực, thực phẩm để ăn, nước để uống, không
khí để thở, quần áo mặc, nhà để ở, phương tiện giao thông đi lại… trong quá trình đó,
cơ thể con người thải ra những chất cặn bã ra ngoài môi trường. Chất cặn bã thải ra
môi trường sinh hoạt nếu không được xử lý tốt sẽ làm cho môi trường bị ô nhiễm,
nguồn gốc gây ra nhiều loại bệnh tật có hại cho sức khỏe.
Trong quá trình sống hàng ngày, con người vừa thường xuyên dung nạp một phần
năng lượng nhưng đồng thời cũng tiêu hao một phần năng lượng. Trong quá trình đó
cơ thể con người luôn tỏa ra một lượng nhiệt năng ra môi trường xung quanh làm cho
nhiệt độ không khí trong môi trường tăng lên. Nhiệt độ không khí ở đô thị có thể nóng
hơn các vùng nông thôn xung quanh tới 5 độ C một khi thảm che phủ đất tự nhiên bị
thay thế bằng đường xá và các tòa nhà.Bên cạnh đó, mỗi ngày một người lớn hít vào
khoảng 100 lít không khí và thở ra lượng khí cacbonic cũng nhiều tương ứng. Khí
cacbonic thải ra và tụ lại tập trung nhiều tại một chỗ sẽ làm vẩn đục không khí gây
cảm giác khó chịu.
Tóm lại, cơ thể con người cũng là một nguồn gây ô nhiễm, do vậy khi số lượng dân
cư càng tăng cao thì sẽ có những tác động đến môi trường phát sinh trực tiếp từ cơ thể
- Sự tiêu thụ nguồn nhiên liệu như than, khí và dầu lửa cũng tăng khoảng 700% từ
năm 1961-2000
a. Cạn kiệt tài nguyên đất
Đất là nguồn tài nguyên vô giá đang bị xâm hại nặng nề. Diện tích đất đai bình
quân trên một đầu người ngày càng thu hẹp mà nguyên nhân cơ bản nhất chính là vấn
đề tăng dân số một cách nhanh chóng trên toàn thế giới, trong đó các quốc gia đang
pát triển và kém phát triển là có tỷ lệ tăng dân số mạnh mẽ nhất.
Do các yếu tố mức sinh, mức chết, di dân và một só yếu tố khác, diện tích đất phân
bố rất không đồng đều trên toàn thế giới: hiện nay diện tích các thàn phố trên thế giới
chiếm 0,3% diện tích trái đất và 40% dân số thế giới. Diện tích trên Trái đất với hơn
70% là đại dương còn lại là đất liền nhưng con người chỉ cư trú được với 1 diện tích
chiếm 32% diện tích đất liền, mặt khác dân số lại phân bố không đồng đều ở các quốc
gia. Các nước kém phát triển hoặc đang phát triển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều
so với các quốc gia phát triển.
Số liệu của Liên Hợp Quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có khoảng
10 ha đất trở thành sa mạc. Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5
ha/ người xuống còn 0,2 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn khoảng
0,14 ha/ đầu người
Bảng 1: Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới
Năm tính -10^6 -10 ^5 - 10^4 0 1650 1840 1930 1994 2010
Dân số
(triệu)
0,125 1,0 5,0 200 545 1000 2000 5000 7000
Diện tích
(ha/ người)
12.10^4 15000 3000 75 27,5 15 7,5 3,0 1,88
b. Cạn kiệt tài nguyên nước
Nước vừa là nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn tài nguyên
đặc biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu đang ngày càng
Hậu quả là 1/5 chủng loại cá đã tiệt chủng hoặc đang bên bờ tuyệt chủng. Sông
Jordan (bang Utah, Mỹ) và sông Rio Grande (biên giới Mỹ- Mexico) được xem là 2
con sông cạn nhất so với chiều dài của nó. Tại Anh, ¼ tổng số 160 con sông của nước
này đan cạn dần do quá nhiều nhà cửa và do các ngành nông nghiệp, công nghiệp phát
triển tạo ra chướng ngại vật.
c. Cạn kiệt tài nguyên khoáng sản
Do sức ép phải thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của số lượng dân
số đông về nguồn khoáng sản không những gây nên tình trạng căng thẳng lâu dài đối
với việc cung cấp nguồn lực mà còn gây ra vấn đề sinh thái nghiêm trong.
Dân số tăng lên đi đôi với việc túc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa làm cho
nhu cầu và mức độ tiêu dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, nhiên
liệu… không ngừng tăng theo. Để đáp ứng nhưng nhu cầu đó, một mặt phải mở rộng
quy mô phạm vi khai thác đông thời tìm cách thay thế bằng các dạng năng lượng,
nguyên liệu mới. Cả hai quá trình này đều nhất thiết phải tác động vào môi trường và
nhất thiết sẽ gây ra những hậu quả biến đổi nhất định trong môi trường.
- Việc tiêu dùng của sô lượng dân cư ngày càng gia tăng sẽ làm tiêu hao nguồn
khoáng sản, dẫn đến thiếu hụt nguồn lực khoáng sản
- Hiện tượng khai thác khoáng sản bừa bãi không hợp lý, hiệu quẳ dụng khoáng sản
thấp, nguồn khoáng sản bị thất thoát lớn dẫn đến các mỏ khoáng sản nhanh chóng trở
nên ngèo nàn, cạn kiệt và làm cho mối quan hệ giữa dân số và khoáng sản trong tương
lai càng trở nên trầm trọng.
- Để đáp ứng nhu cầu số lượng dân dân số đông đòi hỏi phải tiêu dùng một khối lượng
khoáng sản và sản phẩm khoáng sản lớn, tạo ra và đưa vào môi trường một lượng lớn
nước thải, khí thải, vật thải… làm ô nhiễm môi trường
d. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học
Không gian sống của con người luôn luôn cần mở rộng. Do đó con người luôn
giành giật với sinh vật và diển hình là tình trạng phá rừng diễn ra khắp nơi trên thế
giới.
Nhiều diện tich rừng bị phá hoại nghiêm trong. Con người phá rừng với các mục
đích mở rộng diện tích đất nông nghiêp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực thực
con người. Dân số càng tăng thì mức độ ô nhiễm càng cao và chính con người là chủ
thể tạo ra ô nhiễm do các hoạt động của mình.
Rác thải, nước thải và các khí thải từ các khu dân cư nhà máy công sở, trường học,
bệnh viện hàng ngày làm cho môi trường ngày càng xấu đi. Trong các loại chất thải,
có nhiều chất rất độc, khó hay không bị phân hủy sinh học.
Một ví dụ, ở Thái Lan có 80 ngàn nhà máy, trong đó có 20 ngàn nhà máy nằm ở
Bangkok và các thành phố lân cận. Các chất thải độc hại năm 1986 là 1,2 triệu tấn.
Tính đến năm 2001, lượng chất thải sẽ tăng lến 6 triệu tấn/ năm.
Mưa axit, mỏng màn ozon, thay đổi khí hậu toàn cầu là hậu quả đáng ngại của sự
phát triển của xã hội loài người. Cùng với ô nhiễm nước, đất và không khí chúng kìm
hãm và đe dạ sự phát triển của con người.
Ô nhiễm môi trường làm cho chất lượng môi trường nói chung xuống cấp. Quá
trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh thường dẫn đến ô nhiễm các thành phần
môi trường như nước, đất và không khí… nhiều vấn đề vệ sinh môi trường phức tạp
đã phát sinh ở các khu vực thành thị.
Năm 1950, cứ 3 người thì có gần một người sống ở thành phố hay thị trấn. Hiện
nay, gần nửa dân số thế giới sống ở đô thị. Đén năm 2030, tỷ lệ này sẽ lag hơn 60%.
Trong ¼ thế kỷ tới, tăng dân số hầu hết diễn ra ở các đô thị thuộc các nước kém phát
triển. Tăng dân số nhanh nhất sẽ diễn ra ở các đô thị có số dân dưới 500 000 người
chứ không phải ở các thành phố lớn hơn.
Năm 2000, thế giới có 402 thành phố có số dân từ 1 đến 5 triệu người; và 22 thành
phố có số dân từ 5 đén 10 triệu người. Năm 1950, New York là thành phố duy nhất có
số dân hơn 10 triệu người. Đến năm 2015, có 23 thành phố như New York, trong đó
có 19 thành phố ở các nước đang phát triển. Tại các nước phát triển hơn, 75% dân số
sống trong đô thị. Ở châu Á, tỷ lệ này là dưới 40%, nhưng số dân đô thị của các khu
vực này là 1,5 tỷ người, nhiều hơn Châu Âu, Châu Mỹ Latinh, Châu Đại Dương và
Bắc Mỹ cộng lại. Châu Phi là châu lục có tốc độ đô thị hóa thấp nhất, song dân số đô
thị tăng nhanh nhất.
Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ
phát sinh chất thải tính theo đầu người tăng lên. Dân thành thị ở các nước phát triển
CO Bụi SO4 CnHm NOx
1. Giao thông vận tải
- Ô tô chảy xăng
- Ô tô chảy dầu diezen
- Máy bay
- Tàu hỏa và các loại khác
Tổng
53,5
0,2
2,4
2,0
58,1
0,5
0,3
0
0,4
1,2
0,2
0,1
0
0,5
0,8
13,8
0,4
0,3
0,6
15,1
6,0
0,5
0
4,1
0,2
8,8
3.Quá trình sản xuất công nghiệp 8,8 6,8 6,6 4,2 0,2
4. Xử lý chất thải rắn 7,1 1,0 1,5 1,5 0,5
5. Hoạt động khác
- Cháy rừng
- Đốt các sản phẩm
- Đốt rác thải
- Hàn đốt xây dựng
Tổng
6,5
7,5
1,1
0,2
15,3
6,1
2,2
0,4
0,1
8,8
0
0
0.5
0
0,5
2,0
1,5
0,2
0,1
ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của sinh vật. Khi sự thay đổi này vượt quá
một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm đã ở mức nguy hiểm và gây ra những hậu quả
đáng kể.
Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước hầu hết là do hoạt động sản xuất và sinh
hoạt của con người tạo nên như: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải
nông nghiệp… gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, biển…
Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thủy sinh vật và việc sử dụng
nguồn nước vào mục đích cấp thiết. Khối lượng nước thải này đang và sẽ làm nhiều
nguồn nước trên phạm vi lớn ô nhiễm nghiêm trong, đặc biệt là các sông, hồ trong các
đô thị lớn.
Trong những thập niên 60 trở lại đây, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ
thuật công nghệ:
- Tại Anh quốc, đầu thế kỷ 19 sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ thiên
vào giữa thế kỷ này. Các sông khác ở đây cũng có tình trạng tương tự trước khi người
ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nhiêm ngặt.
- Nước Pháp rộng hơn với nhiều sông rộng lớn tuy nhiên đến cuối thế kỷ 18 các sông
lớn và nước ngầm nhiều nơi đã không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000
km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính.
- Hoa Kỳ: vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm
trong
- Ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm, TQ gây ô nhiễm
sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô nhiễm gấp 50 lần cho phép.
c. Ô nhiễm đất
Ô nhiễm đất đai cũng là một trong những vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt
trong việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học. Ô nhiễm đất không chỉ ảnh hưởng
xấu đến sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản mà còn thông qua lương thực
rau quả ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người.
- Ô nhiễm đất do nước thải: do không biết sử dụng nguồn nước thải một cách khoa
học để tưới cho cây trồng, sử dụng những nguồn nước thải chưa qua xử lý cần thiết,
nhiều bị ảnh hưởng, nhưng nhờ việc khai thác đó mà thúc đẩy được sản xuất phát
triển, cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân. Mức sống người dân được cải
thiện góp phần tích cực điều chỉnh các quá trình dân sốm trong đó có mức sinh, nâng
cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực.
- Môi trường sống bị ô nhiễm dẫn tới rủi ro trong cuộc sống lớn, bệnh tật và mức chết
tăng lên đặc biệt là rủi ro về chết của trẻ em và người già cao, điều này kích thích tâm
lý người dân phải sinh đẻ nhiều để đề phòng rủi ro xấu. Điều này kích thích mức sinh
làm gia tăng dân số.
- Do việc khai thác thác quá mức dẫn tới nhiều nơi bị cạn kiệt tài nguyên, đất đai bạc
màu không thể canh tác hoặc ô nhiễm nguồn nước ngọt không đủ nguồn nước phục vụ
cho tưới tiêu hay hiện tượng nước biển dâng khiến cho diện tích đất liền suy giảm đẫn
tới cuộc sống của con người trở nên nghèo đói, khó khăn. Đói nghèo, thất nghiệp,
bệnh tật dẫn tới rủi ro chết luôn thường trực kéo theo mức sinh đẻ tăng cao.
3.2. Tác động của tài nguyên môi trường đến mức chết
- Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến mức chết, dễ nhận thấy nhất là chết do thiên
tai, thảm họa có nguyên nhân tự nhiên. Khi hệ sinh thái môi trường bị biến đổi, gây
nên nhiều thảm họa tự nhiên giết chết hàng loạt người trong một khoảng thời gian
ngắn như bão tố, cháy rừng, lũ lụt, động đất, núi lửa, sóng thần…
Có thể thấy những trận động đất kinh hoàng tại Nhật Bản như trận động đất năm 1923
tại Kanto mạnh 7,9 độ Richter làm rung chuyển toàn bộ khu vực Tokyo - Yokohama.
Rung chấn khiến hầu hết các tòa nhà sụp đổ và kéo theo một cơn sóng thần cao 12 m.
Một loạt trận hỏa hoạn diễn ra sau vụ động đất khiến 90% các tòa nhà của Yokohama
bị hư hỏng nặng, khoảng 2/5 thành phố Tokyo bị phá hủy, một nửa dân số bị mất nhà
cửa, gần 143.000 người chết.
-Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng gián tiếp đến gây nên cái chết của rất nhiều người
dân như nhưng căn bệnh bắt nguồn từ hậu quả khủng hoảng môi trường (như bệnh
ung thư, viêm phổi, , hoặc có thể làm xuất hiện nhiều bệnh dịch mới, lạ, tốc độ lây lan
nhanh, rộng, tái xuất dịch bệnh với mức độ nguy hiểm hơn như sốt rét, thủy đậu,
H5N1, H1N1, )
Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho biết trong năm 2000, trên thế giới có khoảng 154000
canh tác,mất việc làm, mất nơi cư trú, nguồn nước ngọt bị nhiễm bẩn và khan hiếm,
thời tiết, khí hậu khắc nghiệt và biến đổi thất thường, hạn hán, bão lũ, dịch bệnh … là
những nguyên nhân chủ yếu đe dọa cuộc sống của con người, dẫn đến tình trạng
người dân phải chuyển đến 1 nơi khác (trường hợp người dân đổ về thành thị của Việt
Nam rất phổ biến). Người ta gọi đó là di dân theo hiện tượng “Tị nạn môi trường”
VD: Cơn bão cát khổng lồ xảy ra khoảng thập niên 1930 tàn phá đồng cỏ miền Trung
nước Mỹ khiến hàng triệu chủ trại và nông dân mất hết tài sản, công việc, phải di cư
đến nơi khác.
Theo ước tính của Tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), do biến đổi khí hậu,
trái đất nóng lên, nước biển dâng cao, khoảng 20% dân số VN sẽ mất nhà ở, 12,2%
đất canh tác màu mỡ sẽ bị nhấn chìm, khoảng 40000 km
2
đồng bằng và 17 km
2
vùng
biển của đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập lụt nặng ( Nguồn Báo tiền phong 5-6-
2007)
3.4 Tác động của tài nguyên, môi trường đến chất lượng dân số
- Môi trường sống trong lành, sạch đẹp, không bị nhiễm bẩn là điều kiện rất quan
trọng để chất lượng dân số được nâng lên. Các yếu tố, các thành phần của môi trường
sinh thái bao quanh luôn tác động đến cuộc sống, sự phát triển của con người, chất
lượng dân số của mỗi quốc gia. Nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình
hoạt động tâm, sinh lý, trí tuệ, tinh thần, sức khỏe, tuổi thọ, giống nòi,… của chúng ta.
- Ảnh hưởng của tài nguyên môi trường đến chất lượng dân số có thể nhìn nhận ở 1 số
phương diện:
+ Tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt dẫn đến không đủ nguồn nguyên liệu cho
sản xuất, nhiều ngành không được mở rộng và phát triển được, tăng trưởng kinh tế
chậm lại, thu nhập binh quân đầu người tăng chậm hoặc không tăng, thậm chí giảm
dẫn đến chất lượng dân số ít được cải thiện.
+ Môi trường đất bị ô nhiễm, tài nguyên đất khai thác quá mức, đất bị bạc màu,
đó là chất lượng cuộc sống con người ngày càng
được nâng cao
2. Tác động qua lại giữa dân số, môi trường và phát triển bền vững
Dân số, môi trường và phát triển có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Tăng trưởng
kinh tế là điều kiện cần cho sự phát triển nhưng không đồng nghĩa với phát triển. Phát
triển chỉ dựa trên tăng trưởng đơn thuần thì sự tăng trưởng đó không lâu bền. Nhiều
bài học kinh nghiệm cho thấy, nếu sự phát triển không tương ứng hoặc chỉ đáp ứng
tăng nhu cầu cho dân số hiện tại nhưng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của dân
số tương lai, phát triển dựa vào khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, không dựa
trên cơ sở bảo vệ môi trường thì sự phát triển đó không thể là bền vững.
Tăng trưởng kinh tế là mục đích để phát triển con người, tạo điều kiện để nâng cao
đời sống con người, bảo vệ môi trường một cách tốt nhất. Bảo vệ môi trường kết hợp
bảo đảm hài hòa những mục tiêu khác của con người là cần thiết để đạt được sự phát
triển bền vững.
Dân số và môi trường là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Không thể có phát
triển bền vững nếu môi trường bị hủy hoại, suy thoái, chất lượng cuộc sống và sức
khỏe người dân bị sa sút. Sự phát triển bền vững phụ thuộc rất lớn vào công tác dân số
và bảo vệ môi trường. Nhiều khi, giá phải trả cho chi phí về môi trường nhiều hơn
những cái mà con người thu về từ thiên nhiên.
Như vậy, dân số - môi trường – phát triển tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín,
ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau. Khi các nhân tố này không tạo ra được sự phát triển
hợp lý thì vòng quay sẽ hỗn loạn gây tác động tiêu cực ngược trở lại và phá vỡ cấu
trúc làm tổn hại đến nhau. Thực tế cho thấy, cách thức phát triển của loài người trong
mấy chục năm qua đã tạo ra áp lực làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân
bằng sinh thái, làm tổn hại đến môi trường – cơ sở tồn tại của chính bản thân con
người. Trong khi loài người chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học thì cũng là lúc phải đối mặt
với nhiều thách thức từ môi trường; con người luôn bị đặt vào những tình huống
không lường trước được. Vì vậy cần có sự thay đổi để phát triển lâu bền.
Hiện nay thế giới đang phát triển thiếu bền vững, như công bố của bản Báo cáo phát
triển bền vững do Chương trình bảo vệ môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đưa ra
Năm Số dân
(triệu người)
Số dán tăng thêm sau 10
năm (triệu người)
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm
trong kỳ (%)
1921 15,5
1931 17,7 2,2 1,33
1941 20,9 3,2 1,66
1951 23,1 2,2 1,00
1955 25,1
1965 35,0 9,9 3,32
1975 47,6 12,6 3,07
1985 59,9 12,3 2,29
1995 72,0 12,1 1,96
2005 83,1 11,1 1,37
2. Tài nguyên, môi trường
a. Cạn kiệt tài nguyên
Số liệu thống kê cho thấy, ở Việt Nam sự suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất
lượng đất và sa mạc hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Xói mòn, rửa trôi, khô
hạn, sạt lở, phèn hóa, mặn hóa… đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng
50% trong số 33 ha triệu đất tự nhiên được coi là “có vấn đề suy thoái”.
Bảng 4: Sự suy giảm đất nông nghiệp bình quân đầu người tại Việt Nam
Năm Dân số
(triêu người )
Diện tích đất nông
nghiệp (triệu ha)
Bình quân đầu
người (ha/người )
1940
cho sinh hoạt và các ngành kinh tế tăng lên không ngừng trong khi đó tài nguyên nước
trong tự nhiên là có hạn chính vì thế lượng nước sẵn có theo đầu người có xu hướng
giảm dần theo thời gian.
Năm 1943 lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam là 16 641 mét khối/ người,
nếu dân số nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 mét khối / người, xấp
xỉ với những quốc gia hiếm nước. Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của Việt
Nam chỉ khoảng 3840 mét khối/người/năm, thấp hơn 160 mét khối so với quy định
của thế giới (trên 4000 mết khối/ người/năm)
Tài nguyên rừng ở nước ta cũng đang suy giảm nhanh chóng. Đầu thế kỷ 20 độ che
phủ đạt khoảng 50% sau đó suy giảm mạnh đến cuối những năm 80 chỉ còn gần 30%.
Năm 1943 ước tính có khoảng 14 triệu ha với tỉ lệ che phủ là 43% thì đến năm 1995
còn khoảng 8 triệu ha và tỉ lệ che pủ là 28%. Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mất
khoản 3 triệu ha rừng, bình quân mất 100 000 ha/năm. Quá trình mất rừng diễn ra
nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990, mất khoảng 2,8 triệu ha. Nguyên nhân chủ yếu do